BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÀI LIỆU TẬP HUẤN
PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG HỌC THEO NHÓM VÀ
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC
MÔN: ĐỊA LÍ
(Dành cho cán bộ quản lí, giáo viên trung học phổ thông)
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
1
MỤC LỤC
Trang
Phần I. Một số vấn đề chung về đổi mới nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá
I. Một số vấn đề chung về đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá
5
II. Quy trình xây dựng bài học
20
III. Các bước phân tích hoạt động học của HS
89
LỜI NÓI ĐẦU
Việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo
định hướng phát triển năng lực HS đã được triển khai từ hơn 30 năm qua. Hầu
hết giáo viên hiện nay đã được trang bị lí luận về các phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực trong quá trình đào tạo tại các trường sư phạm cũng như quá
trình bồi dưỡng, tập huấn hằng năm. Tuy nhiên, việc thực hiện các phương pháp
dạy học tích cực trong thực tiễn còn chưa thường xuyên và chưa hiệu quả.
Nguyên nhân là chương trình hiện hành được thiết kế theo kiểu "xoáy ốc" nhiều
vòng nên trong nội bộ mỗi môn học, có những nội dung kiến thức được chia ra
các mức độ khác nhau để học ở các cấp học khác nhau (nhưng không thực sự hợp
lý và cần thiết); việc trình bày kiến thức trong sách giáo khoa theo định hướng nội
dung, nặng vềlập luận, suy luận, diễn giảihình thành kiến thức; cùng một chủ
đề/vấn đề nhưng kiến thức lại được chia ra thành nhiều bài/tiết để dạy học trong
45 phút không phù hợp với phương pháp dạy học tích cực; có những nội dung
kiến thức được đưa vào nhiều môn học; hình thức dạy học chủ yếu trên lớp theo
từng bài/tiết nhằm "truyền tải" hết những gì được viết trong sách giáo khoa, chủ
yếu là "hình thành kiến thức", ít thực hành, vận dụng kiến thức.
Để khắc phục những hạn chế trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn tài liệu
tập huấn về "Phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm và
hướng dẫn HS tự học" nhằm hướng dẫn giáo viên các môn học chủ động lựa
chọn nội dung sách giáo khoa hiện hành để xây dựng các bài học theo chủ đề;
thiết kế tiến trình dạy học theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
nhằm nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn HS
tự học. Ngoài các vấn đề chung về đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức, kĩ
thuật tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
HS, tài liệu tập trung vào việc xây dựng bài học theo chủ đề gồm 6 bước:
Bước 1: Xác định vấn đề cầngiải quyết trong dạy học chủ đề sẽ xây dựng
4
PHẦN I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC
TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
I. Một số vấn đề chung về đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá
1. Đổi mới hình thức, phương pháp dạy học nhằm phát
huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo và rèn luyện phương
pháp tự học; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng
kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS làm được cái gì qua
việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc
chuyển từ phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học,
cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất;
đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí
nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, chú
trọng kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học để có thể tác động kịp thời nhằm
nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI:“Đổi mới chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng
hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng,
giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ
năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”.
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
khuyến khích học tập suốt đời”. Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo
dục trong nhà trường trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới.
- Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 Ban hành Chương trình hành
động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm
2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế: “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả
giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá
trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền
giáo dục phát triển”...
Thực hiện định hướng nêu trên việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng năng lực người học
trong giáo dục phổ thông cần được thực hiện một cách đồng bộ. Cụ thể như sau:
a) Về nội dung dạy học
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên áp dụng thường xuyên và hiệu
quả các phương pháp dạy học tích cực, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa
phương giao quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục, phát huy vai
trò sáng tạo của nhà trường và giáo viên. Theo đó, các cơ sở giáo dục trung học,
tổ chuyên môn và giáo viên được chủ động, linh hoạt trong việc xây dựng kế
hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực HS phù hợp với điều kiện thực tế
của nhà trường, địa phương và khả năng của HS. Nhà trường tổ chức cho giáo
6
viên rà soát nội dung chương trình, sách giáo khoa, điều chỉnh nội dung dạy học
theo hướng tinh giản; xây dựng các chủ đề tích hợp, liên môn nhằm khắc phục
hạn chế về cấu trúc chương trình kiểu "xoáy ốc" dẫn đến một số kiến thức HS đã
được học ở lớp dưới có thể lại được tác giả đưa vào sách giáo khoa lớp trên theo
lôgic của vấn đề khiến HS phải học lại một cách chưa hợp lý, gây quá tải.
HS theo một chiến lược hợp lý sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức.
Quá trình dạy học các tri thức thuộc một môn khoa học cụ thể được hiểu là quá
trình hoạt động của giáo viên và của HS trong sự tương tác thống nhất biện
7
chứng của ba thành phần trong hệ dạy học bao gồm: Giáo viên, HS và tư liệu
hoạt động dạy học.
Hoạt động học của HS bao gồm các hành động với tư liệu dạy học, sự trao
đổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với giáo viên. Hành động học của HS với
tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của HS với tình huống học tập đồng
thời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân mình. Sự trao đổi,
tranh luận giữa HS với nhau và giữa HS với giáo viên nhằm tranh thủ sự hỗ trợ
xã hội từ phía giáo viên và tập thể HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Thông
qua các hoạt động của HS với tư liệu học tập và sự trao đổi đó mà giáo viên thu
được những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự định hướng của giáo viên
đối với HS.
Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sự
trao đổi, định hướng trực tiếp với HS. Giáo viên là người tổ chức tư liệu hoạt
động dạy học, cung cấp tư liệu nhằm tạo tình huống cho hoạt động của HS. Dựa
trên tư liệu hoạt động dạy học, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng
hoạt động của HS với tư liệu học tập và định hướng sự trao đổi, tranh luận của
HS với nhau.
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thức
mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực,
sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện
kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
Như vậy, phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa,
tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy
tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích
sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.
- Dạy học tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác: Trong
một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối
thì khi áp dụng phương pháp tích cực phải có sự phân hóa về cường độ, tiến độ
hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi
hoạt động độc lập. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự
phân hóa này càng lớn. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ
năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp
học là môi trường giao tiếp giáo viên - HS và HS - HS, tạo nên mối quan hệ hợp
tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua
thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định
hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Được sử dụng
phổ biến trong dạy học hiện nay là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ. Học tập
hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay
cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành
nhiệm vụ chung.
- Dạy học có sự kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Trong
quá trình dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trong phương pháp tích
cực, giáo viên phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh
cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để HS
được tham gia đánh giá lẫn nhau.
Trong dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là
người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng
9
dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung
học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của
lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm
giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác.
Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả
lớp. Các kĩ thuật dạy học tích cực như sẽ được sử dụng trong tốt chức hoạt động
nhóm trên lớp để thực hiện các nhiệm vụ nhỏ nhằm đạt mục tiêu dạy học.
10
Như vậy, mỗi bài học bao gồm các hoạt động học theo tiến trình sư phạm
của phương pháp dạy học tích cực được sử dụng. Mỗi hoạt động học có thể sử
dụng một kĩ thuật dạy học tích cực nào đó để tổ chức nhưng đều được thực hiện
theo các bước như sau:
(1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp
với khả năng của HS, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thành
khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích
được hứng thú nhận thức của HS; đảm bảo cho tất cả HS tiếp nhận và sẵn sàng
thực hiện nhiệm vụ.
(2)Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích HS hợp tác với nhau khi
thực hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của HS và có
biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có HS bị "bỏ quên".
(3) Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung
học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho HS trao
đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạm
nảy sinh một cách hợp lí.
(4) Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình
thực hiện nhiệm vụ học tập của HS; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực
hiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của HS; chính xác hóa các kiến thức
mà HS đã học được thông qua hoạt động.
2. Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát
triển năng lực HS, vì sự tiến bộ của HS
tập; đánh giá qua việc HS báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên
cứu khoa học, kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài
thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm
vụ học tập (sau đây gọi chung là sản phẩm học tập); kết hợp đánh giá trong quá
trình dạy học, giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học. Kết hợp
đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS, đánh giá
của cha mẹ HS và cộng đồng.Coi trọng đánh giá sự tiến bộ của mỗi HS, không
so sánh HS này với HS khác; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự hứng
thú, tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy
năng khiếu cá nhân; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan, không tạo áp lực
cho HS, giáo viên và cha mẹ HS.
a) Đánh giá quá trình học tập của HS
Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học,
của mỗi hoạt động trong bài học, giáo viên tiến hành một số việc như sau:
- Theo dõi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của HS
theo tiến trình dạy học; quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của HS để
áp dụng biện pháp cụ thể, kịp thời giúp đỡ HS vượt qua khó khăn.
- Ghi nhận xét vào phiếu, vở, sản phẩm học tập... của HS về những kết
quả đã làm được hoặc chưa làm được, mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng
kiến thức, mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết...
- Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS, quan
sát các biểu hiện trong quá trình học tập, sinh hoạt và tham gia các hoạt động tập
thể để nhận xét sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của HS;
từ đó động viên, khích lệ, giúp HS khắc phục khó khăn; phát huy ưu điểm và các
phẩm chất, năng lực riêng; điều chỉnh hoạt động, ứng xử để tiến bộ.
12
- Khuyến khích, hướng dẫn HS tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý
bạn, nhóm bạn: HS tự rút kinh nghiệm ngay trong quá trình thực hiện từng nhiệm
- Nhận biết: HS nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩ năng đã
học khi được yêu cầu.
- Thông hiểu: HS diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học
bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình, có thể thêm các hoạt động phân tích,
13
giải thích, so sánh; áp dụng trực tiếp (làm theo mẫu) kiến thức, kĩ năng đã biết
để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập.
- Vận dụng: HS kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để
giải quyết thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đã học.
- Vận dụng cao: HS vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết
các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được
hướng dẫn; đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới
trong học tập hoặc trong cuộc sống.
Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của HS ở từng học kỳ và từng khối
lớp, giáo viên và nhà trường xác định tỷ lệ các câu hỏi theo 4 mức độ yêu cầu
trong các bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng HS và
tăng dần tỷ lệ các câu hỏi ở mức độ yêu cầu vận dụng, vận dụng cao.
Bảng dưới đây là một ví dụ mô tả về 4 mức độ yêu cầu cần đạt của một số
loại câu hỏi, bài tập thông thường:
Loại câu
hỏi/bài
tập
Mức độ yêu cầu cần đạt
Nhận biết
Thông hiểu
tình huống quen
thuộc.
Xác định và vận
dụng được nhiều
nội dung kiến thức
có liên quan để
phát hiện, phân
tích. luận giải vấn
đề trong tình
huống mới.
Câu
hỏi/bài
tập định
lượng
Xác
định
được các mối
liên hệ trực
tiếp giữa các
đại lượng và
tính được các
đại lượng cần
tìm.
Xác định được
các mối liên hệ
liên quan đến
Câu
hỏi/bài
tập định
tính
14
cứ
vào Căn cứ vào yêu
hỏi/bài
tập thực
hành/thí
nghiệm
kết quả thí
nghiệm
đã
tiến hành, nêu
được
mục
đích và các
dụng cụ thí
nghiệm.
quả thí nghiệm
đã tiến hành,
3. Tiêu chí đánh giá bài học
Mỗi bài học có thể được thực hiện ở nhiều tiết học nên một nhiệm vụ học
tập có thể được thực hiện ở trong và ngoài lớp học. Vì thế, trong một tiết học có
thể chỉ thực hiện một số hoạt động học trong tiến trình bài học theo phương
pháp dạy học tích cực được sử dụng. Khi phân tích, rút kinh nghiệm một bài học
cần sử dụng các tiêu chí phân tích, rút kinh nghiệm về kế hoạch và tài liệu dạy
học đã được nêu rõ trong Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014.
Bảng dưới đây đưa ra 03 mức độ của mỗi tiêu chí đánh giá.
a) Việc đánh giá về kế hoạch và tài liệu dạy học được thực hiện dựa trên
hồ sơ dạy học theo các tiêu chí về: phương pháp dạy học tích cực; kĩ thuật tổ
chức hoạt động học; thiết bị dạy học và học liệu; phương án kiểm tra, đánh giá
quá trình và kết quả học tập của HS.
Tiêu chí
Mức độ phù
hợp của
chuỗihoạt
động học với
mục tiêu, nội
dung và
phương pháp
dạy học được
sử dụng.
Mức độ
Mức 1
Mức 2
nghiệm sống của HS
và chỉ có thể được giải
quyết một phần hoặc
phỏng đoán được kết
quả nhưng chưa lí giải
được đầy đủ bằng
kiến thức/kĩ năng cũ;
đặt ra được vấn đề/câu
hỏi chính của bài học.
15
Mức độ rõ
ràng của mục
tiêu, nội dung,
kĩ thuật tổ
chức và sản
phẩm cần đạt
được của mỗi
nhiệm vụ học
tập.
Mức độ phù
hợp của thiết
bị dạy học và
học liệu được
sử dụng để tổ
chức các hoạt
động học của
được của mỗi nhiệm
vụ học tập.
Có chuẩn bị thiết
bị/tài liệu (bao gồm
cả thiết bị tự học,
ứng dụng CNTT)
phù hợp với mục
tiêu, nội dung, hình
Chưa có các
phương án dành cho thức tổ chức,
HS sử dụng, thao tác phương pháp và kĩ
trên thiết bị, tài liệu thuật dạy học. Tuy
nhiên, chưa biết cải
dạy học trong quá
trình học tập.
tiến phương tiện dạy
học.
Có chuẩn bị thiết
bị/tài liệu, nhưng cẩu
thả, chưa thật phù
hợp với nội dung bài
học.
Đưa ra được các
phương án dành cho
HS khai thác, sử
dụng thiết bị dạy
học, song chưa thật
hiệu quả và còn
thời gian cho các hoạt
động. Dự kiến được
các tình huống sư
phạm có thể phát sinh
trong mỗi nhiệm vụ.
Giải pháp giải quyết.
Chuẩn bị thiết bị/tài
liệu (bao gồm cả thiết
bị tự học, ứng dụng
CNTT) phù hợp với
mục tiêu, nội dung,
hình thức tổ chức,
phương pháp và kĩ
thuật dạy học. GV có
cải tiến/sáng tạo
phương tiện dạy học
mới.
Có phương án dành
cho HS được thao tác
trên thiết bị, tài liệu
học tập và có tác động
rõ rệt đến chất lượng
học tập của HS.
Xây dựng được các
phương án kiểm tra
đánh giá HS trong
từng hoạt động học và
toàn bài, công cụ đánh
nhiệm vụ học
tập.
Khả năng
theo dõi,
quan sát,
phát hiện kịp
thời những
khó khăn của
HS.
Mức độ phù
hợp, hiệu quả
Mức độ
Mức 1
HS được giao
nhiệm vụ học tập
cụ thể. Tuy nhiên,
phương thức
chuyển giao chưa
lôi kéo được HS
vào nhiệm vụ học
tập. Nhiều HS còn
thụ động với nhiệm
vụ học tập được
giao.
Biết thu thập
thông tin phản hồi
về mức độ nhận
nhiệm vụ GV giao.
Biết vận dụng các
biện pháp khác nhau
để quan sát, phát
hiện, thu thập thông
tin phản hồi kịp thời
từ phía HS. Sử dụng
các thông tin thu
thập được để điều
chỉnh, uốn nắn HS
kịp thời, song hiệu
quả chưa rõ ràng.
Khả năng quan sát
theo dõi phát hiện kịp
thời khó khăn của HS
tốt: cử chỉ, hành vi,
nét mặt, thái độ, qua
vở ghi bài, câu hỏi
phát vấn,…) GV kịp
thời điều chỉnh và
giúp đỡ HS còn khó
khăn trong học tập,
bước đầu có kết quả.
Trong quá trình
Trong quá trình
Trong quá trình học
học tập các mối quan học tập các mối quan tập các mối quan hệ
hệ tương tác giữa:
HS với HS, HS với
GV, HS với tài liệu
học tập đã được GV
chú ý tổ chức, bước
đầu mang lại kết quả
nhất định.
tương tác giữa: HS
với HS, HS với GV,
HS với tài liệu học
tập diễn ra rất tích
cực và hiệu quả..
GV có phân tích,
nhận xét, đánh giá
và tổng hợp các kết
quả học tập và quá
trình thảo luận của
HS, song còn mang
tính hình thức, áp
đặt và chủ yếu HS
chỉ được đánh giá
về kiến thức, kĩ
năng. HS không
được tham gia vào
quá trình đánh giá,
phân tích kết quả
học tập.
mình có giá trị.
- Hoạt động của HS
Tiêu chí
Khả năng
tiếp nhận và
sẵn sàng
thực hiện
nhiệm vụ
học tập của
tất cả HS
trong lớp.
Mức độ tích
cực, chủ
Mức độ
Mức 1
Mức 2
Mức 3
Nhiều HS học tập
thụ động, chưa sẵn
sàng nhận và thực
hiện nhiệm vụ học
tập.
HS được giao
động, sáng
tạo, hợp tác
của HS trong
việc thực hiện
các nhiệm vụ
học tập.
nhiệm vụ học tập.
Song chưa tích cực,
chưa chủ động. Vẫn
còn HS chưa thực
hiện các nhiệm vụ học
tập do GV giao.
trong khi thực hiện
nhiệm vụ học tập,
song chưa lôi cuốn
được mọi HS
tham gia vào các
hoạt động học tập
và thi đua lành
mạnh.
thực hiện nhiệm vụ
học tập do GV giao,
toàn lớp xây dựng
được môi trường học
tập thân thiện, hợp tác,
Hầu hết HS đều thể
hiện hứng thú, sự tự
tin và chủ động tích
cực tương tác, trao đổi
thảo luận và hỗ trợ
nhau trong quá trình
học tập. HS tự tin và
sẵn sàng trình bày kết
quả học tập.
Mức độ đúng
đắn, chính
xác, phù hợp
của các kết
quả thực hiện
nhiệm vụ học
tập của HS.
Chỉ có một số HS
có kết quả thực hiện
các nhiệm vụ học tập
đúng đắn, chính xác
và đạt được mục tiêu
của hoạt động.
Đa số HS trong
lớp khi thực hiện
các nhiệm vụ có
kết quả học tập
đúng, chính xác và
19
- Hoạt động giải quyết một tình huống học tập: Mục đích của hoạt động
này là tạo tâm thế học tập cho HS, giúp HS ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng
thú học bài mới. Giáo viên sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến
thức, kinh nghiệm của bản thân HS có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong tài liệu
hướng dẫn học; làm bộc lộ "cái" HS đã biết, bổ khuyết những gì cá nhân HS còn
thiếu, giúp HS nhận ra "cái" chưa biết và muốn biết.
- Hoạt độngtìm tòi, khám phá, lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng mới
hoặc/vàthực hành, luyện tập,củng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng vừa lĩnh hội
được nhằm giải quyết tình huống/vấn đề học tập.
- Hoạt động vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để phát hiện và giải
quyết các tình huống/vấn đề thực tiễn.
Dựa trên con đường nhận thức chung đó và căn cứ vào nội dung chương
trình, sách giáo khoa hiện hành, tổ/nhóm chuyên môn tổ chức cho giáo viên thảo
luận, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp.
2. Quy trình xây dựng bài học
Mỗi bài học theo chủ đề phải giải quyết trọng vẹn một vấn đề học tập. Vì
vậy, việc xây dựng mỗi bài học cần thực hiện theo quy trình như sau:
a) Bước 1: Xác định vấn đề cầngiải quyết trong bài học.
Vấn đề cần giải quyết có thể là một trong các loại sau:
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng kiến thức mới.
- Vấn đề kiểm nghiệm, ứng dụng kiến thức.
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng, kiểm nghiệm và ứng dụng kiến thức mới.
Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa của môn học và những
ứng dụng kĩ thuật, hiện tượng, quá trình trong thực tiễn, tổ/nhóm chuyên môn
xác định các nội dung kiến thức liên quan với nhau được thể hiện ở một số
bài/tiết hiện hành, từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành một
chuyên đề dạy học đơn môn. Trường hợp có những nội dung kiến thức liên quan
động của các yếu tố ngoại lực trong môi trường nóng ẩm, gió mùa, quá trình
phong hóa diễn ra mạnh mẽ. Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam, được thể hiện rõ qua hướng chảy của sông ngòi.
Đồi núi chiếm phần lớn diện tích, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp. Địa hình
thấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ. Núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm 1%
diện tích cả nước. Vùng đồi núi của nước ta rất hiểm trở, bị chia cắt bởi một
mạng lưới sông ngòi dày đặc. Tuy nhiên, miền núi lại có nhiều thế mạnh về
khoáng sản, đất trồng và tiềm năng thủy điện.
Tương phản với miền núi là vùng đồng bằng, tuy chỉ chiếm ¼ diện tích
nhưng có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ thuận tiện cho việc quần cư và
phát triển kinh tế, nhất là nông nghiệp. Tuy nhiên, giữa miền núi và đồng bằng
lại có mối quan hệ vô cùng mật thiết
Sự sắp xếp nội dung các tiết dạy trong chương trình chưa thật sự khoa
học: Trong chương trình Địa lí 12, Bài 6 học về các đặc điểm chung của địa hình
và địa hình các khu vực đồi núi, Bài 7 tiếp tục học về các khu vực địa hình đồng
bằng và đánh giá ảnh hưởng của địa hình đồi núi đến sự phát triển kinh tế, xã
21
hội, đánh giá ảnh hưởng của địa hình khu vực đồng bằng đến sự phát triển kinh
tế xã hội, đến Bài 13 thực hành đọc bản đồ địa hình để củng cố kiến thức về địa
hình Việt Nam. Sự sắp xếp như vậy chưa thật sự lô gic và chưa tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động học tập.
Việc sắp xếp lại kiến thức của các Bài 6, 7, 13 thành chuyên để học tập
tạo điều kiện cho việc tổ chức các hoạt động học tập được tiếp nối nhau thành
một chuỗi các hoạt động, từ việc nghiên cứu "cái chung" (đặc điểm chung của
địa hình nước ta) đến nghiên cứu "cái riêng" minh chứng cho cái chung (các khu
vực địa hình và những tác động của nó đối với phát triển kinh tế xã hội) sẽ làm
cho mạch kiến thức được lô gic hơn, đồng thời sau khi học tập HS được luyện
tập củng cố kiến thức, kĩ năng đã được học.
Đối với HS học khá giỏi, GV có thể bổ sung thêm nội dung, để HS tự
nghiên cứu mở rộng kiến thức.
3. Mối quan hệ giữa địa hình với các thành phần tự nhiên khác.
4. So sánh đặc điểm địa hình của các khu vực: đồi núi; đồng bằng.
c) Bước 3: Xác định mục tiêu bài học
Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và
các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho HS theo phương pháp dạy học tích
cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho HS trong
chuyên đề sẽ xây dựng.
Ví dụ: Đối với bài học Địa hình Việt Nam nói trên, Chương trình giáo dục
phổ thông quy định mức độ cần đạt của HS như sau:
(i) Kiến thức
- Biết được đặc điểm chung của địa hình VN: đồi núi chiếm phần lớn diện
tích đất liền của lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp.
- Hiểu được sự phân hóa địa hình đồi núi ở VN, đặc điểm mỗi khu vực địa
hình và sự khác nhau giữa các khu vực đồi núi.
- Hiểu được đặc điểm chung của đồng bằng nước ta và sự khác nhau giữa
các đồng bằng.
- Phân tích được ảnh hưởng của các đặc điểm thiên nhiên các khu vực đồi
núi và đồng bằng đối với phát triển KT-XH.
- Phân tích được mối quan hệ giữa địa hình với các thành phần thự nhiên khác.
- So sánh các khu vực địa hình.
(ii) Kĩ năng
- Sử dụng bản đồ Tự nhiên Việt Nam để trình bày các đặc điểm nổi bật về
địa hình.
- Đọc bản đồ địa hình để xác định được vị trí các dãy núi, đỉnh núi và
dòng sông, điền, ghi đúng trên lược đồ: dãy Hoàng Liên Sơn, đỉnh Phan-xipăng, Trường Sơn,...
(iii) Thái độ
23
đưa các nhiệm vụ và hỗ trợ khi thực sự cần thiết; Khả năng ghi nhớ những điều
đã học để có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng và vận dụng
được những kiến thức vào thực tiễn; Sự tự tin của HS khi trình bày, bảo vệ kết
quả hoạt động của nhóm trước lớp một cách chặt chẽ, thuyết phục.
+ Đánh giá khả năng sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề của HS:
Trong quá trình học tập, HS được thực tế hoạt động phỏng theo con đường nhận
thức của nhà khoa học: đề xuất giả thuyết, dự đoán giải pháp, đề xuất phương án
thí nghiệm, phân tích kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật đồ thị,... Giáo viên
24
có thể đánh giá được mức độ đáp ứng của HS đối với các hoạt động sáng tạo này
thông qua quan sát, nhận xét sự trải nghiệm hoạt động nhận thức sáng tạo và khả
năng “luyện tập” tư duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua học
tập theo tiến trình dạy học kể trên. Như HS đánh giá được các điều kiện vê địa
hình miền núi và đồng bằng có thuận lợi và khó khăn gì cho phát triển kinh tế-xã
hội và đời sống, từ đó HS có thể đưa ra các ý tưởng về giải pháp để khác phục
khó khăn nêu trên.
- Đánh giá kết quả học tập của HS: Căn cứ vào các mức độ yêu cầu của
câu hỏi, bài tập được mô tả trong bảng trên, giáo viên có thể xây dựng các câu
hỏi, bài tập tương ứng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Căn cứ vào
mức độ phát triển năng lực của HS ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên và
nhà trường xác định tỷ lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong các
bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng HS.
e) Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học
Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề thành các hoạt động học được tổ chức
cho HS có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực
hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy
học được sử dụng. Trong chuỗi hoạt động học, đặc biệt quan tâm xây dựng tình
huống xuất phát.