Quy hoạch chuyển hóa rừng trồng sa mộc (cunninghamia lanceolata hook) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại huyện bắc hà tỉnh lào cai - Pdf 44

Bộ Giáo dục và Đào tạo

bộ nông nghiệp và ptnt

Tr-ờng đại học lâm nghiệp

-----------------------------

nguyễn đức ngọc

Quy hoạch chuyển hoá rừng trồng sa mộc
(Cunninghamia lanceolata.Hook ) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng
cung cấp gỗ lớn tại huyện bắc hà tỉnh lào cai

luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

Hà Tây - 2007


Bộ Giáo dục và Đào tạo

bộ nông nghiệp và ptnt

Tr-ờng đại học lâm nghiệp

.........................................

nguyễn đức ngọc

Quy hoạch chuyển hoá rừng trồng sa mộc
(Cunninghamia lanceolata.Hook ) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng

dựng vùng cung cấp nguyên liệu cây gỗ lớn lâu dài là hết sức cần thiết và
có ý nghĩa to lớn. Có như vậy mới đảm bảo được nhu cầu cung cấp gỗ lớn
cho thị trường với yêu cầu ngày càng cao, song nếu trồng mới từ bây giờ
thì phải sau 20 - 25 năm mới có thể cho khai thác gỗ lớn [10].
Việt Nam là nước có nhiều diện tích rừng cây gỗ lớn được trồng với
mật độ khá dày để cung cấp gỗ nhỏ, nếu thực hiện chuyển hoá các loại rừng
này thành rừng cung cấp gỗ lớn thông qua các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thì
chỉ sau từ 5 - 10 năm sẽ có nguồn cung cấp gỗ lớn đáng kể không những có
thể làm tăng sản lượng gỗ đáp ứng nhu cầu gỗ công nghiệp ngày càng tăng,
giảm được chi phí ban đầu mà còn hạn chế được sự thoái hoá đất, làm tăng
khả năng hấp thụ khí CO trong không khí, hạn chế xói mòn đất và bảo vệ
môi trường. Bên cạnh đó việc chuyển hoá rừng có thể thực hiện được vì các
lý do sau:
-Về cơ sở pháp lý


2

+ Chỉ thị 19/CP của Thủ tướng chính phủ về tăng cường trồng
rừng gỗ lớn để cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp.
+ Cục Lâm nghiệp đề xuất Qui chế xây dựng rừng nguyên liệu
kinh doanh gỗ lớn [5].
- Về lý luận
+ Cơ sở khoa học về điều tra rừng và kỹ thuật lâm sinh là hai môn
khoa học cơ sở chủ yếu phục vụ cho chuyển hoá rừng đã có bề dày phát
triển ở Việt nam.
+ Khoa học gỗ, chế biến gỗ và phân tích thị trường lâm sản ở nước
ta đã có tầm phát triển ngang với khu vực và trong một số lĩnh vực đã
ngang tầm thế giới.
- Về thực tiễn

4

Chng I. TNG QUAN VN NGHIấN CU
1.1. Mt s nhn thc chung v loi cõy Sa mc
Sa mc cú tờn khoa hc l Cunninghamia lanceolata.Hook, thuc h
Bt mc (Taxodiaceae) phõn b t nhiờn min trung v min nam Trung
Quc. Sa mc l loi cõy g ln cao n hn 30m ng kớnh cú th lờn n
200cm, thõn trũn thng, v mu nõu xỏm nt dc, Sa mc thớch nghi vi ỏnh
sỏng tỏn x. Thớch nghi vi ni khut giú nhiu sng mự, l loi cõy a sỏng,
a t pha cỏt, ti xp nhiu mựn, hi chua ( pH: 4,5 - 6,5).
Trong khu vực phân bố của Sa mộc: l-ợng m-a hàng năm trên
1500mm, độ ẩm t-ơng đối hàng tháng trên 80%, có mùa khô trên 3 tháng,
nhiệt độ trung bình là 15-230C, nhiệt độ trung bình tháng lớn nhất là 20 260C, v-ợt qua giới hạn này Sa mộc phát triển kém, thậm chí không tồn tại
đ-ợc, nhiệt độ trung bình tháng nhỏ nhất 0 - 150C, nhiệt độ thấp nhất là -170C,
thích hợp nơi khuất gió và nhiều s-ơng mù.
Độ cao của khu vực phân bố: với ph-ơng pháp đối chiếu sinh khí hậu,
GS Lâm Công Định (1992) đã quy định vùng sinh thái cho loài Sa mộc nh- sau:
1. Khu vực hoàn toàn thuận lợi: từ vùng cao Hà Giang đến Sa Pa.
2. Khu vực có thuận lợi trong nhiều mặt: Sìn Hồ - Tam Đảo.
3. Khu vực có thuận lợi trong những mặt chủ yếu: Pha Đin - Mù Căng
Chải - Đà Lạt.
4. Khu vực đã bị khống chế: Mộc Châu - Tuần Giáo - Than Uyên Chợ Đồn, Cao Bằng, Lạng Sơn - Thất Khê - Đình Lập - Bắc Sơn.
Theo tác giả thì phía Bắc cao tuyt i từ 1000m, phía Nam 1500m
trở lên là phù hợp nhất với Sa mộc. Riêng phía Bắc cao tuyt i từ 1000m
trở xuống là bất lợi, nhỏ hơn 200m là hoàn toàn bất lợi. Lâm phần Sa mộc từ 5 6 tuổi bắt đầu khép tán và ra hoa, quần thụ Sa mộc có thể sống đ-ợc trên đất
dốc, thích hợp với những nơi râm mát nh- khe núi. Sa mộc có khả năng tái sinh
chồi tốt, vì vậy có thể lợi dụng kinh doanh rừng chồi.


5

phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich, phương pháp này khác với


6

phương pháp trên về căn bản, phương pháp của Judeich cho rằng những lâm
phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất mới được đưa vào khai thác.
1.2.2. Chuyển hoá rừng
Các nhà lâm nghiệp Mỹ (1925) cho rằng chuyển hoá rừng là quá
trình áp dụng các nguyên tắc kỹ thuật lâm sinh và phương pháp kinh
doanh để đạt được mục đích kinh doanh.
Sự phát triển của chuyển hoá rừng gắn liền với sự phát triển của
lâm nghiệp. Hiện nay có nhiều chương trình quốc gia và quốc tế về
chuyển hoá rừng như Chuyển hoá rừng thuần loài thành rừng hỗn loài,
chuyển hoá rừng giống vườn giống... đang được thực hiện.
1.2.3. Các yếu tố kỹ thuật làm cơ sở cho xây dựng phương pháp chuyển hoá rừng
1.2.3.1. Sinh trưởng, tăng trưởng rừng
Theo V.Bertalanfly (Wenk, G.1990) Sinh trưởng là sự tăng lên của
một đại lượng nào đó nhờ kết quả của đồng hoá của một vật sống. Như vậy
sinh trưởng gắn với thời gian vì thế thường được gọi là quá trình sinh trưởng.
Từ thế kỷ XVIII có nhiều nghiên cứu về sinh trưởng và tăng trưởng của
các loài cây gỗ. Nhưng nó thật sự phát triển mạnh mẽ sau đại chiến thế giới lần
thứ nhất. Có một số tác giả tiêu biểu như: Tuorsky (1925), Tovstonev (1938),
Tiorin (1936-1938), Chapmen và Mayer (1949), Assman (1954,1961,1970),
Grossman (1961,1964)… nhìn chung các nghiên cứu về sinh trưởng cây rừng và
lâm phần, phần lớn đều được xây dựng thành các mô hình toán học chặt chẽ và
đã được công bố trong các công trình của Mayer, H.A, và Stevenson, D.D (1943),
Schumacher, FX và Coile, T.X (1960), Clutter, J.L, Alder (1980).
1.2.3.2. Cấp đất
Trên thế giới, trải qua một thời gian dài hình thành và phát triển, cấp

(1990) đã đề nghị xác định mật độ tối ưu dựa trên cơ sở tăng trưởng lâm phần.
Alder (1980) đã dựa vào mối quan hệ giữa tiết diện với h 0 và N,
Abdalla (1985) đã dựa vào mối quan hệ giữa hg và h 0 để dự đoán tổng tiết
diện ngang lâm phần ở các thời điểm cần thiết.
1.2.3.5. Chặt nuôi dưỡng
Chặt nuôi dưỡng hay còn được gọi là “chặt trung gian nuôi dưỡng”.
Các nhà lâm học Trung quốc cho rằng: Trong khi rừng chưa thành thục, để
tạo điều kiện cho cây còn lại sinh trưởng và phát triển tốt, cần phải chặt bớt


8

một phần cây gỗ. Do thông qua chặt bớt một phần cây gỗ mà thu được một
phần lợi nhuận, chặt chăm sóc trước khi chặt chính thu được một số lượng gỗ,
nên được gọi là “chặt lợi dụng trung gian” gọi tắt là “chặt trung gian”.
Mục đích của chặt nuôi dưỡng đối với rừng trồng thuần loại là: Cải
thiện điều kiện sinh trưởng của cây rừng; Xúc tiến sinh trưởng cây rừng, rút
ngắn chu kỳ chăm sóc cây rừng. Loại bỏ được cây gỗ xấu, nâng cao chất
lượng của lâm phần. Theo quy trình chặt nuôi dưỡng rừng của Trung Quốc
năm 1957, chặt nuôi dưỡng chia làm bốn loại là: Chặt thấu quang, chặt loại
trừ, chặt tỉa thưa và chặt vệ sinh ( chất lượng gỗ chia làm ba cấp )
* Một số yếu tố kỹ thuật liên quan đến chặt nuôi dưỡng gồm:
- Các phương pháp chặt nuôi dưỡng
Đối với những lâm phần đã khép tán hoàn toàn sự phân hoá cây rừng
diễn ra mạnh mẽ: Tuỳ theo mức độ phân hoá cây rừng và đặc điểm cấu trúc
lâm phần chặt nuôi dưỡng đã hình thành nên ba phương pháp khác nhau:
Phương pháp chặt nuôi dưỡng tầng dưới, phương pháp chặt nuôi dưỡng chọn
lọc và phương pháp chặt nuôi dưỡng cơ giới.
- Để tiến hành chặt nuôi dưỡng trước hết phải phân cấp cây rừng. Hiện
nay chủ yếu phân cấp cây rừng theo phương pháp của G. Kraft (1884).

* Thể hiện cường độ chặt nuôi dưỡng có hai phương pháp
- Tính theo tỷ lệ thể tích gỗ cây chặt chiếm trong thể tích gỗ toàn lâm
phần của mỗi lần chặt: Pv = v/V x 100% ( v là thể tích cây chặt, V là sản
lượng lâm phần ).
- Dựa vào tỷ lệ số cây trong mỗi lần chặt chiếm trong tổng số cây toàn lâm
phần: Pn = n/N x 100% (n là số cây cần chặt, N là tổng số cây toàn lâm phần).
* Xác định cường độ chặt nuôi dưỡng có hai phương pháp: Phương
pháp định tính và phương pháp định lượng.
- Xác định cây chặt: Chọn cây chặt là khâu vô cùng quan trọng bởi vì
quyết định chính xác cây chặt mới có thể chặt nuôi dưỡng theo định kỳ. Khi
chọn cây chặt cần chú ý những điểm sau: Chặt những cây có phẩm chất xấu
sinh trưởng kém cong queo, thấp ngọn, nhiều cành nhánh nhiều mắt; cây có
sức sản xuất thấp, sinh trưởng kém, tán lá kém phát triển, phân cành thấp,


10

hình thân xấu; cây bị sâu bệnh, tổn thương, khô ngọn, tróc vỏ… Để lại những
cây sinh trưởng mạnh, cao to, thân thẳng tròn.
- Chu kỳ chặt nuôi dưỡng – kỳ giãn cách
Chu kỳ chặt nuôi dưỡng là số năm cách nhau giũa hai lần chặt kế tiếp
nhau ở cùng một lâm phần. Kỳ giãn cách dài hay ngắn cần xem xét tốc độ
khép tán và lượng sinh trưởng hàng năm, cường độ chặt nuôi dưỡng càng lớn
thì kỳ giãn cách càng dài và số lần chặt nuôi dưỡng sẽ giảm đi.
1.3. Các nghiên cứu ở trong nƣớc
1.3.1. Quy hoạch rừng
Quy hoạch rừng ở nước ta được thực hiện ngay từ thời kỳ Pháp
thuộc như việc xây dựng Phương án điều chế rừng chồi, rừng sản xuất gỗ
củi. Điều chế rừng chồi theo phương pháp rừng hạt đều. Đến giai đoạn
năm 1955 - 1957 tiến hành sơ thám mô tả tài nguyên rừng. Năm 1958 1959, tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc làm cơ sở cho việc tiến

Nguyễn Trọng Bình năm (1996) đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ
giữa kỳ vọng toán và phương sai của tổng đại lượng sinh trưởng của một số cây.
Vũ Nhâm năm 1998 đã dùng hàm Korf để lập biểu cấp đất tạm thời cho
rừng thông đuôi ngựa.
1.3.3.3. Định lượng cấu trúc lâm phần
- Cấu trúc đường kính thân cây rừng
Đối với rừng tự nhiên: Đồng Sỹ Hiền dùng hàm Meyer (1974),
Nguyễn Hải Tuất dùng hàm khoảng cách (1990).Với lâm phần đều tuổi giai
đoạn còn non và đoạn trung niên, các tác giả: Trịnh Đức Huy (1987,1988), Vũ
Nhâm (1988), Vũ Tiến Hinh (1990), Phạm Ngọc Giao (1989,1995) đều nhất trí
đường biểu diễn quy luật phân bố N/D có dạng lệch trái và có thể dùng hàm
toán học khác nhau như hàm Weibull, hàm phân bố khoảng cách…
- Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây:
Vũ Đình Phương (1975) thiết lập biểu cấp chiều cao lâm phần Bồ đề
tự nhiên từ phương trình Prabol bậc hai mà không cần phân biệt cấp tuổi.
Vũ Nhâm (1988) đã xây dựng được mô hình đường cong chiều cao lâm phần
Thông đuôi ngựa cho khu vực Đông Bắc.
- Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực:
Vũ Đình Phương (1985) đã khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa đường


12

kính tán và đường kính ngang ngực theo dạng phương trình Parabol bậc hai.
Phạm Ngọc Giao đã xây dựng mô hình động thái tương quan giữa
Dt/D1.3 cho rừng Thông đuôi ngựa khu vực Đông Bắc.
1.3.3.4. Sản lượng rừng
Có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu và lập biểu sinh trưởng cho các loài cây:
Nguyễn Thị Bảo Lâm (1996) đã lập biểu quá trình sinh trưởng rừng
Thông nhựa kinh doanh gỗ mỏ khu Đông Bắc Việt Nam.

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các lâm phần Sa mộc đã được
trồng ở các thời điểm khác nhau, mật độ hiện tại khác nhau và trên các cấp đất
khác nhau (I, II, III) để cung cấp gỗ nhỏ.
Theo Vũ Tiến Hinh thì chu kì kinh doanh của loài Sa mộc ở các cấp
đất khác nhau tối thiểu là 25 năm, do đó quá trình phát triển của loài Sa mộc
sẽ bao gồm quá trình sinh trưởng và quá trình tỉa thưa lợi dụng rừng. Trong
chuyển hoá rừng thì chỉ chuyển hoá từ tuổi 5- 15 tuổi vì ở giai đoạn này Sa
mộc đang sinh trưởng và phát triển mạnh, hơn nữa ở tuổi 5- 15 là tuổi trung
niên gần thành thục nếu chặt chuyển hoá thì sẽ dẫn đến nhanh đạt kích thước
gỗ lớn. Đề tài cũng chỉ nghiên cứu đối tượng là rừng trồng Sa mộc có mật độ
lớn hơn 1000 cây/ha và trên các cấp đất I, II, III.
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng các mô hình lý thuyết chuyển hoá
rừng trồng sa mộc gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn tại huyện Bắc Hà.
2.3. Nội dung nghiên cứu


14

1. Phân tích ỏnh giỏ điều kiện cơ bản và tình hình sản xuất kinh
doanh lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu ảnh h-ởng đến quy hoạch chuyển
hoá rừng trồng Sa mộc
2. ỏnh giỏ hiện trạng rừng trồng Sa mộc và xác định đối t-ợng rừng
trồng Sa mộc hiện tại đạt yêu cầu về tuổi, mật độ và phân bố trên các cấp đất
khác nhau để quy hoạch chuyển hoá
3. Nghiên cứu cơ sở kinh tế và kỹ thuật làm cơ sở cho quy hoạch
chuyển hoá rừng
- Nghiên cứu các chính sách, cơ chế, tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững
và thị tr-ờng nguyên liệu gỗ nguyên liệu làm cơ sở kinh tế cho thực hiện

vận dụng ph-ơng pháp có sự tham gia của chủ rừng và ng-ời dân, thực hiện
kết hợp gia lý thuyết và thực tiễn tại cơ sở.
2.4.2. Các ph-ơng pháp thu thập tài liệu ngoại nghiệp
2.4.2.1. Kế thừa tài liệu:
- Tài liệu về điều kiện t nhiờn kinh t xó hi khu vực nghiên cứu
- Kế thừa và tham khảo các kết quả nghiên cứu có liên quan đã công bố
+ Tiêu chuẩn Việt Nam quản lý rừng bền vững [2]
+ Biểu thể tích thân cây đứng cả vỏ loài Sa mộc [10]
+ Biểu cấp đất lập theo h0 rừng Sa mộc [10]
+ Biểu sinh tr-ởng và sản l-ợng Sa mộc [10]
+ Kt qu nghiờn cu v chuyn húa rng trng Sa mc ti xó Lựng
Phỡnh huyn Bc H tnh Lo Cai ca H Anh c [8]
2.4.2.2. Thu thập số liệu ngoại nghiệp
- Phỏng vấn bán định h-ớng 30 hộ gia đình theo mẫu biểu tại phụ biểu
01 làm cơ sở nghiên cứu điều kiện cơ bản và chỉnh lý các tài liệu kế thừa.
- tin cho vic bao quỏt v tui v xut cỏc bin phỏp k thut
chuyn hoỏ chỳng tụi tin hnh tp hp cỏc lõm phn cú tui bng hoc xp x
bng nhau nhúm thnh mt cp tui ( 2 nm mt cp tui ) để sự chênh lệch về
cỡ kính ít đi. Đ ti chọn cách phân chia theo cấp tuổi nhân tạo, tui bt u
thc hin chuyn hoỏ l t 5 - 15 tui vỡ giai on ny Sa mc ang sinh
trng v phỏt trin mnh, hn na tui 5- 15 l tui trung niờn gn thnh
thc nu cht chuyn hoỏ thỡ s dn n nhanh t kớch thc g ln. Nh vy
chỳng ta cú nm cp tui t cp tui III n cp tui VII và thực hiện chuyển hoá
trên các cấp tuổi này.
- Bố trí hệ thống ô tiêu chuẩn điển hình trờn cỏc cp tui iu tra
thu thp số liệu theo Biểu 2.1.


16



VII

13-
- Phõn b N-D, mụ phng phõn b thc nghim bng hm Weibull
dng phng trỡnh: F ( x) a..x 1 .e . x với các tham số ,
a

Cn c s liu ban u c lng tham s a cho phự hp
Vi a = 1: Phõn b cú dng gim, vi a = 3 phõn b cú dng i xng,
vi a > 3 phõn b cú dng lch phi, a < 3 phõn b cú dng lch trỏi.
= n/ x (n l s t sau khi chia t ghộp nhúm)
Kim tra mc phự hp ca phõn b lớ thuyt v phõn b thc
nghim bng tiờu chun phự hp.
- Tng quan H-D: Xõy dng tng quan trờn c s phng trỡnh
h = a + b.log D1.3 trong ú a, b l cỏc tham s ca phng trỡnh. T s liu
thc t v Hvn v D1.3 thc hin theo trỡnh lnh Tool - Data Analysis Regression trong Excel 8.0 ( Hvn tng ng vi y, log D1.3 tng ng vi x ),
cú c tham s ca phng trỡnh, cỏc h s tng quan, tiờu chun kim
tra ta v tb, kim tra s tn ti ca hai tham s a v b bng tiờu chun t. Nu /
ta/, / tb/ < t05 ( tra bng thỡ tham s a, b tn ti v ngc li thỡ tham s a, b


18

không tồn tại ).
- Tương quan D1.3 - DT: Xây dựng trên cơ sở phương trình DT = a + b.D1.3
trong đó a, b là các tham số của phương trình. Từ số liệu thực tế về D T và D1.3
thực hiện theo trình lệnh Tool - Data Analysis - Regression trong Excel 8.0
( DT tương ứng với y, D1.3 tương ứng với x ) để có được tham số của phương
trình, các hệ số tương quan, tiêu chuẩn kiểm tra ta và tb, kiểm tra sự tồn tại
của tham số a, b bằng tiêu chuẩn t. Nếu / ta/, / tb/ < t05 ( tra bảng ) thì tham số
a, b tồn tại và ngược lại thì tham số a, b không tồn tại [14].
2.4.3.3. Xác định các yếu tố cơ bản trong chặt chuyển hoá
- Phân cấp cây rừng: Theo phân cấp Kraft năm 1884 [9]

+ Với loài Sa mộc, đã có biểu thể tích hai nhân tố và biểu cấp đất do
Vũ Tiến Hinh lập và được công bố năm 2000 [10], do đó đề tài sẽ sử dụng các
biểu này để tính biểu thể tích thân cây, trữ lượng lâm phần và xác định cấp đất
của các ô tiêu chuẩn đã thu thập số liệu.
Trữ lượng của các bộ phận lâm phần được tính theo công thức:
Mi = Ni x Vi trong đó Mi, Ni, Vi lần lượt là trữ lượng của bộ phận lâm phần,
số cây của bộ phận lâm phần, thể tích cây tương ứng trong bộ phận đó.
+ Xác định các chỉ tiêu sản lượng cho các bộ phận lâm phần qua quá
trình chặt chuyển hoá: Bộ phận chặt chuyển hoá, bộ phận để lại.
Chỉ tiêu được thống kê là: N/ha, M trên mỗi bộ phận lâm phần
- Thiết kế chặt nuôi dưỡng chuyển hoá và xác định các yếu tố có liên
quan theo phương pháp chặt nuôi dưỡng tầng dưới.
- Bố trí địa điểm chuyển hoá theo thời gian và không gian: trên bản đồ
quy hoạch và đưa ra các giải pháp thực hiện.
- Xây dựng các mô hình chặt chuyển hoá.
2.4.3.5. Sử đụng phương pháp phân tích kinh tế tĩnh để dự đoán hiệu qủa kinh tế
Tiến hành dự tính thu nhập bình quân trên 1 ha sau chuyển hoá thành rừng
kinh doanh gỗ lớn và so sánh với thu nhập bình quân 1 ha rừng không thực hiện
chặt chuyển hoá.


20

Chng III. IU KIN C BN CA KHU VC NGHIấN CU
3.1. iu kin t nhiờn
3.1.1. V trớ, gianh gii
Bc H l mt huyn vựng cao nm phớa ụng Bc ca tnh Lo
Cai, cỏch thnh ph Lo Cai khong 80km theo đ-ờng tỉnh lộ 63 Bắc Ngần Bắc Hà - Si Ma Cai.
Cú to a lớ:
T 21019 n 24024 v Bc

- Nhiệt độ trung bình năm là: 18 - 190C
- Nhiệt độ cao nhất là 340C ( vào tháng 6 – 7 )
- Nhiệt độ thấp nhất là 1,50C ( vào tháng 12, tháng 1 ), cá biệt có
những năm xuống dưới -10C
- Lượng mưa bình quân: 1650 - 1850mm
- Độ ẩm không khí bình quân: 80%
Lượng mưa trong năm không lớn, nhưng phân bố không đều, tập trung
vào từ tháng 4 đến tháng 10 ( chiếm 80% tổng lượng mưa hàng năm ) nên thường
gây ra lũ lụt, xói mòn, sạt lở đất ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống. Mùa hè khí
hậu mát mẻ, mùa đông giá lạnh, sương mù và sương muối thường xảy ra.
3.1.3.2. Chế độ gió
Khu vực huyện Bắc Hà chịu ảnh hưởng của hai luồng gió thịnh hành là
gió mùa Đông bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô lạnh, có
kèm theo sương muối, mưa phùn. Gió mùa Đông nam từ tháng 4 đến tháng 10
thời tiết nóng ẩm, thường có mưa lớn kéo dài thỉnh thoảng có lốc xoáy kéo dài.
3.1.3.3. Thuỷ văn
Huyện Bắc Hà có sông Chảy là sông chính chạy qua hai mặt phía Tây
Nam của huyện. Ngoài ra còn có bốn hệ suối nhỏ đó là Ngòi Đô, Thèn Phùng,
Nậm Phàng, Nậm Lúc đều đổ ra sông Chảy. Hầu hết suối ở đây dòng chảy rất
quanh co, lòng suối hẹp, độ dốc lớn. Độ chênh lệch về lưu lượng nước giữa
hai mùa là rất lớn. Mùa mưa thường gây lũ lụt, mùa khô lượng nước rất ít,
gây khó khăn cho việc tưới tiêu và sinh hoạt của nhân dân.
3.1.4. Tài nguyên đất
Dựa vào tài liệu, bản đồ thổ nhưỡng huyện Bắc Hà tỉ lệ 1/50000 năm
2002 do viện thổ nhưỡng Nông Hoá điều tra xây dựng, bản đồ thổ nhưỡng
huyện Bác Hà tỷ lệ 1/25000 của khoa đất và môi trường, trường Đại học Nông
Nghiệp I tháng 4 năm 2004 cho thấy huyện Bắc Hà có các nhóm đất chính sau:
1. Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên đá sét và biến chất: 2197,7ha



3.2.1. Dân số
Theo số liệu thống kê năm 2005 huyện Bắc Hà có 9410 hộ với tổng
số 47345 nhân khẩu, mật độ dân số toàn huyện là 69 người/km2. Toàn huyện


23

có 14 dân tộc cùng chung sống trong đó chủ yếu là dân tộc Hmông, Daochiếm
60% còn lại là các dân tộc khác. Mỗi dân tộc có đặc điểm và tập quán khác
nhau, có trình độ dân trí, trình độ canh tác còn lạc hậu. Sản xuất mang nặng
tính tự cung tự cấp….
3.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 7,2% trong đó ngành nông nghiệp
tăng 5,6%, ngành công nghiệp xây dựng tăng 10,2%, ngành thương mại dịch
vụ tăng 16,5%. Cơ cấu kinh tế trong những năm gần đây đã giảm dần tỷ trọng
nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ du lịch, bình quân
thu nhập đầu người đạt 2,2 triệu đồng/năm.
3.2.3. Nhận xét đánh giá về điều kiện kinh tế – xã hội
Huyện Bắc Hà là một huyện miền núi tuy có thuận lợi về giao thông,
giao lưu có thuận lợi hơn so với các huyện xung quanh nhưng nhìn chung kinh
tế xã hội còn chậm phát triển, đời sống người dân còn nghèo, nền sản xuất còn
mang tính tự cung tự cấp, trình độ canh tác lạc hậu, sản phẩm sản xuất chưa trở
thành hàng hóa. Trình độ dân trí và cán bộ còn nhiều hạn chế chưa theo kịp
với cơ chế đổi mới hiện nay. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng
và khai thác triệt để. Cơ sở hạ tầng yếu kém, hệ thống thuỷ lợi chưa được phát
huy do bị sạt lở, việc thâm canh tăng vụ còn nhiều hạn chế, năng suất cây trồng
thấp. Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và nhà nước cán
bộ và nhân dân trong huyện đã có nhiều nhận thức và hành động trong việc
phát triển kinh tế xã hội. Bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể về
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, sử dụng hợp lí đất đai xây dựng cơ sở hạ tầng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status