HẠCH DI căn SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ TUYẾN GIÁP - Pdf 44

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tuyến giáp (UTTG) là bệnh ác tính hay gặp nhất trong các loại
ung thư của hệ nội tiết, theo Hiệp hội quốc tế phòng chống ung thư (UICC)
UTTG chiếm khoảng 90% tổng số các ung thư tuyến nội tiết và khoảng 1%
tổng số các ung thư nói chung [1], [2]. Tỷ lệ này cao hơn ở các nước có bệnh
bướu cổ lưu hành địa phương, bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam, xuất hiện ở mọi
lứa tuổi song nhóm tuổi hay gặp nhất là 7 – 20 tuổi và 40 – 65 tuổi. Trên thế
giới tỷ lệ mắc UTTG biến đổi từ 0,5 – 10/100.000 dân tùy thuộc vào chủng
tộc và vùng địa lý [1], [2]. Ở Việt Nam số liệu thống kê cho thấy tại Hà Nội tỷ
lệ mắc bệnh là 1,9/100.000 dân, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn nam 2,6 lần; tại
thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc bệnh ở nữ là 2,8/100.000 dân, và ở nam là
1,5/100.000 dân. Các yếu tố nguy cơ gây ung thư tuyến giáp như tiền sử tia xạ
vùng đầu cổ, gia đình có người bị ung thư tuyến giáp... [1], [4], [6].
Về mô bệnh học, UTTG được chia thành các loại: UTTG thể biệt hóa (thể
nhú và thể nang), UTTG thể tủy và UTTG thể không biệt hóa.... Các thể bệnh có
tiến triển lâm sàng, cách điều trị và tiên lượng khác nhau. Nhìn chung UTTG thể
biệt hóa thường tiến triển âm thầm, ít có biểu hiện lâm sàng ở giai đoạn sớm, tỷ
lệ cao đối với bệnh u giáp thể nhân (đơn nhân hay đa nhân). Ở Mỹ có 4 – 8%
người lớn có u giáp thể nhân và gần 10% bướu thể nhân là ung thư [1], [2].
Về lâm sàng, UTTG thể biệt hóa thường biểu hiện bằng khối u giáp ở
giai đoạn sớm hoặc một ung thư biểu hiện rõ trên lâm sàng với đầy đủ tính
chất ác tính, nhưng cũng có khi chỉ là hạch cổ di căn đơn độc [3], [4]. Vấn đề
di căn hạch là một trong những đặc tính cơ bản của ung thư biểu mô, đặc biệt
trong ung thư biểu mô tuyến giáp, nó là dấu hiệu lâm sàng quan trọng giúp
chẩn đoán và điều trị.


Về điều trị, phẫu thuật là phương pháp được lựa chọn đầu tiên đối với
UTTG thể biệt hóa [3], [4]. Theo khuyến cáo của Hiệp hội Ung thư quốc tế
thì các bệnh nhân UTTG cần được phẫu thuật cắt TGTB + vét hạch cổ phối
hợp với điều trị xạ I131 sau mổ nhằm xóa bỏ mô giáp còn sót lại, diệt những ổ

sinh ra các tuyến cận giáp trên, còn tuyến cận giáp dưới xuất phát từ túi mang
nội bì thứ 3.
1.1.2. Sơ lược giải phẫu tuyến giáp
1.1.2.1. Hình thể ngoài
Tuyến giáp ôm quanh gần hết thanh khí quản, nằm ở giữa phía trước dưới
của cổ. Gồm hai thùy phải và trái được nối với nhau bởi eo tuyến giáp, đôi khi có
tháp giáp tách từ bờ trên của eo giáp. Thùy phải tuyến giáp thường to hơn thùy
trái. Trọng lượng tuyến giáp ở người lớn trung bình từ 25 – 30g [13], [14].


* Thùy tuyến: Mỗi thùy bên tuyến giáp có hình nón, đỉnh hướng lên
trên và ra ngoài tới ngang mức đường chếch của sụn giáp, đáy của thùy
xuống tới ngang mức vòng sụn khí quản 4 hoặc 5. Thùy tuyến cao 5cm,
chỗ rộng nhất đo được khoảng 3cm và dày 2cm. Thùy tuyến giáp có ba
mặt, hai bờ và hai cực [14].
+ Các mặt
- Mặt trước ngoài liên quan với cân cơ vùng dưới móng.
- Mặt sau liên quan với mạch, thần kinh và tuyến cận giáp.
- Mặt trong liên quan với thanh quản, khí quản, thực quản, với nhánh ngoài
của thần kinh thanh quản trên và với thần kinh thanh quản quặt ngược.
Do những liên quan này khi bị chèn ép do khối u sẽ gây khó thở, khàn
tiếng, nuốt vướng.
+ Các bờ tuyến giáp
- Bờ trước liên quan với nhánh trước của động mạch giáp trên.
- Bờ sau liên quan với tuyến cận giáp, ở dưới liên quan với động mạch
giáp dưới.
+ Các cực tuyến giáp
- Cực trên liên quan với động mạch giáp trên.
- Cực dưới liên quan với bó mạch giáp dưới, bên trái liên quan đến ống ngực.
* Eo tuyến giáp

trước khí quản và đổ vào các tĩnh mạch cánh tay đầu phải và trái.

Hình 1.2. Mạch máu nuôi dưỡng tuyến giáp

(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Nnetter - NXB Y học - 1996)
* Thần kinh
Gồm những sợi giao cảm đi từ các hạch giao cảm cổ trên, giữa và dưới.
+ Dây thanh quản trên: Chạy vòng quanh, sau đó bắt chéo mặt trong
của ĐM cảnh trong tới bờ trên xương móng chia làm 2 nhánh trong và ngoài:


- Nhánh trong: Chạy ngang vào màng giáp – móng và tận hết ở thanh quản.
- Nhánh ngoài: Là nhánh dưới của dây thanh quản trên, nếu bị tổn
thương dẫn đến khó nói do mất sự điều chỉnh âm thanh.
+ Dây thanh quản dưới phải: Sinh ra từ dây X ở chỗ bắt chéo với phần
đầu tiên của động mạch dưới đòn. Chạy quặt ngược lên ở trong mặt bên của
khí quản, trước thực quản, đi sau dây chằng bên Berry, vào trong thanh quản
ở bờ dưới bó nhẫn – hầu của cơ căng màn hầu dưới. Dây quặt ngược thường
phân chia ở chỗ bắt chéo với nhánh của động mạch giáp dưới. Chỉ có nhánh
vào thanh quản mới là nhánh vận động.
+ Dây thanh quản dưới trái: Tách ra từ dây X ở bờ dưới quai động mạch chủ.
1.1.2.3. Tuyến cận giáp

Hình 1.3. Vị trí của tuyến cận giáp và dây thanh quản

(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Nnetter - NXB Y học - 1996)
Tuyến cận giáp là những tuyến nội tiết nhỏ dẹt, hình bầu dục, màu vàng
nâu, nằm ở bờ sau của thùy tuyến giáp và trong bao tuyến. Kích thước trung
bình của tuyến dài 6mm, rộng 3 – 4mm và dày khoảng 1 – 2mm, nặng khoảng
50mg. Có từ 2 – 6 tuyến, thường là 4 tuyến, mỗi bên có 2 tuyến, một trên và

Mặt trong của vỏ xơ có một lớp mô liên kết thưa hơn, dính chặt với nhu mô
tuyến. Từ vỏ bọc ngoài nhu mô tuyến, mô liên kết mang theo mạch máu,
mạch bạch huyết, dây thần kinh tiến vào trong tuyến tạo thành một nền liên
kết. Tuyến giáp là một tuyến nội tiết kiểu túi, gồm những túi tuyến (nang
tuyến) có quan hệ mật thiết với các mao mạch máu và mao mạch bạch huyết
nằm trong mô liên kết xen giữa các túi ấy. Lòng túi tuyến chứa một chất dạng
keo gọi là chất keo tuyến giáp do tế bào nang tiết ra [9].
* Cấu tạo vi thể
- Các nang tuyến
Mỗi nang tuyến là một khối hình cầu có đường kính 0,2 – 0,9 mm,
thành túi là biểu mô đơn, cấu tạo bởi hai loại tế bào là tế bào nang (hay tế bào
chính) và tế bào cận nang (tế bào C), lót ngoài biểu mô là màng đáy.
+ Tế bào nang: những tế bào nang có thể là tế bào dẹt hoặc có hình
khối vuông hoặc hình trụ tuỳ thuộc vào trạng thái hoạt động của tế bào. Nhân
nằm ở trung tâm tế bào, hình cầu hay hình trứng, ít chất nhiễm sắc, chứa 1 – 2
hạt nhân. Bào tương ưa base, còn chất keo chứa trong lòng túi tuyến ưa acid.
+ Tế bào cận nang: Những tế bào cận nang lớn gấp 2 – 3 lần tế bào
nang, nằm rải rác xen vào giữa tế bào nang và màng đáy nhưng không tiến
tới mặt trong của thành túi tuyến giáp. Nhân tế bào hình cầu hay hình


trứng, bào tương sáng, nhiều lưới nội bào và có những hạt chế tiết đường
kính 0,1 – 0,4 µm tập trung ở vùng đáy tế bào. Các tế bào cận nang tiết ra
Calcitonin và Somatostatin [9].


- Những mao mạch
Những mao mạch máu nằm trong mô liên kết xen giữa các túi tuyến và
có quan hệ mật thiết với các túi tuyến. Chúng được lót ngoài bởi màng đáy và
là mao mạch có lỗ thủng (có cửa sổ). Trong mô liên kết còn có nhiều mao

+ Làm tăng tốc độ phát triển: ở trẻ có quá thừa nội tiết tố tuyến giáp sự
phát triển của xương nhanh hơn nên trẻ cao sớm hơn so với tuổi.
1.1.3.2. Tác dụng chuyển hoá
Nội tiết tố tuyến giáp làm tăng hoạt động chuyển hóa của hầu hết các
mô trong cơ thể, tăng tốc độ các phản ứng hóa học, tăng tiêu thụ và thoái
hóa thức ăn [10], [11], [16].
1.1.3.3. Tác dụng lên chuyển hóa glucide, lipide và protein
Thyroxin làm tăng hấp thu đường qua ruột và tăng đường huyết nên
cường giáp có thể gây tiểu đường. Thyroxin kích thích tạo cholesterol, tăng
chuyển hóa protein trong cơ thể làm tăng bài tiết N2 vì thế bệnh nhân giảm cân,
tăng bài tiết creatinine trong nước tiểu trong bệnh cường giáp [10], [11], [16].
1.1.3.4. Tác dụng lên hệ tim mạch, hệ thần kinh cơ, cơ quan sinh dục và
các tuyến nội tiết khác
Nếu lượng hormone tuyến giáp tăng cao sẽ làm tăng huyết áp, tăng
nhịp tim. Trên hệ thần kinh, nếu tăng kích tố tuyến giáp sẽ gây cau có, khó
chịu; ngược lại nếu giảm sẽ làm chậm phát triển trí khôn và thể lực…
1.2. ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC UNG THƯ TUYẾN GIÁP
1.2.1. Dịch tễ học yếu tố nguy cơ
1.2.1.1. Dịch tễ học
Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại ung thư, tỷ lệ này cao
hơn ở các nước có bệnh bướu cổ địa phương. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở


nam là 3/100.000 dân/năm, ở nữ cao hơn từ 2 – 3 lần, tỷ lệ này ít có sự khác
biệt giữa các vùng khác nhau trên thế giới, tuy nhiên ở một vài cộng đồng dân
cư thì tỷ lệ này cao hơn (gồm phụ nữ ở quần đảo Pacific Polynesia, dân ở
Philippin di cư đến Hawaii và Hoa Kỳ) [1].
Ung thư tuyến giáp gặp ở mọi lứa tuổi với hai đỉnh cao là 7 – 20 tuổi và
40 – 65 tuổi, với tỷ lệ nam/nữ là 1/3 [17].
Theo số liệu nghiên cứu từ 1988 đến 1992 của trung tâm Central Valley

ung thư thể nang.
Nhưng hiện nay chức năng của các gen này còn ít được biết, vẫn đang
tiếp tục nghiên cứu. Việc nghiên cứu các bất thường phân tử gây ra ung thư
tuyến giáp có một tầm quan trọng trong lâm sàng vì sự nhận định những yếu
tố tăng trưởng có liên quan đến sự tăng sinh của khối u có thể sử dụng làm
nền tảng cho các biện pháp điều trị mới [2], [17], [22].
1.2.2. Tiến triển của ung thư tuyến giáp thể biệt hóa
Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa có tốc độ phát triển rất chậm với thời
gian nhân đôi trên 1 năm, tiến triển tự nhiên trong nhiều năm.
- Sự phát triển tại chỗ, xâm lấn vỏ bao tuyến giáp và các cấu trúc xung quanh
như thực quản, khí quản, thanh quản, xâm nhiễm da phụ thuộc vào phân loại giải
phẫu bệnh và thời gian phát hiện bệnh [17], [23], [24], [25], [26].
- Di căn xa:
+ Ung thư thể nhú thường di căn hạch vùng cổ, có thể di căn sớm ngay cả
khi u còn nhỏ, khoảng 40% có di căn hạch vùng ở thời điểm chẩn đoán. Di căn
xa theo đường máu chiếm khoảng 10% và có từ 1 – 2% di căn xa ở thời điểm
chẩn đoán ban đầu [2], [22], [24].


+ Ung thư thể nang ít di căn hạch cổ hơn thể nhú, thường di căn xa theo
đường máu tới phổi, xương. Theo y văn, di căn hạch gặp 5 – 20% và di căn xa
2 – 5% ở thời điểm chẩn đoán [17], [24].
- Tái phát tại chỗ: Nguyên nhân của tái phát tại chỗ là sự hoạt động trở
lại của tế bào u ban đầu do điều trị không loại bỏ được hoàn toàn tế bào u.
1.2.3. Phân loại mô bệnh học (MBH)
Dựa vào kết quả sinh thiết người ta có thể phân loại mô bệnh học ung thư
tuyến giáp theo Tổ chức Y tế thế giới (1998) như sau [5]:
U ác tính:
1. Ung thư biểu mô nhú
Biến thể:

- Các loại ung thư khác như ung thư tổ chức liên kết (sarcom), lympho,
ung thư do di căn từ cơ quan khác tới chiếm tỷ lệ thấp.
Hiện nay phân loại mô bệnh học gồm bốn loại chính được hầu hết các
tác giả và đặc biệt là UICC và AJCC sử dụng trong thực hành lâm sàng và
nghiên cứu gồm: [2], [28]
- Ung thư thể nhú và nhú nang.
- Ung thư thể nang.
- Ung thư thể tuỷ.
- Ung thư thể không biệt hoá.
1.2.4. Các yếu tố tiên lượng
Bên cạnh phân loại mô bệnh học, phân loại TNM và giai đoạn bệnh nhiều
tác giả đã đề cập đến các yếu tố liên quan đến tiên lượng của bệnh nhân ung thư
tuyến giáp [17], [18], [27]. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh bao gồm:
- Đặc điểm của khối u: Kích thước u, mức độ xâm lấn của khối u, tình trạng di
căn hạch, di căn xa…
-

Mô bệnh học: Ung thư thể nhú, thể nang có tiên lượng tốt, theo Hundahl
(1998) tỷ lệ sống thêm 10 năm là 93% với ung thư thể nhú, 85% với ung thư
thể nang.

- Các đặc điểm về tuổi, giới tính, tiền sử gia đình, sự hoàn thiện của phẫu thuật
và điều trị bổ sung sau phẫu thuật có liên quan tới tỷ lệ tái phát hơn là tỷ lệ
sống.
1.2.5. Các phương pháp chẩn đoán ung thư tuyến giáp


1.2.5.1. Chẩn đoán lâm sàng
* Triệu chứng cơ năng
- Giai đoạn đầu: triệu chứng cơ năng thường nghèo nàn, ít có giá trị. Đa

- Chụp X quang phổi, xương: Có giá trị đối với những bướu giáp nằm sau
xương ức, tìm tổn thương di căn ở phổi, xương [25], [26].
- Chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ: Có thể đánh giá chính xác hơn vị trí
của u nguyên phát cũng như mức độ xâm lấn của u nhưng không có khả năng
phân biệt u lành hay u ác.
* Siêu âm
Siêu âm tuyến giáp là phương tiện chẩn đoán hình ảnh quan trọng trong
khảo sát các bệnh lý của tuyến giáp. Phương tiện này có ưu điểm là an toàn,
không độc hại, rẻ tiền và rất hiệu quả để phát hiện bản chất u là đặc, nang hay
hỗn hợp. Siêu âm đánh giá chính xác kích thước, vị trí u tuyến giáp, kể cả
những nhân không sờ thấy trên lâm sàng, phát hiện hạch vùng cổ mà lâm sàng
không thăm khám được. Siêu âm có khả năng phát hiện một số dấu hiệu nghi
ngờ ác tính: giới hạn không rõ, có chồi sùi trong nang, mạch máu tăng sinh,
vôi hoá…Siêu âm ngày càng được sử dụng nhiều để hướng dẫn làm chọc hút
tế bào bằng kim nhỏ [2], [29], [30].

Thể đặc

Thể hỗn hợp

Giảm âm

Hình 1.6. Một số hình ảnh của siêu âm tuyến giáp

Thể nang


(Trích từ “La Thyroide” - NXB L’Expansion scientiphique Francaise – 1992)
* Xạ hình tuyến giáp và xạ hình toàn thân: thường dùng I131
- Phần lớn ung thư tuyến giáp không bắt I 131 và biểu hiện bằng nhân

hướng tự che phủ, nhạt màu gọi là “nhân thủy tinh mờ”. Bào tương tế bào
sáng hay ưa acid. Hầu như bao giờ cũng gặp các cấu trúc túi tuyến, đôi khi
còn chiếm ưu thế. Những ổ nhỏ calci, hình cầu hay gặp trong ung thư biểu mô
nhú nhưng hiếm gặp trong các tổn thương khác.
+ Biến thể cấu trúc: Ung thư biểu mô nhú xơ cứng không vỏ bọc (thầm
lặng) là một loại cấu trúc của ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú. Đường
kính thường dưới 1 cm và tiềm ẩn về lâm sàng, chỉ phát hiện được sau khi có
di căn hạch cổ. Loại u này xâm nhiễm nhu mô giáp kế cận và có một trung
tâm xơ đôi khi chứa cầu canxi.
- Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang:
+ Đại thể: Có hai hình thái: cục nhỏ có vỏ bọc rất giống u tuyến nang,
hoặc khối u xâm lẫn rõ toàn bộ một thùy mà tuyến to không đều. Chất u xám
trắng, có thể lan qua vỏ để dính hay xâm lấn khí quản, cơ, da và cách mạch
máu lớn vùng cổ.
+ Vi thể: cấu trúc và tế bào u giống như tuyến giáp đang hình thành hay
thành thục, không thấy bất kỳ cấu trúc nhú nào. U cấu tạo bởi những nang có
đường kính thay đổi hoặc kết hợp những túi nang, nhân đặc và tăng sắc. Bào
tương thường giống bào tương bào nang bình thường.
* Chẩn đoán sinh hóa
Định lượng Thyroglobulin: có giá trị cao trong theo dõi sau phẫu
thuật cắt TGTB và điều trị I 131 để tìm tái phát và di căn.


Định lượng T3, fT4, TSH để chẩn đoán phân biệt Basedow.
1.2.6. Điều trị ung thư tuyến giáp
Điều trị ung thư tuyến giáp bao gồm các biện pháp: Phẫu thuật, điều
trị ức chế TSH, điều trị bằng I131, tia xạ, hóa chất [27]. Chiến thuật điều trị
phụ thuộc vào thể bệnh và giai đoạn bệnh... Để có hiệu quả tốt cần sự phối
hợp chặt chẽ giữa các bác sỹ chuyên ngành ung thư, các phẫu thuật viên và
các bác sỹ y học hạt nhân.

- Chỉ định vét hạch cổ ở bệnh nhân UTTG dựa theo hướng dẫn của Hội
tuyến giáp Hoa Kỳ (2006) như sau:
+ Vét hạch nhóm VI thường quy đối với ung thư thể nhú và tế bào Hurthle.
+ Vét hạch nhóm II, III, IV, V được áp dụng cho hầu hết các loại ung
thư thể nhú và tế bào Hurthle khi phát hiện có hạch trước phẫu thuật hoặc
trong quá trình phẫu thuật.
+ Các phương pháp vét hạch:
• Vét hạch triệt căn cổ điển.
• Vét hạch triệt căn mở rộng.
• Vét hạch triệt căn cải biên.
• Vét hạch chọn lọc.
- UTTG thường có nhiều ổ, các nghiên cứu GPB sau phẫu thuật cho
thấy 32% số bệnh nhân có các ổ ung thư ở cả 2 thùy, 50% có nhiều ổ nhỏ
trong một thùy nên phẫu thuật cắt TGTB là chỉ định được lựa chọn ở các
trung tâm chuyên khoa về tuyến giáp. Tuy nhiên, ngay cả đối với các PTV
có kinh nghiệm về phẫu thuật cắt TGTB, vẫn có tới 80% các trường hợp
bệnh nhân có mô giáp sót sau phẫu thuật. Trong nhiều trường hợp, tổ chức
khối u xâm lấn vào mạch máu, thần kinh, đường thở... cũng không cho phép
PTV cắt triệt để nhu mô tuyến giáp. Hơn nữa điều trị bằng phẫu thuật cắt
giáp đơn thuần không giải quyết được các trường hợp UTTG đã có di căn xa


vào phổi, xương, não cho nên việc điều trị bằng I 131 sau phẫu thuật là yêu
cầu cần thiết và hết sức quan trọng.
1.2.6.2. Điều trị I131
I131 chỉ có tác dụng với những trường hợp UTTG thể biệt hoá: là loại tế
bào ung thư có khả năng hấp thu I131. Phương pháp này đã được sử dụng ở Mỹ
và trên thế giới hơn 60 năm và có hiệu quả điều trị cao.
Cơ chế tác dụng
I131 là một đồng vị phóng xạ có thời gian bán rã vật lý 8,02 ngày, phát ra

không bệnh tương ứng là 80% và 73% sau 5 năm [4], [27], [34], [35], [36].
1.2.6.3. Điều trị nội tiết
Sử dụng hormon tuyến giáp hay liệu pháp ức chế TSH nhằm ức chế
TSH huyết thanh. Levothyroxine được sử dụng với liều cao hơn nhu cầu sinh
lý bình thường để ức chế sự sản xuất TSH của tuyến yên.
Levothyroxine được dùng cho bệnh nhân UTTG sau phẫu thuật cắt
TGTB vào khoảng thời gian giữa các đợt điều trị I 131 và khi bệnh nhân đã xóa
sạch mô giáp sót. Mục đích của liệu pháp hormon là thay thế hoạt động của
tuyến giáp đã cắt bỏ và ức chế TSH, hạn chế sự phát triển của các tế bào ung
thư có nguồn gốc từ tế bào nang tuyến, tác dụng giảm tỷ lệ tái phát và tăng thời
gian sống thêm. Vấn đề đặt ra là nên sử dụng liều levothyroxine bao nhiêu để
duy trì nồng độ TSH vừa đủ để có hiệu quả ức chế sự phát triển của tế bào ung
thư đồng thời hạn chế được tác dụng phụ của liệu pháp dùng hormon tuyến
giáp liều cao. Nhiều chuyên gia duy trì liệu pháp ức chế TSH hoàn toàn (complete
TSH suppression) với liều levothyroxine đưa nồng độ TSH huyết thanh trong
khoảng < 0,01 – 0,1UI/ml ở các bệnh nhân có nguy cơ cao, đặc biệt là những bệnh
nhân có nguy cơ tái diễn cao và tử vong, bệnh nhân không thể hủy sạch tổ chức
ung thư. Với mức TSH này bệnh nhân sẽ ở trong tình trạng cường giáp dưới lâm


sàng hoặc cường giáp nhẹ. Trái lại, ở nhóm nguy cơ thấp, liều levothyroxine nên
duy trì TSH huyết thanh ở mức 0,1 – 0,4 UI/ml [21], [37], [38].
1.2.6.4. Xạ trị ngoài
- Xạ trị ngoài trong UTTG là một vấn đề còn nhiều tranh luận, nhất là
với ung thư thể biệt hoá. Phương pháp này ít được sử dụng ở đa số các trung
tâm điều trị ung thư ở Mỹ. Viện Goustave Roussy (Pháp) là một trong những
trung tâm lớn có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này. Theo nghiên cứu của
Tubiana và Schlumberger (1985) cho thấy có hiệu quả trong việc kiểm soát tại
vùng với UTTG thể biệt hoá. Tỷ lệ tái phát là 43% sau phẫu thuật không triệt
để đơn thuần so với 16% phẫu thuật không triệt để có xạ trị và 19% sau phẫu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status