Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây lá rộng trồng dưới tán rừng thông mã vĩ ở đại lải vĩnh phúc làm cơ sở để chuyển hóa rừng thông thuần loài thành rừng hỗn loài - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-------------------------------------

LÊ MINH CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI
CÂY LÁ RỘNG BẢN ĐỊA TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG THÔNG
MÃ VĨ Ở ĐẠI LẢI – VĨNH PHÚC LÀM CƠ SỞ ĐỂ CHUYỂN
HÓA RỪNG THÔNG THUẦN LOÀI THÀNH RỪNG HỖN LOÀI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ TÂY - 2007


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-------------------------------------

LÊ MINH CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI

Mã số: 60.62.60

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ TÂY - 2007


Luận văn được hoàn thành tại:

KHOA SAU ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN HUY SƠN

Người phản biện 1:

Người phản biện 2:

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn theo Quyết
định số.... ngày ..... tháng...... năm 2007 họp tại:
Vào hồi ...... giờ ngày ... tháng ...... năm 2007

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin tư liệu và Thư viện trường đại học lâm nghiệp
- Khoa sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp


1



thuần loài. Trong số các loài cây trồng tại Trung tâm thì diện tích rừng Thông
mã vĩ chiếm tỷ lệ đáng kể. Các mô hình Thông mã vĩ này được trồng trong
nhiều năm, trong đó có 50ha được trồng từ năm 1976. Diện tích rừng Thông
mã vĩ này hiện nay đã có dấu hiệu sinh trưởng chậm lại, sức sống kém.
Chính vì thế từ năm 2000, với mục tiêu xây dựng các mô hình trồng
rừng hỗn loài các cây lá rộng bản địa có chất lượng cao và phát huy tốt vai trò
phòng hộ của rừng, Trung tâm KHSX Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ đã tiến hành
trồng một số loài cây lá rộng bản địa như Lim xanh (Erythrophloeum fordii
Oliv), Lim xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev), Re hương (Cinnamomum
iners Reinw), Sao đen (Hopea odorata Roxb), Ràng ràng xanh (Ormosia
pinnata) trong đó tác giả của bản luận văn là cộng tác viên chính thực hiện
xây dựng mô hình này. Kết quả bước đầu cho thấy các loài cây này đã tỏ ra
sinh trưởng tốt dưới tán rừng Thông mã vĩ.
Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn đặt ra, việc “Đánh giá khả năng
sinh trưởng của một số loài cây lá rộng bản địa trồng dưới tán rừng Thông
mã vĩ ở Đại Lải – Vĩnh Phúc làm cơ sở để chuyển hóa rừng thông thuần
loài thành rừng hỗn loài” là cần thiết và cấp bách.


3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới.
Trong những năm gần đây, rất nhiều nơi trên thế giới đã và đang
nghiên cứu, thử nghiệm và trồng rừng thành công bằng những loài cây bản
địa. Trong nhiều loại cây trồng, các cây thuộc chi Paulownia đang được sự
quan tâm của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Theo Trần Quang
Việt (2001) [32], từ những năm 1960, cùng với phong trào lục hóa và xây
dựng các đai rừng phòng hộ bảo vệ đồng ruộng, chi Paulownia được tiếp tục

rừng tự nhiên. Trên băng trồng 6 hàng cây bản địa. Trồng 14 loài cây bản địa
dưới tán rừng Keo tai tượng theo 2 khối thí nghiệm:
Khối A:

Mở băng 10m trồng 3 hàng cây bản địa;
Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa;
Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa.

Khối B:

Chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng cây bản địa;
Chặt 2 hàng keo trồng 2 hàng cây bản địa;
Chặt 4 hàng keo trồng 4 hàng cây bản địa...

Kết quả cho thấy, trong 14 loài cây trồng trong khối A, có 3 loài:
Shorea roxburrghii; S. ovalis; S. leprosula sinh trưởng chiều cao và đường
kính tốt nhất. Tỷ lệ sống không khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt
ở băng 10m và băng 40m. Băng 20m không thỏa mãn điều kiện sinh trưởng
chiều cao. Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng;
sinh trưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 hàng và 16 hàng.
Trồng rừng dưới tán theo đám hoặc theo băng với cự ly cách đều đã tạo
ra các lâm phần hỗn loài khác nhau trong tự nhiên sau khai thác. Theo Hoàng
Văn Thắng (2002) [23], tại Cote d’lvoire phương thức trồng rừng dưới tán
này được thiết lập với các loài cây gỗ như Hertiera utilis, Khaya invorensis,
Terminalia invorensis, Aucoumea klaineana, Entandrophagma spp, Lovoa
trichilioides, Lophira alata, Guarea cedrata, Entandrophlogma angolense.


5


rừng này. Kết quả đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng
suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất.
Qua những nghiên cứu trên cho thấy, cây bản địa đã được rất nhiều tác
giả quan tâm. Rất nhiều loài có giá trị như: Tếch, Liễu sam... đã được chọn để
phục vụ trồng rừng, về phương thức trồng cây bản địa được áp dụng là trồng
theo băng hoặc theo đám, các nghiên cứu về sự ảnh hưởng lẫn nhau khi trồng


6

hỗn giao. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa đề cập đến độ tàn che tầng cây
cao ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây bản địa trồng dưới tán, chưa nghiên
cứu được biện pháp kỹ thuật gây trồng nhiều loài cây bản địa. Chính vì thế,
việc nghiên cứu độ tàn che tầng cây cao đến sinh trưởng của cây bản địa trồng
dưới tán, biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa là cần thiết, đặc
biệt đối với các loài cây bản địa ở Việt nam.
1.2. Ở trong nước.
1.2.1. Các nghiên cứu cơ sở khoa học chọn loài cây bản địa phục vụ cho
trồng rừng phòng hộ.
Trong những năm qua đã có nhiều những công trình nghiên cứu về các
loài cây bản địa nhằm phục vụ công tác trồng rừng ở nước ta điển hình là các
nghiên cứu sau:
Nghiên cứu về cơ sở khoa học chọn loài cây bản địa trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn điển hình là công trình của Trần Xuân Thiệp (1997) [24]. Theo
tác giả có 2 phương pháp để chọn loài cây bản địa phục vụ cho công tác trồng
rừng đó là thứ nhất: Bố trí thực nghiệm và thử nghiệm (bán sản xuất) rồi đưa
ra trồng rừng; thứ hai: Tổng kết kinh nghiệm gây trồng trong nhân dân để
trồng thử nghiệm hoặc đưa ra thành quy trình kỹ thuật. Tuy nhiên, Nguyễn
Hoàng Nghĩa (1997) [16], lại đưa ra nghịch lý của cây bản địa đó là: Thiếu sự
hiểu biết về đặc điểm của từng loài cây bản địa cụ thể: Nhu cầu về khí hậu,

còn quá ít. Do vậy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu thử nghiệm những loài cây
còn lại mới có thể biến tiềm năng thành hiện thực. Ngoài ra cần tập trung
nghiên cứu và phát triển những cây có giá trị cao để tạo nguồn cây chủ lực
cho từng vùng và cho cả nước.
Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất khi nghiên cứu đề tài: “Xác định cơ
cấu cây trồng và xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ
yếu phục vụ chương trình 327”, trong 2 năm 1997 – 1998 [15] đã chọn được


8

tập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng được quy trình, hướng dẫn kỹ
thuật cho 20 loài như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Muồng đen (Cassia
siamea), Trám trắng (Canarium album), Tếch (Tecktona grandis), Dầu rái
(Dipterocarpus alatus)...
Nguyễn Bá Chất (1995) [2] khi nghiên cứu phục hồi rừng Sông Hiếu
(1981 – 1985) đã thí nghiệm gây trồng hỗn loài Lát hoa (C. tabularis) với các
loài cây lá rộng bản địa khác: Lim xẹt (P. tonkinensis), Giổi (Michelia sp),
Thôi chanh (Evodia bodinieri), Lõi thọ (Gmelina arborea)... nhằm tạo cấu
trúc hợp lý. Theo dõi mô hình rừng hỗn loài đến năm thứ 10 thấy rõ sinh
trưởng rừng Lát hoa hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa thuần loài...Kiểu cấu trúc
rừng Lát hoa hỗn loài có sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên đã được tạo
lập có nhiều ưu điểm về sinh trưởng và phục hồi đất.
Trong báo cáo chuyên đề về cây Huỷnh (Tarrietia javannica Kost), Bùi
Đoàn [31] đã có nhận xét: “Huỷnh được coi là một trong những cây bản địa
chủ yếu trong công tác trồng rừng ở Trung Trung bộ, đặc biệt là ở Quảng
Bình.
Phùng Ngọc Lan (1994) [11], nghiên cứu một số đặc tính sinh thái loài
Lim xanh (E. fordii) đã xác nhận: Vùng phân bố của loài Lim xanh rất rộng
và có mặt ở hầu hết các tỉnh phía bắc nước ta (từ đèo Hải Vân trở ra) với độ

xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev)” có nhận xét: Trong tổ thành rừng tự
nhiên, Trám trắng chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây và 6,84% về trữ lượng ô
tiêu chuẩn. Xét ở trạng thái rừng IIIA1, Trám trắng chiếm tỷ lệ cao hơn so với
IIIA2. Trong rừng rất hay gặp Trám trắng với một số loài cây bạn như Kháo
vàng (Machilus bosii), Dẻ (Castanopsis sp), Lim xẹt (P. tonkinense), Hu đay
(Trema orientalis), Sau sau (Liquidambar formosana), Xoan ta (Melia
azedarach Linn), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Vối thuốc (Schima
wallichii)...
Công trình nghiên cứu làm giầu rừng bằng cây Lim xẹt (P. tonkinense)


10

theo băng trên trạng thái rừng nghèo kiệt sau khi đã khai thác hết các loài cây
gỗ có giá trị ở Nghĩa Đàn (Nghệ An) của Lê Văn Thịnh (2002) [31] đã cho
thấy sau 1 năm trồng, tỷ lệ sống đạt 90%. Cây sinh trưởng khá, phân hóa
đường kính khá rõ, có 60% số cây có đường kính bằng hoặc lớn hơn đường
kính cây trung bình, 30% cây có chiều cao dưới cành bằng 50% chiều cao vút
ngọn trở lên, hình thân thẳng, sau 20 năm thì cành nhánh phát triển mạnh khả
năng sinh trưởng chậm lại.
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [31] khi nghiên cứu cải
tạo rừng nghèo kiệt tại Vũ Mễ (Bắc Sơn) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) bằng
cách trồng bổ sung 2 loài cây bản địa là Dẻ đỏ (Castanopsis hystrix) và Kháo
vàng (Machilus bosii) theo phương thức trồng theo băng hoặc theo đám. Từ
những năm 1972 đến những năm sau 1975 một số lâm trường như Bắc Sơn,
Võ Nhai, Đồng Hỷ đã nhân rộng mô hình trên. Tuy nhiên, cho đến nay việc
đánh giá các mô hình này gặp rất nhiều khó khăn vì đã bị tàn phá.
Một công trình nghiên cứu khác tại Cầu Hai – Phú Thọ (Viện Khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam) [31] cũng đã đưa cây Lim xẹt (P. tonkinense) trồng
theo băng trên thảm cây bụi có chiều cao khoảng 3m. Mở rạch 2m, trồng bằng

trống (công thức 2), thiếu cây phù trợ nên đã trở thành rừng thuần loài và lộ
rõ nhược điểm: Thân ngắn, cong queo, sâu nấm nhiều.
Năm 1988 [31], tại lâm trường Trạm Lập – huyện Kbang – Gia Lai đã
trồng Re gừng (Cinnamomum zeylanicum) trong rạch. Rừng nghèo có chiều
cao trung bình 15m, mở rạch rộng 5m, băng chừa 10m. Trên rạch trồng phát
sạch dây leo, cây bụi. Trồng bằng cây con có bầu 15 tháng tuổi, có chiều cao
30 – 50cm, cự ly cây cách cây 2m. Năm 1993 đo đếm sinh trưởng của Re
gừng cho thấy: Tỷ lệ sống 85%, đường kính trung bình là 3,86cm, chiều cao
bình quân bằng 4,38m. Cây trong băng chừa có hiện tượng che cớm Re gừng.
Sự phân hóa đường kính và chiều cao chưa rõ. Đến năm 2000 điều tra lại thì
tỷ lệ sống chỉ còn 65%, cây phân hóa mạnh, 30% cây có đường kính bình


12

quân 12cm, cao 9m. Cây lớn nhất có D1.3 = 17cm, chiều cao 14,3m. Số cây
còn lại bị băng chừa lấn át. Như vậy, vấn đề tồn tại đặt ra là tác động các biện
pháp kỹ thuật lâm sinh như thế nào để điều chỉnh độ tàn che hợp lý cho cây
Re gừng sinh trưởng và phát triển tốt nhất.
Vi Hồng Khánh (2003) [10] khi đánh giá sinh trưởng của một số loài
cây bản địa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển rừng ở Cầu Hai – Phú Thọ
đã kết luận: Phần lớn các xuất xứ Lim xanh (E. fordii) đều có tỷ lệ sống cao
và sinh trưởng tốt, đồng thời trong 34 loài cây bản địa nơi nghiên cứu đã chọn
được các loài: Lim xanh (E. fordii), Re gừng (C. zeylanicum), Xoan đào
(Pygeum arboreum), Sồi phảng (Castanopsis cerebrina), Chiêu liêu
(Terminalia chebula), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) là những loài
cây mọc nhanh, phát triển tốt, ít bị sâu bệnh có khả năng nhân rộng và phát
triển cho các điều kiện lập địa tương tự.
Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
(2000) [31] đã đề xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồng

năm 1998 thì mô hình này lại có những kết quả khác nhau: Cây bản địa trồng
dưới tán rừng Keo lá tràm có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt,
trong khi đó cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo tai tượng có tỷ lệ sống thấp,
sinh trưởng, phát triển kém và không có triển vọng. Tác giả cho rằng có thể là
do nhu cầu nước của Keo tai tượng giai đoạn này lớn làm cho đất luôn luôn
khô cứng nên cây bản địa dưới tán sinh trưởng rất kém.
Hoàng Vũ Thơ (1998) [26] khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân
tố sinh thái đến sinh trưởng của Lim xanh trồng 5 tuổi dưới tán rừng đã cho
thấy sinh trưởng của Lim xanh tốt nhất ở độ tàn che tầng cây cao từ 10 –
40%.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố đến sinh trưởng và hình
thái của cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo lá tràm ở Bắc Hải Vân, Phạm
Thanh Tùng (2006) [30] đã chỉ ra rằng các loài cây bản địa có khả năng sinh


14

trưởng tốt dưới tán rừng Keo lá tràm là Huỷnh (Tarrietia javannica Kost),
Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb), Chò chỉ (Parashorea chinensis), Sao
đen (Hopea odorata). 6 cây xung quanh và tầng cây trên ảnh hưởng trực tiếp
đến sinh trưởng của các loài cây bản địa trồng dưới tán.
Theo kết quả nghiên cứu của Lại Hữu Hoàn (2004) [6], thì khu vực
Trung Trung Bộ có diện tích rừng trồng cây lá rộng bản địa đến năm 2003 là
34.940ha chiếm 16% diện tích rừng trồng trong vùng. Trong đó, diện tích các
mô hình trồng thử nghiệm dưới tán rừng là 5.621ha. Qua 1 năm điều tra, tác
giả cũng đã đưa ra đề xuất lựa chọn 18 loài cây cho trồng rừng phòng hộ và
đặc dụng, trong đó 7 loài có thể đáp ứng được cho nhu cầu trồng rừng kinh
tế.
1.2.4. Các nghiên cứu về cây bản địa mã vĩ. Xếp thứ 2 là Re hương, đây là loài
được xếp vào nhóm loài có triển vọng khi trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ.


D00
DT
D 00
H VN HVN D T
(cm/năm)
(m/năm)
(m/năm)
(cm)
(m)
(m)

Chất lượng
T

TB

X

30

85,7

5,6

0,94

4,1

0,68 2,1



49

CT 2

Sao đen

30

85,7

3,3

0,54

2,8

0,46 1,7

0,28 36,7 40,0 23,3

Ràng ràng
xanh

30

45,7

2,5


3,2

0,53

2,5

0,41 1,2

0,20 26,7 33,3 40,0

Re hương

30

89,4

5,5

0,91

4,1

0,68 2,3

0,39 30,0 43,3 26,7

Sao đen

30

Không đánh
giá

Không đánh
giá

Từ bảng 4.11 cho thấy tỷ lệ sống của các loài cây bản địa: Lim xanh,
Lim xẹt, Re hương, Sao đen ở cả 2 công thức là khá cao và xấp xỉ nhau (85,7
– 89,4%). Riêng Ràng ràng xanh tỷ lệ sống ở cả 2 công thức đều rất thấp chỉ
còn 42,9 – 45,7% nên không đưa vào phân tích kết quả.
Về khả năng sinh trưởng, Lim xanh là loài sinh trưởng nhanh nhất tỷ lệ
cây tốt cao nhất và chiếm từ 33,3 - 43,3% và tỷ lệ cây xấu thấp nhất chỉ có từ
16,7% - 23,3%. Loài Re hương ở vị trí thứ 2 có tỷ lệ cây tốt là 30,0 - 33,3%,
cây trung bình chiếm đa số với tỷ lệ 43,3- 46,7% và cây xấu chiếm 20,0 26,7%. Xếp ở vị trí thứ 3 là Sao đen có tỷ lệ cây tốt là 26,7 - 36,7%, tỷ lệ cây
trung bình chiếm 40,0 - 46,7%, tỷ lệ cây xấu tương đối thấp chiếm từ 23,3 26,7%. Cuối cùng vẫn là Lim xẹt có tỷ lệ cây xấu cao nhất chiếm tới 36,7 40,0%, tỷ lệ cây tốt chỉ chiếm 16,7 - 26,7% và tỷ lệ cây trung bình là 33,3 46,7%.
- Về chỉ tiêu đường kính gốc (D00): So sánh sinh trưởng đường kính
gốc giữa các loài cây bản địa dưới 2 độ tàn che khác nhau ta thấy: Lim xanh
sinh trưởng nhanh nhất, sau 6 năm đường kính gốc trung bình ( D 00 ) đạt từ 5,6
- 5,7cm, tăng trưởng bình quân năm (D00) đạt 0,94 - 0,95cm/năm. Tốc độ


50

sinh trưởng đường kính gốc của Re hương xếp thứ 2, sau 6 năm đường kính
gốc trung bình ( D 00 ) đạt từ 5,1 - 5,5cm, tăng trưởng bình quân (D00) đạt 0,84
- 0,91 cm/năm. Xếp thứ 3 là Sao đen, đường kính gốc trung bình ( D 00 ) sau 6
năm tuổi đạt từ 3,3 - 3,3cm, tăng trưởng bình quân (D00) đạt 0,54 0,55cm/năm. Cuối cùng sinh trưởng kém nhất là loài Lim xẹt sau 6 năm
đường kính gốc trung bình ( D 00 ) chỉ đạt từ 3,1 - 3,2cm, tăng trưởng bình quân
(D00) đạt 0,51 - 0,53 cm/năm.
- Về chỉ tiêu chiều cao vút ngọn (HVN): Đánh giá tốc độ sinh trưởng

hương và Sao đen, 2 loài này được xếp vào nhóm cây có triển vọng khi trồng
dưới tán rừng Thông mã vĩ. Sinh trưởng chậm hơn các loài đã kể trên là Lim
xẹt, loài này được xếp vào nhóm ít có triển vọng gây trồng dưới tán rừng.
Loài cây không thành công khi gây trồng dưới tán là Ràng ràng xanh, loài này
được xếp vào nhóm không có triển vọng gây trồng dưới tán rừng.
Các đặc trưng mẫu về đường kính gốc, chiều cao vút ngọn và đường
kính tán của các loài cây bản địa tại khu thí nghiệm 2 được tổng hợp ở bảng
4.12.
Từ bảng 4.12, ta thấy: Hệ số biến động của cả đường kính gốc, chiều
cao vút ngọn và đường kính tán của các loài là khá lớn, nhất là hệ số biến
động đường kính tán của Re hương, Sao đen và Lim xẹt. Lim xanh có hệ số
biến động lại nhỏ nhất (22,20 - 27,15%) mặc dù đường kính tán trung bình
( D T ) của Lim xanh xếp thứ 2 chỉ nhỏ hơn đường kính tán trung bình của Re
hương. Đường kính tán trung bình ( D T ) của Re hương là lớn nhất (2,23 2,34m) nhưng hệ số biến động cũng rất lớn (32,12 - 33,63%). Đường kính tán
trung bình của Lim xẹt và Sao đen nhỏ hơn (1,14 - 1,19m và 1,66 - 1,73m)


52

nhưng hệ số biến động lại rất lớn (từ 45,38 - 47,29% và 38,21 - 42,19%).
Điều này chứng tỏ Lim xanh là cây chịu bóng, còn Lim xẹt, Sao đen và Re
hương là cây ưa sáng ít chịu bóng hơn nên nó phụ thuộc vào độ che sáng của
tán rừng thông, nơi nào độ che sáng ít thì tán phát triển mạnh, nơi nào bị che
bóng nhiều thì khả năng sinh trưởng nói chung là kém hơn. Vì vậy, hệ số biến
động đường kính tán lá của Re hương, Sao đen và Lim xẹt là khá lớn.
Bảng 4.12: Các đặc trưng mẫu về đường kính và chiều cao
của các loài cây bản địa tại thí nghiệm 2
Công thức độ tàn che

Loài cây Đặc trưng


33,63

0,68

0,40

0,70

S%

20,90

14,37

42,19

Ràng ràng S
xanh
S%

*

*

*

*

*


0,75

21,55

17,95

32,12

0,65

0,38

0,66

Lim xẹt

250 cây/ha tương ứng với
Re hương

Sao đen

CT 2

Lim xanh

(Mật độ Thông mã vĩ là
200 cây/ha tương ứng với

DT

S
S%
S

S
S%
S
S%
S
S%
S


53

S%

19,59

13,80

38,21

*
*
*
Ràng ràng S
xanh
*
*


4,1 Ft = 0,52

2,1 Ft = 0,37

2

5,7 F05 = 4,01

3,8 F05 = 4,01

2,2 F05 = 4,01

1

4,2 Ft = 0,29

2

5,1 Ft = 0,11
5,5 F05 = 4,01

4,1 F05 = 4,01

2,2 Ft = 0,45
2,3 F05 = 4,01

1

3,1 Ft = 0,19

khác nhau thì sinh trưởng của Lim xanh là tốt nhất đây là loài cây rất có triển
vọng khi trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ. Xếp thứ 2 là Re hương và xếp thứ
3 là Sao đen, đây là 2 loài được xếp vào nhóm loài có triển vọng khi trồng
dưới tán rừng Thông mã vĩ. Và cuối cùng, sinh trưởng chậm nhất là Lim xẹt,
loài cây này được xếp vào nhóm loài ít có triển vọng khi trồng dưới tán rừng.


54

Loài cây không có triển vọng khi trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ là Ràng
ràng xanh.

Ảnh 4.4: Cây Lim xanh 6 tuổi (trồng
năm 2001, ảnh chụp năm 2007)

Ảnh 4.6: Cây Re hương 6 tuổi (trồng
năm 2001, ảnh chụp năm 2007)

Ảnh 4.5: Cây lim xẹt 6 tuổi (trồng
năm 2001, ảnh chụp năm 2007)

Ảnh 4.7: Cây Sao đen 6 tuổi (trồng
năm 2001, ảnh chụp năm 2007)


55

4.3.4. Sinh trưởng của các loài cây bản địa tại khu thí nghiệm 3.
Khu thí nghiệm 3: Rừng Thông mã 28 tuổi, trồng xen cây bản địa dưới
tán năm 2004.

X

Lim xanh

30

92,2 2,8

0,92 1,9

0,63 1,4

0,45 32,3 43,2 24,6

Lim xẹt

30

87,1 1,5

0,51 1,0

0,34 0,6

0,21 21,5 38,2 40,3

Re hương

30



0,13

Lim xanh

30

91,4 2,9

0,97 1,9

0,64 1,3

0,44 32,1 41,3 26,6

Lim xẹt

30

86,5 1,6

0,53 1,1

0,36 0,7

0,22 26,2 36,7 37,2

Re hương

30

0,20 0,4

0,14

Không đánh
giá

Không đánh
giá



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status