Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số xuất xứ loài xoan ta trong giai đoạn vườn ươm ở trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp vùng núi phía bắc trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG QUỐC CƯỜNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ XUẤT XỨ
LOÀI XOAN TA (MELIA AZEDAZACH L.) TRONG GIAI ĐOẠN
VƯỜN ƯƠM - Ở TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÂM NGHIỆP VÙNG
NÚI PHÍA BẮC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm nghiệp

Khoa

: Lâm nghiệp

Khoá

: 2009 – 2013

Giảng viên HD

: TS. Trần Thị Thu Hà

trước lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống
lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất.
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm
Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt
nghiệp với đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số xuất xứ loài
Xoan ta (Melia azedazach L.) trong giai đoạn vườn ươm ở Trung tâm
Nghiên cứu Lâm Nghiệp Vùng núi phía Bắc - Trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên ”. Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận sự giúp đỡ tận tình
của cán bộ công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Vùng núi phía
Bắc, các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là sự hướng
dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn: TS Trần Thị Thu Hà đã giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình làm đề tài.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo
trong khoa Lâm Nghiệp, gia đình, bạn bè đặc biệt là cô giáo TS Trần Thị Thu
Hà đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt
bản khóa luận, nhưng do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế. Vì vậy
bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy tôi rất mong được
sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô giáo và toàn thể các bạn bè đồng
nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 06 năm 2014
Sinh viên

Nông Quốc Cường


DANH MỤC BẢNG
Trang

2.2.1. Trên thế giới ................................................................................................................. 9
2.2.2. Ở Việt Nam ................................................................................................................ 10
2.3. Một số đặc điểm của cây Xoan ta (Melia azedazach L.) .............................................. 12
2.3.1. Phân loại khoa học ..................................................................................................... 12
2.3.2. Đặc điểm hình thái ..................................................................................................... 13
2.3.3. Đặc điểm sinh thái ..................................................................................................... 13
2.3.4. Phân bố địa lý ............................................................................................................ 13
2.3.5. Giá trị kinh tế ............................................................................................................. 13
2.4. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ........................................................................ 14
2.4.1. Vị trí địa lí, địa hình ................................................................................................... 14
2.4.2. Đặc điểm về khí hậu, thuỷ văn .................................................................................. 14
2.4.3. Đặc điểm về đất đai ................................................................................................... 15
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 16
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 16
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................................ 16
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................... 16
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................................ 16


3.2.1. Thời gian nghiên cứu ................................................................................................. 16
3.2.2. Địa điểm tiến hành nghiên cứu .................................................................................. 16
3.3. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................................... 16
3.4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 17
3.5. Các bước tiến hành ....................................................................................................... 17
3.5.1. Vật liệu thí nghiệm .................................................................................................... 17
3.5.2. Tạo hỗn hợp đóng bầu và bố trí thí nghiệm ............................................................... 17
3.5.3. Xử lý hạt giống và gieo cấy cây con vào bầu ............................................................ 18
3.5.4. Chăm sóc và thu thập số liệu ..................................................................................... 19
3.5.5. Nội nghiệp.................................................................................................................. 22
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ........................................................ 28

Việt Nam với địa thế tự nhiên nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió
mùa đã hình thành nên kiểu rừng nhiệt đới nhiều tầng tán, cây cối xanh tốt
quanh năm, thực vật rừng rất phong phú và đa dạng cả về loài cây và về số
lượng, điều này không chỉ làm giàu thêm cho rừng mà nó còn có tác dụng bảo
vệ môi trường khỏi ô nhiễm và còn tránh gây tiếng ồn cho môi trường xung
quanh. Với những lợi thế trên, đất nước ta ngày càng phát triển. Trồng rừng
cảnh quan cũng góp phần làm tăng khả năng phòng hộ của rừng.
Để trồng rừng thành công, đạt hiệu quả cao, một trong những yếu tố
ảnh hưởng quyết định đó là giống, cây con đem trồng phải đảm bảo không
những về số lượng mà phải đảm bảo cả về chất lượng, phát triển nhanh, rút
ngắn chu kì sản xuất và công chăm sóc rừng. Cùng với tập đoàn cây lâm


2

nghiệp như Keo lai, Keo lá tràm, Mỡ, Muồng, Tếch… trồng rừng trên 6 vùng
sinh thái thì cây Xoan ta cũng là cây đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Cây Xoan ta hay còn gọi là xoan nhà, xoan trắng, có danh pháp khoa
học là Melia azedazach L. thuộc chi Xoan (Melia), họ Xoan (Meliaceae), bộ
Bồ hòn (Sapindales). Đứng trước giá trị của cây Xoan ta cùng với nhu cầu về
gỗ thì vấn đề nghiên cứu mở rộng nhân giống, gây trồng loài Xoan ta là rất
cấp thiết.
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay nói chung và tại Thái Nguyên nói riêng
chưa có nghiên cứu sâu về đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Xoan ta có
xuất sứ khác nhau. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã thực hiện đề tài:
“Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số xuất xứ loài Xoan ta (Melia
azedazach L.) trong giai đoạn vườn ươm ở Trung tâm Nghiên cứu Lâm
Nghiệp Vùng núi phía Bắc - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên” Đề
tài này là một giai đoạn trong khảo nghiệm xuất xứ Xoan ta - giai đoạn vườn
ươm - từ đó chọn được xuất xứ thích hợp nhất cho nhân giống và đưa vào sản


PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những vấn đề chính trong cải thiện giống cây rừng
2.1.1. Khái niệm cải thiện giống cây rừng
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của sản xuất nông lâm
nghiệp. Nhờ có giống được cải thiện và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm
canh khác mà năng suất các loài cây nông lâm nghiệp chủ yếu trong những
năm qua dã tăng gấp đôi so với những năm 1960.
Để nắm được khái niệm về cải thiện giống cây rừng cần hiểu ba thuật
ngữ có liên quan với nhau là Di truyền học cây rừng (Forest tree genetics),
chọn giống cây rừng (Forest tree breeding) và cải thiện giống cây rừng
(Forest tree improvement). Những hoạt động giới hạn trong các nghiên cứu di
truyền ở cây rừng gọi là Di truyền học cây rừng. Nhiệm vụ chính của di
truyền học cây rừng là nghiên cứu tính biến dị di truyền của các loài cây rừng,
là xác định mối quan hệ di truyền giữa các cây và các loài cây, là bố trí các
phép lai để xác định sơ đồ lai giống giữa các cây trong loài và khác loài. Đó
chưa phải là mục tiêu của chọn giống. Chọn giống cây rừng là lĩnh vực
nghiên cứu và áp dung các phương pháp tạo giống cây rừng có định hướng
như tăng năng suất. Tạo các sản phẩm mong muốn, có tính chống chịu sâu
bệnh v.v… và nhân các giống này để phát triển vào sản xuất. Còn cải thiện
giống cây rừng là áp dụng các nguyên lý di truyền học và các phương pháp
chọn giống để nâng cao năng suất và chất lượng cây rừng theo mục tiêu kinh
tế cùng với việc áp dụng các biên pháp trồng rừng thâm canh (Zobel và
Talbert, 1984) [14].
Cải thiện giống cây rừng không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng
gỗ và các sản phẩm mong muốn khác là một yêu cầu cấp bách đối với sản


5


vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất rừng. Song việc thâm canh
cũng có vai trò hết sức to lớn.
Qua khảo nghiệm những xuất xứ có năng suất cao nhất và thích hợp
nhất với điều kiện sinh thái của từng vùng sẽ được phát triển vào sản xuất,
những xuất xứ năng suất thấp hoặc không thích hợp sẽ bị loại trừ. Các xuất xứ
tốt nhất thường được dùng để xây dựng rừng giống để lấy giống phát triển
vào sản xuất. Đây cũng là những quần thể làm cơ sở cho việc chọn lọc cây
trội và tiếp tục cải thiện giống về sau.
2.1.3. Một số khái niệm liên quan
Khảo nghiệm loài và xuất xứ chính là sự lợi dụng các biến dị di truyền
có sẵn trong thiên nhiên một cách có cơ sở khoa học, thông qua thực nghiệm
gây trồng trong những điều kiện mới. Đây là phương pháp chon giống nhanh
nhất và rẻ nhất. Muốn tiến hành một cách có hiệu quả các khảo nghiệm xuất
xứ, nhằm đạt được tăng thu lớn nhất từ khảo nghiệm thì cần có những hiểu
biết tối thiểu về chúng.
* Nòi địa lí (geographical race)
Nòi địa lí là một nhánh phụ của loài bao gồm những cá thể giống nhau
về mặt di truyền, có quan hệ với nguồn gốc chung và chiếm một lãnh thổ
riêng biệt do đã thích ứng với lãnh thổ đó qua chọn lọc tự nhiên (Zobel và
Talbert, 1984) [14]. Cũng theo Zobel và Talbert (1984) thì nòi địa lí và xuất
xứ là những khái niệm tương đồng. Tuy vậy, nòi địa lí là thuật ngữ mang tính
sinh thái di truyền, trong lúc xuất xứ lại mang tính chất là nguồn gốc giống,
thường được ding trong công tác chọn giống.
* Xuất xứ (provenance)
Tuỳ theo đặc điểm sinh thái mà mỗi loài cây đều có phạm vi phân bố
nhất định. Loài có biên độ sinh thái rộng thì có phạm vi phân bố lớn, loài có
phạm vi phân bố hẹp thì có phạm vi phân bố nhỏ. Mỗi một khu phân bố có



8

* Lô hạt (seedlot)
Là một khái niệm để chỉ hạt giống được thu hái trong một lần cụ thể do
một nhóm người cụ thể thực hiên ở một khu rừng cụ thể (Zobel và Talbert,
1984) [14]. Một lô hạt thường có một số hiệu nhất định. Vì thế một xuất xứ có
thể bao gồm một số lô hạt có chất lượng khác nhau. Thí dụ, trong một khảo
nghiệm xuất xứ cho Bạch đàn trắng Camal (E.camaldulensis) tại Mã Đà
(Đồng Nai) xuất xứ Katherin gồm hai lô hạt là 13801 và 13923. Sau 5 năm lô
hạt 13803 có chiều cao là 7,34m, đường kính là 6,98cm, thể tích thân cây là
0,0178m3/cây thì lô hạt 13923 có các chỉ tiêu trên tương ứng là 6,72m,
5,54cm, và 0,0102m3/cây (Hoàng Chương, 1996) [3]. Vì vậy khi khảo nghiệm
xuất xứ bao giờ cũng phải chú ý đến lô hạt.
2.1.4. Vị trí của thiết kế thí nghiệm vườn ươm trong công tác khảo nghiệm
xuất xứ
Thiết kế thí nghiệm vườn ươm và đánh giá sớm là một trong những
bước cần thiết để thực hiện khảo nghiệm xuất xứ. Trật tự công việc khi khảo
nghiệm xuất xứ được xếp như sau:
- Xác định mục tiêu khảo nghiệm xuất xứ.
- Tham khảo tài liệu.
- Xây dựng kế hoạch khảo nghiệm.
- Chọn xuất xứ cho khảo nghiệm.
- Thiết kế thí nghiệm vườn ươm và đánh giá sớm.
- Thiết kế xây dựng khảo nghiệm ở giai đoạn rừng trồng.
- Đánh giá khảo nghiệm.
Thiết kế thí nghiệm vườn ươm vừa để tạo ra cây giống cho trồng rừng
khảo nghiệm ở giai đoạn sau, vừa để thu thập số liệu và đánh giá ban đầu về
khả năng sinh trưởng của cây khảo nghiệm. Đánh giá ở giai đoạn vườn ươm




10

của P.caribaea var. Hondurenssis, tiếp đến là P.caribaea var. bahamensis và
cuối cùng là P.caribaea var. caribaea (Bell, 1978) [10]. Các khảo nghiệm sau
này ở nhiều nước khác cũng đi đến kết luận tương tự. Khảo nghiệm xuất xứ
cho Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông nhựa (P. merkusii) và một số loài
thông nhiệt đới khác cũng được xây dựng vào thời kỳ này.
Vào những năm 1970 một loạt các khảo nghiệm xuất xứ cho một số
loài cây lá rộng cũng được xây dựng ở nhiều nước nhiệt đới. Đó là Teck
(Tectona grandis), Lõi thọ (Gmelina arborea), các loài Bạch đàn Eucalyptus
camaldulensis, E.tereticornis, E.tereticornis, E.urophylla, E. cloeziana và
nhiều loài Bạch đàn khác.
Đến nay, về cơ bản các nhà chọn giống cây rừng đã biết được các xuất
xứ tốt nhất trong một số loài Bạch đàn và một số loài Xoan chủ yếu. Những
xuất xứ này có thể cho năng suất gấp 2 - 4 lần những xuất xứ kém nhất được
đưa vào khảo nghiệm.
2.2.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, có thể nói khảo nghiệm loài được bắt đầu từ những năm
1930 khi các nhà lâm nghiệp người Pháp xây dựng các khu khảo nghiệm cho
Lim xanh (Erythrophloeum fordii). Ngân hoa (Grevillia robusta), Bạch quả
(Ginkgo biloba). Long não (Cinnamomum camphora), Bạch đàn trắng carman
(Eucalyptus camaldulensis), Bạch đàn đỏ (E.robusta), v.v…ở một số vùng
sinh thái chính trong cả nước (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003) [5].
Trong những năm 1950 đã xây dựng được các khu khảo nghiệm loài
cho 18 loài Bạch đàn ở vùng Đà Lạt như Eucaluptus saligna, E.microcorys,
E.camaldulensis,

E.maculate



Pradiata,

Fokienia

P.taiwanensis,

hodginsii,

Cupresus

P.pinea,
benthami,

C.pyramidalis, C.funebris, C.macrocarpa, Calitris obtuse, C.robusta,
C.cupresiformis, v.v… Đến nay chỉ còn lại một số loài như P.caribaea,
P.patula, Calitrisobtuse, trong đó P.caribaea var.Hondurensis tuy không cho
hạt hữu thụ, song là loài cây rất có triển vọng để gây trồng ở vùng Lang Hanh
(có độ cao 900-1000m) của Đà Lạt. Cùng thời gian này một số loài keo
(Acacia spp) cũng được đưa vào khảo nghiệm mà đến nay loài Keo lá tràm
(Acacia auriculiformis) đã được trồng như một nguồn giống tại chỗ ở vùng
Đông Nam Bộ, còn loài Mimosa (Acaciapodalyriifolia) thì trở thành loài cây
tượng trưng cho thành phố Đà Lạt với bài hát quen thuộc cùng tên (Lê Đình
Khả và Dương Mộng Hùng, 2003) [5].
Từ những năm 1970, việc xây dựng các khu khảo nghiệm loài - xuất xứ
cho một số cây chủ yếu đã được thực hiện ở một số lập địa chính trong cả
nước. Đó là các loài Thông như Pinus caribaea (với cả ba thứ là P.caribaeae
var.Hondurensis, P.caribaea var.bahamensis và P.caribaea var.caribaea),
P.oocarpa, P.kesiya, P.mercusii và các loài Thông khác. Các loài Bạch Đàn
chủ yếu được khảo nghiệm là Bạch đàn trắng camal (Eucalyptus

Tên gọi khác: xoan nhà, xoan trắng
Phân họ: Xoan (Meliaceae)
Thuộc chi Xoan (Melia)
Bộ Bồ hòn (Sapindales)


13

2.3.2. Đặc điểm hình thái
Cây gỗ cao 20 - 25 m, thân thẳng, tán thưa. Vỏ ngoài màu nâu xám,
trơn. Cành non có lông.
Lá kép lông chim lẻ 2 - 3 lần, mọc cách. Lá nhỏ hình trứng hay hình
mũi mác. Cuống lá có lông.
Cụm hoa hình chùy mọc ở nách lá, hoa đều, lưỡng tính.
Quả hạch, vỏ ngoài nạc, vỏ trong hóa gỗ, quả có 4 - 5 ô, mỗi ô chứa 1 hạt.
2.3.3. Đặc điểm sinh thái
Xoan ta là loài cây ưa sáng, ưa khí hậu nóng ẩm, sinh trưởng và phát
triển mạnh trên nhiều vùng đất khác nhau từ đất chua đến đất kiềm hoặc hơi
mặn, trồng sau khoảng 5-6 năm là có thể thu hoạch và nếu trồng lấy gỗ lớn thì
kéo dài từ 8-10 năm. Đặc biệt cây Xoan ta có khả năng tái sinh (mọc lại từ
gốc cũ đã thu hoạch cây) từ 3-4 lần. Trước nhu cầu lớn về gỗ, cùng với đó gỗ
rừng tự nhiên ngày càng khan hiếm thì gỗ Xoan ta trở nên có giá trị được
người dân trồng nhiều và tập trung. Chính vì vậy, Xoan ta đã được xác định là
cây trồng rừng sản xuất chủ yếu của 6 trên 9 vùng sinh thái lâm nghiệp Việt
Nam (Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2005 [1]).
2.3.4. Phân bố địa lý
Trên thế giới: phân bố tự nhiên ở Lào, Campuchia, Trung Quốc
Ở Việt Nam: dọc theo từ Bắc vào Nam hầu như tỉnh nào cũng có sự
phân bố của cây xoan, chúng mọc tự nhiên hoặc được trồng.
Xoan ta là cây ưa sáng, tái sinh rất mạnh trên các nương rẫy. Ưa khí

học Nông lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực thành phố Thái Nguyên nên
mang đầy đủ đặc điểm của thành phố Thái Nguyên. Theo Trung tâm khí
tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên thì TP. Thái nguyên thuộc vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa (mùa nóng-ẩm) bắt đầu từ tháng 5 - 9, nhiệt độ bình quân
tháng từ 230C - 290C (tháng nóng nhất là tháng 6 nhiệt độ trung bình là


15

29,30C), lượng mưa khá lớn phổ biến từ 1800mm - 2400mm và mưa tập trung
vào các tháng 5,6,7 chiếm 85% lượng mưa cả năm.
Mùa khô (khô - lạnh) kéo dài từ tháng 10 - tháng 4 năm sau, có nhiệt độ
bình quân tháng dưới 20oC (tháng lạnh nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình là
15,50C ). Tổng số giờ nóng trong năm dao động từ 1300-1750 giờ nhưng phân
bố không đều trong các tháng. Độ ẩm không khí bình quân từ 75 - 85% thời
tiết khô hanh kéo dài. Lượng mưa bình quân hàng năm từ 2000mm 2500mm, nhiệt độ bình quân hằng năm là 200C - 300C, tháng cao nhất là 400C
thấp nhất là 90C - 110C.
Nhìn chung khí hậu ở đây nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa lớn, độ
ẩm cao, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây trồng tại
vườn thực vật.
2.4.3. Đặc điểm về đất đai
Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất
feralit phát triển trên phát triển trên phiến thạch sét (Fs) có mầu vàng đỏ thích
hợp với cây lâm nghiệp và cây công nghiệp. Theo kết quả phân tích mẫu đất
của trường thì ta nhận thấy:
Bảng 2.1. Kết quả phân tích mẫu đất

đất (cm)

10 – 30

0.670 0.058 0.211 0.060

3.06

0.12 0.12

3.9

30 – 60

0.711 0.034 0.131 0.107 0.107

3.04 3.04

3.7

(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nguyên)


16

PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài Xoan ta có xuất xứ từ Ninh Thuận, Bình
Thuận, Thanh Hóa và Bắc Kạn.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu

Hỗn hợp đóng bầu: 85% đất thịt + 5% lân + 10% vỏ trấu (% thể tích),
sàng bằng sàng có lỗ 0.5cm
Xoong đun nước, 4 chiếc ca, một xô đựng nước, thùng tưới có vòi hoa
sen, bình phun tay loại 1,5 lít, thuốc phòng trừ sâu bệnh như Boocđo nồng độ
1% , COC 85, Bassa 50ND, Methyl parathion 0,1%.Phân bón NPK pha loãng
1%, sulphát đạm và supe lân nồng độ 0,1% - 0,2% tưới 2,5 lít/m2.
Dụng cụ thước đo chiều cao, thước kẹp pan me, dây màu, giấy bút, …
3.5.2. Tạo hỗn hợp đóng bầu và bố trí thí nghiệm
- Hỗn hợp đóng bầu: Để đảm bảo tỷ lệ sống cao khi trồng và đảm bảo
tiêu chuẩn cây con, ta gieo hạt vào bầu polyêtylen, bầu có kích thước là
8x12cm. Hỗn hợp ruột bầu gồm có đất tầng A đã qua sàng loại bỏ tạp chất,
phân lân và trấu để tăng độ xốp cho đất sau đó tiến hành đóng bầu và xếp vào
luống với chiều rộng là 25 bầu và chiều dài luống là khoảng 155 bầu.
- Quây lưới kín xung quanh khu vực bố trí thí nghiệm.
- Bố trí thí nghiệm:
Thiết kế khảo nghiệm theo khối hoàn thiện ngẫu nhiên gọi là “Thiết kế
theo cột - hàng” (“Row-Column Design”). Hoàn chỉnh gồm 4 công thức và 3
lần nhắc lại, tất cả có 12 ô thí nghiệm; các công thức thí nghiệm được bố trí


18

cách nhau 1m, mỗi ô có 100 cây, dung lượng mẫu quan sát là 30 cây trong 1
ô. Trong 4 công thức tương ứng với 4 xuất xứ khác nhau. Sơ đồ bố trí thí
nghiệm cụ thể như sau:
Trong đó:

- Công thức I:Xuất xứ Ninh Thuận
- Công thức II: Xuất xứ Bình Thuận
- Công thức III: Xuất xứ Thanh Hoá

IV

Sơ đồ bố trí thí nghiệm các công thức giống gieo ươm
3.5.3. Xử lý hạt giống và gieo cấy cây con vào bầu
* Xử lý hạt giống:
Xử lý hạt bằng nước nóng. Ngâm hạt trong nước có nhiệt độ 70 - 80
trong 24 giờ, sau đó xả sạch bằng nước lạnh và đen ủ tiếp 3 - 4 ngày rồi đem
gieo. Ngoài ra có thể sử dụng phương pháp đốt để xử lý hạt giống: đào hố,
cho hạt xuống, lấp một lớp đất bột, tủ rơm rạ rồi đốt. Sau khi đốt trộn đều tro
nóng với hạt trong hố, ủ từ 2 - 3h rồi đem gieo.
* Gieo hạt
Gieo hạt vào bầu đất đã được chuẩn bị sẵn, gieo vào mỗi bầu 1 hạt, sau
đó lấp một lớp đất mịn vừa kín hạt. Mỗi hạt sau này có thể mọc lên 3 - 4 cây
do vậy phải tỉa bớt, mỗi bầu chỉ để lại 1 cây tốt nhất, có thể chọn những cấy
tốt cấy vào những bầu hạt không mọc, chỉ cấy cây khi còn nhỏ (khoảng 2
tháng tuổi), cây cao dưới 15cm.


19

3.5.4. Chăm sóc và thu thập số liệu
* Chăm sóc:
Các lô hạt được gieo đồng thời ngày 22/1/2014 tương ứng với sơ đồ bố
trí thí nghiệm như ở trên. Lúc này thời tiết đã ấm dần nên hạt nảy mầm khá
nhanh. Cây con trong giai đoạn này cần có đủ độ ẩm nên tuỳ theo thời tiết mà
mỗi ngày cần phải tưới 1 hoặc 2 lần, sau khi cây ổn định tiến hành phá váng,
làm cỏ cho cây. Dùng que tre vót nhọn đầu chọc đều trên mặt bầu ở độ sâu
khoảng 1 - 1,5cm tránh làm ảnh hưởng đến bộ rễ của cây.
* Phòng trừ sâu bệnh hại
Trong quá trình chăm sóc theo dõi sâu bệnh hại, Cây con ở giai đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status