LỜI CAM ĐOAN
Đề tài: “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh
lớp 3 ” được thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015 thì hoàn
thành. Để hoàn thành được đề tài ngoài sự nổ lực, cố gắng của bản thân, phải còn
nói đến sự tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của quý thầy, cô trong
Ban giám hiệu, khoa giáo dục Tiểu học, mà trực tiếp là . Đồng thời, tôi cũng xin
chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban giám hiệu, thầy cô , tỉnh
giúp cho tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài.
Lần đầu tiên được tiếp xúc với việc nghiên cứu đề tài nghiệp vụ sư phạm –
Phương pháp dạy học Tiếng Việt, bản thân tôi còn nhiều bỡ ngỡ, hạn chế về
phương pháp, năng lực, nội dung,….nên đề tài ít nhiều khó trách khỏi những
thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy, cô và các
bạn đồng nghiệp chia sẻ bổ sung ý kiến giúp cho đề tài hoàn thiện hơn để tài áp
dụng vào thực tế tại đơn vị đạt kết quả cao. Tôi xin cam đoan đề tài: “ Một số
biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ” là của riêng tôi
và xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1.Yêu cầu của xã hội:
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi có sự đổi mới về nội dung
phương pháp dạy học. Đòi hỏi người chủ nhân tương lai của Đất nước vừa giỏi
chuyên môn vừa phải có đạo đức, phẩm chất và nhân cách tốt. Như bất kì môn
học nào khác, ở môn Tiếng Việt cũng có sự điều chỉnh về nội dung, phương pháp
dạy học để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Tiếng Việt là một môn học rất quan trọng đối với bậc Tiểu học nói riêng, trong
giản, cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính
tả. Trên cơ sở đó rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ: Nghe, nói, đọc, viết, nhằm
giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghỉ và trong giao tiếp.
Dạy học tiếng Việt nhằm phát triển các năng lực trí tuệ và phát huy tính tích
cực hoạt động của học sinh. Thông qua môn Tiếng Việt dạy cho học sinh những
thao tác tư duy cơ bản, dạy cách học tập và rèn luyện những thói quen cần có ở
Tiểu học.
Môn Tiếng Việt cần gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn
ngữ từ Tiếng Việt và hiểu được phần nào cuộc sống xung quanh. Môn Tiếng Việt
bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính, lành mạnh như: tình cảm gia
đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước, con người, đồng thời
hình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp của người công dân.
Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới đưa ra mục tiêu giao tiếp bằng tiếng Việt
hình thành kỹ năng nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên. Những kiến thức về
tiếng Việt cùng với các kiến thức về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn
học cũng được cung cấp cho học sinh một cách sơ giản. Trong chương trình mới,
hoạt động giao tiếp là mục đích số một, vừa là phương tiện của dạy học Tiếng
Việt. Chú trọng hơn đến kỹ năng sử dụng tiếng Việt, Chương trình tiểu học mới (
ban hành theo Quyết định ngày 09/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) xác
định mục tiêu như sau:
Môn Tiếng Việt ở tiểu học nhằm:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt ( nghe,
nói, đọc, viết ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các tao tác tư
duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu
biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam ra
nước ngoài.
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
sinh còn mắc rất nhiều lỗi chính tả, nhất là trường hợp những cặp phụ âm đầu dễ
lẫn lộn như: l/n; s/x; ch/tr; r/d/gi…, phổ biến nhất là hai âm l/n các vần khó như:
ưu; iu, ươu; uơ; uê; êu;… sai về âm cuối như: i/y; ch/nh; về thanh điệu đó là
những thanh khó phân biệt như thanh (?); (~), các em viết còn sai rất nhiều…
Bởi vậy việc tìm hiểu, khảo sát các lỗi viết sai chính tả của học sinh để từ đó có
những biện pháp, phương hướng khắc phục các lỗi sai cho học sinh. Đó là một
việc làm có ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt nói
chung và việc dạy học chính tả cho học sinh lớp 3 nói riêng, đặc biệt tìm ra
những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 là vấn đề rất
cần thiết. Quá trình dạy chính tả cho học sinh không chỉ sử dụng một phương
pháp mà phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp một cách hợp lí nhằm đạt tới
hiệu quả dạy học cao. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn và nghiên cứu đề
tài: “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ”.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhìn vào thực trạng dạy chính tả hiện nay cho thấy: Để nâng cao chất lượng
dạy chính tả còn là một việc làm rất hạn chế. Việc rèn luyện kĩ năng viết chưa
được chú ý đúng mức nên học sinh còn viết sai rất nhiều lỗi và chữ viết còn chưa
được đẹp. Qua khảo sát điều tra thực tiễn tôi đã thu thập được một số vấn đề lưu
ý sau:
2.1. Về chương trình: ở bậc Tiểu học, chương trình của môn chính tả có nhiều
dạng từ đơn giản đến phức tạp theo lứa tuổi của học sinh. Đồng thời chương
trình chính tả ở các lớp cũng có tính đồng tâm. Càng lên lớp trên càng được mở
rộng, nâng cao dần và phức tạp hơn. Ở lớp 3 phân môn chính tả một tuần có hai
tiết với ba hình thức chính tả là: Chính tả Tập chép, chính tả Nghe - viết, Chính
tả Nhớ - viết. Với yêu cầu chữ viết đều nét, rõ ràng, sạch sẽ, không mắc lỗi thông
thường, tốc độ viết 70 chữ trong 15 phút. Bài viết dài khoảng 60 chữ. Các yêu
4
cầu và nội dung hình thức của chương trình lớp 3 đòi hỏi học sinh cao hơn hẳn
dạy chính tả cho học sinh, mà còn giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng nghe,
nói, đọc, viết, rèn luyện tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, đức tính cần cù, sáng tạo,
nâng cao việc học tập các môn học khác có liên quan… đồng thời giúp cho các
em thêm yêu quý tiếng Việt, góp phần bảo tồn, giữ gìn sự trong sáng của tiếng
nói, chữ viết của dân tộc.
4. Bố cục của đề tài:
CHƯƠNG I
Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lý luận:
1.1.1. Cơ sở khoa học của việc dạy chính tả:
5
Để việc giảng dạy chính tả cho học sinh lớp 3 đạt được mục tiêu người giáo
viên cần phải căn cứ vào các cơ sở sau:
a) Cơ sở ngôn ngữ, văn học của việc dạy chính tả:
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập – âm tiết tính. Trong hệ
thống các đơn vị âm ngữ tiếng Việt, âm tiết có vị trí đặc biệt quan trọng. Âm tiết
biểu hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất những đặc điểm của tiếng Việt về mặc ngữ
âm. Đồng thời, âm tiết là đơn vị cơ bản trên bình diện biểu hiện của hệ thống các
đơn vị ngữ pháp và hệ thống các đơn vị từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt.
Âm tiết tiếng Việt có thể trực tiếp mang nghĩa và có kích thước giới hạn trùng
với kích thước giới hạn của các đơn vị từ vựng và ngữ pháp: hình vị, từ, câu,..
Cấu trúc âm tiết tiếng Việt chặt chẽ thường bao gồm các thành phần âm vị có vị
trí cố định kết hợp theo một trật tự không thay đổi. Trên chữ viết, mỗi âm tiết
tiếng Việt được ghi thành một khối, tách rời với âm tiết đứng trước và đứng sau
bằng khoảng cách gián đoạn, cho dù âm tiết đó có thể chỉ là một thành tố của cấu
trúc hình vị hay từ. Cấu trúc chữ - âm tiết có sự tương ứng với từng phần trong
cấu trúc âm tiết. Nếu cấu trúc âm tiết bao gồm 5 thành phần: âm đầu, âm đệm,
một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả: Ví dụ: Nếu giáo viên
đọc một từ có hình thức ngữ âm là “Za” thì học sinh có thể lúng túng trong việc
xác định hình thức chữ viết của từ này. Nhưng nếu đọc là “gia đình” hoặc “da
thịt” hay “ ra vào ” (đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định) thì học
sinh dễ dàng viết đúng chính tả. Vì vậy, có thể hiểu rằng chính tả Tiếng Việt còn
là loại chính tả ngữ nghĩa. Đây là một đặc trưng quan trọng về phương tiện ngôn
ngữ của chính tả Tiếng Việt.
b) Cơ sở tâm lý học của việc dạy chính tả:
Chính tả tiếng Việt thuộc loại chính tả ngữ âm. Viết chính tả tiếng Việt chủ
yếu là ghi âm tiết, thể hiện các thành phần âm vị trong cấu trúc âm tiết thành chữ
- âm tiết. Các chữ cái biểu tượng âm thanh, nói đúng hơn là biểu tưởng thính
giác âm thanh, được tiếp nhận qua thính giác lời nói. Bên cạnh biểu tượng thính
giác âm thanh, viết đúng chính tả còn là sự tái tạo các mẫu chữ, là kỹ năng ghi
nhớ các biểu tượng thị giác về chữ - âm tiết và cách viết âm tiết. Biểu tượng thị
giác về dạng thức viết có quan hệ với nhau. Mối liên hệ chữ - nghĩa được phản
ánh trong qua trình tiếp nhận, ghi nhớ và thể hiện bằng chữ viết. Như vậy, lí luận
tâm lí học hiện đại đề cao vai trò của ý thức, phát huy tính tích cực tự động hóa
trong việc hình thành kỹ năng chính tả ( theo D.N Bôgôiavlenxki, Các nguyên
tắc tâm lí của việc dạy chính tả, người dịch Lê A). Xuất phát từ cơ sở tâm lí học,
trong dạy học chính tả cần sử dụng phương pháp thích hợp có tác dụng khiêu gợi
và kích thích sự chú ý, tích cực hóa hoạt động tư duy của học sinh, làm cho học
sinh nhận thức được đầy đủ ý nghĩa thực tiễn của chính tả trong hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ viết. Những yêu cầu của kỹ năng chính tả được học sinh tiếp
nhận và tự giác rèn luyện để ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn.
1.1.2. Phương pháp, nguyên tắc dạy học của việc dạy chính tả:
a) Nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực:
Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung dạy chính tả phải sát với phương ngữ, nghĩa
là xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở từng khu vực,
từng Miền để hình thành nội dung giảng dạy. Có xác định được những trọng
điểm chính tả cần dạy cho từng khu vực, từng địa phương thì mới tối ưu hóa việc
công sức. Đó là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao. Đối với học sinh Tiểu
học, cần vận dụng cả hai cách có ý thức và không có ý thức. Trong đó: Cách
không có ý thức chủ yếu được sử dụng ở các lớp đầu cấp. Cách có ý thức cần
được sử dụng thích hợp ở các lớp cuối cấp của bậc Tiểu học.
1.2.Cở sở thực tiễn:
1.2.1. Nội dung dạy học chính tả:
Ở chương trình Tiểu học nội dung dạy học chính tả được phân bố như sau:
a) Phân bố chương trình dạy chính tả:
Chương trình sách giáo khoa ở Tiểu học gồm hai quyển sách giáo khoa Tiếng
Việt 3 ( Tập 1, Tập 2) được phân bố ở 35 tuần học, có 04 tuần giành cho ôn tập
( tuần 9: ôn tập giữa học kỳ I, tuần 18: ôn tập cuối học kỳ I, tuần 27: ôn tập giữa
học kỳ II, tuần 35: ôn tập cuối học kỳ II), được bố trí xen kẽ với các phần Tập
đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn theo từng tuần. Trong đó phân môn chính tả
được phân bố 02 tiết / tuần / năm học ( 31 tuần x 2 tiết = 62 tiết, có 04 tiết chính
tả tập chép, mỗi tuần xen kẻ 01 tiết chính tả tập chép ở tuần 1, 3, 5, 7, có 06 tiết
chính tả nhớ viết, mỗi tuần xen kẻ 01 tiết chính tả nhớ viết ở tuần 8, 16, 21, 28,
30, 31 và 50 tiết chính tả nghe viết. Nội dung chương trình sách giáo khoa mới
đã thể hiện khá đầy đủ các nội dung chính tả tiếng Việt. Đó là việc giải quyết các
vấn đề cụ thể:
- Trước hết, phải “ chính tả” hình nét các chữ. Mỗi chữ ( gọi là chữ cái, con chữ,
tương đương với một âm vị, chữ, tương đương với âm tiết ) được thể hiện bằng
hình nét thành dạng chữ, kiểu chữ.
- Trong trường hợp giữa âm và chữ có sự tương ứng 1 - 1 thì chính tả phải đảm
bảo sự tương ứng đó, nghĩa là biểu hiện một âm bằng một chữ cái tương ứng.
8
- Thực hiện các quy tắc viết hoa cho tất cả các trường hợp viết hoa của chữ viết
tiếng Việt hiện đại, các quy tắc phiên âm, dùng dấu câu,…
thường gồm nhiều bài tập nhỏ đồng dạng. Tùy theo từng đối tượng học sinh cụ
thể, giáo viên có thể lượt bớt 1 hoặc 2 bài tập nhỏ đồng dạng hoặc giao cho mỗi
nhóm học sinh làm một bài rồi chữa chung để tất cả học sinh đều nắm được cách
viết. Bài tập khắc phục lỗi chính tả do ảnh hưởng tiêu cực của phát âm địa
phương là kiểu bài tập lựa chọn. Giáo viên cần tiến hành điều tra co bản, khảo
sát tình hình mắc lỗi chính tả của học sinh địa phương mình để xác định được
các trọng điểm chính tả.
Ví dụ: Bài tập 3b) - TV3, Tập 1, trang 132
Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong các câu sau:
- (bão, bảo) : Mọi người ….. nhau dọn dẹp đường làng sau cơn …..
9
- (vẽ, vẻ) : Em ….. mấy bạn …..mặt tươi vui đang trò chuyện.
- (sữa, sửa): Mẹ em cho em bé uống ….. rồi …..soạn đi làm.
1.2.2. Hoạt động dạy học chính tả:
Đặc điểm tình hình chung của trường, lớp khi thực hiện đề tài: “ Một số biện
pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ” đạt kết quả bản thân
tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn như sau:
a) Thuận lợi:
- Sĩ số học sinh không quá đông, thuận lợi cho việc kiểm tra (chấm bài viết chính
tả thường xuyên, phát hiện lỗi sai kịp thời để học sinh sữa chữa và khắc phục
viết đúng).
- Học sinh có đầy đủ vở chính tả và vở bài tập Tiếng Việt (ghi đầy đủ nội dung
bài tập chính tả).
- Giáo viên có kế hoạch rèn học sinh viết đúng chính tả ngay từ tuần đầu năm
học (thống kê phân loại học sinh học yếu chính tả để theo dõi thường xuyên vào
những giờ chính tả).
b) Khó khăn:
- Tình hình thực tế học sinh lớp ba ở đây vốn từ các em còn hạn chế. Các em chỉ
Tỷ
lệ
6
21,4 %
4
14,2 %
Trung bình
Số
Tỷ
lượng
lệ
Yếu
Số
lượng
Tỷ
lệ
13
46,4 %
28
- Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ g/ gh: đua ge, gi bài
+ ng/ ngh: ngỉ nghơi.
+ c/ k: céo cờ, cẹp tóc
+ s/ x : sẻ gỗ, chim xẻ.
+ d/ gi: dữ gìn, da vị .
Qua thực tế giảng dạy trong nhiều năm tôi nhận thấy lỗi về s/ x ; g/gh; ng/ngh;
d/gi là phổ biến hơn cả.
c) Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ ai/ay/ây: máy bây (máy bay).
+ ao/au/âu: lâu bàn ghế (lau bàn ghế).
+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe).
+ iu/êu/ iêu: kì dịu (kì diệu).
+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm).
+ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ).
+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp).
+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng).
+ ưi/ ươi: trái bửi (trái bưởi); khung cưỡi (khung cửi).
+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu).
d) Về âm cuối:
11
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac: đất các (đất cát).
+ an/ang: cái bàng (cái bàn).
+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo).
+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng).
+ ât/âc: gậc đầu (gật đầu).
chọn đề tài:“ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh
lớp 3 ” đề tìm ra nhiều biện pháp giúp đỡ cho học sinh khắc phục lỗi chính tả.
Sau đây tôi xin đề xuất một số biện pháp dạy học chính tả cho học sinh lớp ba
được thể hiện ở chương 2 của đề tài.
CHƯƠNG II
Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho
12
học sinh lớp 3 trường , huyên Duyên Hải
2.1. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh:
Trước tình hình học sinh lớp viết còn sai nhiều lỗi chính tả, tôi đã áp dụng một
số biện pháp khắc phục như sau:
2.1.1. Biện pháp luyện phát âm:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát âm
cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối
vì chữ Quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau.
Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở địa phương,
sinh ra và lớn lên trong môi trường phát âm như vậy nên các em cũng có thói quen
phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai chính tả.
* Ví dụ: ăn cơm - en cơm; hoa sen - hoa xen; cái vung - cái dung; cái kéo - cái
kếu; đồng bào - đồng bồ,… Giáo viên phải phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới
có thể giúp học sinh viết đúng chính tả.
2.1.2. Biện pháp phân tích so sánh:
Ngoài cách luyện phát âm cho học sinh của giáo viên, khâu phân tích so sánh
tiếng, từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả: với những tiếng khó, giáo
viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh. Với những tiếng dễ lẫn
lộn, giáo viên cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ.
* Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – TV3 -Tập 1, trang 6
Cho học sinh nhìn bảng viết đoạn 3: từ “Hôm sau …đến xẻ thịt chim”.Trước khi
nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng.
* Dạy Chính tả (Tập chép): Chị em - (TV3 – Tập1, trang 27)
Học sinh viết: Để chị trải chiếu, buông màn cho em.
Học sinh đọc “buôn màn” nhưng viết “buông màn”, do đó học sinh cần hiểu
“buông” có nghĩa là thả màn xuống, còn “buôn” là buôn bán, vì vậy phải viết là
“buông màn”.
* Dạy Chính tả (Nghe – viết): Người mẹ (TV3 – Tập 1, trang 30)
Nội dung viết: Nhờ Thần Đêm Tối chỉ đường, bà vượt qua bao nhiêu khó khăn,
hi sinh cả đôi mắt của mình để giành lại đứa con đã mất.
Học sinh đọc “dành” nhưng viết “giành”. Giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa:
giành là tranh giành, giành phần hơn về mình còn dành là để dành (dành dụm, dỗ
dành).
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu,
Tập làm văn, nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả khi mà học
sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng. Có
nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh. Giáo viên chú giải từ mới ở phân môn
Tập đọc kết hợp đặt câu. Nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa
từ; tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình,
tranh ảnh,… Với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong từng hoàn
cảnh cụ thể để giải nghĩa từ cho học sinh hiểu và nắm.
2.1.4. Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả:
Ngay từ lớp Một, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như các
âm đầu : k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm g chỉ kết hợp với : a, ă, â, o, ô,
ơ, u, ư. Giáo viên còn có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác
như sau:
a) Phân biệt âm đầu s/x : Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu
bằng s (sắn, sung, sầu riêng, sứ, sả, sim, sậy, …; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói, sư tử,
…).
b) Phân biệt âm đầu tr/ch : Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều
bắt đầu bằng ch (chổi, chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó, chuột,
Ngoại lệ: quỹ đạo, thủ quỹ, xã hội, kĩ thuật, mĩ thuật,…
2.1.5. Biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập:
Các dạng bài tập chính tả thường gặp ở lớp ba trong HKI là các dạng bài: Bài
tập điền vào chỗ trống (Bài tập điền khuyết); Bài tập tìm từ; Bài tập tìm tiếng; Bài
tập giải câu đố; Bài tập lựa chọn. Sang HKII có thêm dạng Bài tập đặt câu (Bài tập
phân biệt hai từ trong từng cặp từ).
Mỗi bài viết chính tả giáo viên cần luyện học sinh phát âm từ khó, phân tích so
sánh tiếng, từ khó, giải nghĩa từ, ghi nhớ mẹo luật chính tả. Ngoài nhiệm vụ trên
giáo viên còn hướng dẫn học sinh làm các bài tập khác nhau để giúp học sinh tập
tận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể.
Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để ghi nhớ.
a) Bài tập điền vào chỗ trống: Với dạng bài tập này thường giúp học sinh điền
đúng âm đầu, vần vào chỗ chấm:
* Ví dụ: Bài tập 2 a) – TV3, Tập 1, trang 22
Điền vào chỗ trống tr hay ch ?
- Cuộn …òn, …ân thật, chậm …ễ
* Bài tập 3a) –TV3, Tập 1, tr.48
Điền vào chỗ trống s hay x ?
Giàu đôi con mắt, đôi tay
Tay ……iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm
Hai con mắt mở, ta nhìn
15
Cho sâu, cho ……áng mà tin cuộc đời.
Xuân Diệu
* Dạy Chính tả (Nghe – viết) : Ông ngoại (đoạn 3) - TV3, Tập 1, trang 35
Nội dung viết: Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da loang lổ
của chiếc trống trường.
Một số học sinh viết sai lỗi “da” viết là “gia”, cũng có em viết là “ra”. Tôi phân
Tìm các từ chứa tiếng có vần ân hoặc âng có nghĩa như sau:
- Cơ thể của người: …..
- Cùng nghĩa với nghe lời: …..
- Dụng cụ đo trọng lượng (sức nặng) : …..
c) Bài tập tìm tiếng :
* Bài tập 2b) - TV3,Tập 1, trang 18
16
Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:
- gắn, gắng
- nặn, nặng
- khăn, khăng
Giúp học sinh ghép đúng:
- gắn: gắn bó, hàn gắn, gắn kết,…
- gắng: cố gắng, gắng sức, gắng lên,…
- nặn: nặn tượng, nặn óc nghĩ, nhào nặn,….
- nặng: nặng nhọc, nặng nề, nặng cân,…
- khăn: khăn tay, khăn quàng, cái khăn,…
- khăng: khăng khăng, khăng khít,…
d) Bài tập giải câu đố:
* Bài tập 2b) - TV3, Tập 1, trang 22
Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ? Giải câu đố sau:
Vừa dài mà lại vừa vuông
Giúp nhau ke chỉ, vạch đường thăng băng
(Là cái gì?)
Ngoài ra giáo viên phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại bỏ cái
sai. Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, hướng dẫn học
sinh thực hành, luyện tập nhằm hình thành kĩ xảo chính tả, cần đưa ra những
trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó hướng học
c - nghỉ phép
d - im lặn
e - lặn lội
g - vắng lặn
h - muối cam
i - hạt múi
k - sương muối
Đáp án: khoanh vào c, e, k
● Bài tập điền Đúng – Sai :
Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô trống
trước những chữ viết sai chính tả:
a chim xẻ
mổ xẻ
Đáp án: S chim xẻ
Đ mổ xẻ
dìu dắt
dìu biếc
mải miết
mãi mãi
Đ dìu dắt
S dìu biếc
Đ mải miết
Đ mãi mãi
● Bài tập nối tiếng :
Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính
tả:
Cột A
Cột B
Không những giúp học sinh viết đúng chính tả ở các giờ học chính tả mà
chúng ta còn giúp học sinh viết đúng chính tả trong các môn học khác như: Tập
làm văn, Luyện từ và câu, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Toán, Thủ công,… Đối
với các môn học ghi bài vào vở, học sinh thường ghi đề sai, giáo viên thường
xuyên theo dõi vở học hằng ngày để phát hiện lỗi sai và sửa chữa kịp thời.
* Ví dụ: + Đạo đức: Tự làm lấy việc của mình
18
Học sinh lại viết: Tự làm lấy việt của mình
+ Tự nhiên và xã hội: Hoạt động nông nghiệp
Có học sinh viết: Hoạt động nông ngiệp
+ Dạy Thủ công: Gấp, cắt, dán bông hoa
Học sinh lại viết: Gấp, cắt, dáng bông hoa
+ Dạy Toán : Khi giải bài toán học sinh thường viết sai tên đơn vị như:
“tuổi” lại viết “tủi”, “mét” lại viết “mết". Giáo viên cần sửa chữa kịp thời để các
em không mắc lại lần nữa
Giáo viên còn sửa chữa lỗi sai trong vở bài tập Luyện từ và câu và nhất là phân
môn Tập làm văn, giáo viên cần chú ý hơn vì nếu các em viết văn sai âm, vần,
thanh thì nghĩa sẽ khác đi, bài văn đó sẽ không hoàn hảo và người đọc sẽ không
hiểu ý bài văn viết gì.
Giáo viên cần khuyến khích học sinh không sai lỗi trong vở học sẽ được khen
thưởng bằng những phần thưởng nhỏ như: cục tẩy, nhãn tên, viên phấn,…Với
những em vở được xếp loại A cuối mỗi tháng, giáo viên tuyên dương trước lớp
để cả lớp nêu gương.
2.2. Thiết kế Kế hoạch bài học minh họa dạy học chính tả:
KẾ HOẠCH BÀI DẠY
TUẦN 6
TIẾT 12
- Giáo viên nhận xét, tuyên dương.
3/ Bài mới:
3.1. Giới thiệu bài và nêu mục tiêu, yêu cầu của
tiết học.
3.2. Hướng dẫn nghe - viết:
* Phương pháp: Luyện phát âm, phân tích so
sánh, giải nghĩa từ:
- Giáo viên đọc mẫu 01 lần đoạn văn viết chính tả
trong bài Nhớ lại buổi đầu đi học.
- Giáo viên gọi một, hai học sinh đọc lại đoạn viết
chính tả.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét và nêu
câu hỏi tìm hiểu đoạn văn viết chính tả:
+ Tâm trạng của đám học trò mới như thế nào?
+ Hình ảnh nào cho em thấy điều đó ?
+ Đoạn văn có mấy câu ?
+ Trong đoạn văn chữ nào viết hoa ?
- Giáo viên cho học sinh luyện viết từ khó:
+ Giáo viên đọc HS viết bảng con: bỡ ngỡ, quãng
trời, ngập ngừng, rụt rè. (Hướng dẫn phân tích
cho học sinh lỗi phổ biến dễ sai )
- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu những lưu ý khi
viết chính tả.
- Giáo viên đọc HS viết đoạn chính tả vào vở.
+ Giáo viên đọc thông thả từng câu, cụm từ.
+ Giáo viên theo dõi, uốn nắn, giúp đỡ học sinh.
- Giáo viên đọc lại đoạn chính tả cho học sinh dò
lại bài.
- Giáo viên chấm sửa bài:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh tự chữa lỗi bằng viết
* Hình thức: Tổ chức cho sinh làm cá nhân,
nhóm.
* Phương pháp: Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật
chính tả, Biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả
qua các bài tập:
- Bài tập 2:
- 1HS đọc yêu cầu bài tập.
+ Giáo viên yêu cầu học sinh đọc yêu cầu bài tập 2 - HS làm vào vở bài tập – 04 HS lên
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh làm cá nhân.
bảng làm bài tập.
- Học sinh nhận xét và đọc lại lời
+ Giáo viên nhận xét, chốt lại lời giải đúng và giải, ghi vào vở bài tập.
tuyên dương.
- nhà nghèo; đường ngoằn ngoèo;
cười ngặt nghẽo; ngoẹo đầu.
- Bài tập 3. b):
-1HS đọc bài tập.
+ Giáo viên yêu cầu học sinh đọc yêu cầu bài tập
3.b)
- Các nhóm tự làm bài .
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh làm nhóm.
- Đại diện các nhóm lên bảng trình
bài kết quả thảo luận.
+ Giáo viên nhận xét, chốt lại lời giải đúng và - Học sinh nhận xét và đọc lại lời
tuyên dương.
giải, ghi vào vở bài tập.
- Lời giải : mướn, thưởng, nướng.
4/ Củng cố - dặn dò:
- Học sinh lắng nghe.
rèn luyện cả bốn kỹ năng: Nghe – nói – đọc – viết cho học sinh.
+ Nhận thức và xác định thật nghiêm túc vai trò, vị trí, nhiệm vụ của việc dạy
chính tả cho học sinh ở trường Tiểu học, góp phần bảo tồn và giữ gìn trong sáng
của tiếng Việt.
+ Phải nắm vững các phương pháp dạy chính tả ở trường Tiểu học, đồng thời
tuân thủ các bước có tính nguyên tắc khi rèn các khâu của quá trình rèn luyện
chính tả như: Chú trọng phát âm theo phương ngữ kết hợp chính tả có ý thức và
chính tả không có ý thức.
+ Cần phát triển các năng lực tư duy cho học sinh, chống áp đặt máy móc.
+ Giáo viên cần trang bị kiến thức về âm vị học, từ vựng học… và cả ngữ pháp,
văn bản, đặc biệt là những kiến thức hỗ trợ cho việc dạy học chính tả ở trường
Tiểu học.
1.2. Tìm hiểu chương trình Sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt ( Tập
1, 2 ) lớp 3:
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài người giáo viên phải nắm chặt chẽ
cấu trúc, nội dung, chương trình của Sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt
( Tập 1,2 ) lớp 3, vở bài tập Tiếng Việt ( Tập 1,2 ) lớp 3 và sách tham khảo làm
tài liệu để làm căn cứ cho giảng dạy và áp dụng những kiến thức để thực hiện đề
tài nghiên cứu.
1.3. Khảo sát thực tiễn dạy học chính tả cho học sinh lớp 3 tại đơn vị:
Để có cơ sở và căn cứ để bản thân thực hiện đề tài: :“ Một số biện pháp nâng
cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ”. Tôi đã không ngừng học hỏi
kinh nghiệm dạy học chính tả ở đồng nghiệp, ở những giáo viên có nhiều kinh
nghiệm trong công tác tại đơn vị mà còn ở một số đơn vị trường trong huyện
Duyên Hải, tham khảo tài liệu, thực tế giảng dạy chính tả của bản thân. Từ đó,
bản thân rút ra kinh nghiệm thực tế để áp dụng thành công của đề tài.
1.4. Đề tài: :“ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh
lớp 3 ” đã đề xuất một số biện pháp như sau:
- Biện pháp luyện phát âm.
- Biện pháp phân tích so sánh.