NGHIÊN cứu đặc điểm DI căn HẠCH và ĐÁNH GIÁ kết QUẢ sớm SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ BIỂU mô 13 dưới của dạ dày tại BỆNH VIỆN VIỆT đức từ năm 2012 đến 2014 - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) gồm có hại loại: ung thư biểu mô tuyến và ung
thư không phải biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tuyến là loại ung thư ác tính
và hay gặp nhất trong UTDD chiếm 95% [1], [2], [3].
Ung thư dạ dày là bệnh lý ung thư đường tiêu hóa phổ biến nhất trên thế
giới, trong đó Việt Nam nằm ở nhóm nước có tỷ lệ UTDD cao. Theo ghi nhận
của ung thư Hà Nội năm 2001, tỷ lệ mắc UTDD là 23,4/100.000 dân. Tại
Nhật Bản, UTDD chiếm tỷ lệ mắc bệnh cao nhất trong số các bệnh ung thư:
40/100.000 dân; tại Nga là 35/100.000 dân [4].
Đến nay, các nhà khoa học điều thống nhất 2 biện pháp kéo dài thời gian
sống cho bệnh nhân bị UTDD là phát hiện sớm bằng nội soi và phẫu thuật triệt
để. Nhật Bản là nước đi tiên phong trong chiến dịch phát hiện UTDD ở giai đoạn
sớm, đến cuối thập kỷ 90 tỷ lệ phát hiện UTDD sớm đạt >50%. Ngoài ra, việc áp
dụng phẫu thuật dạ dày triệt để có nạo vét hạch rộng rãi đã tăng đáng kể thời
gian sống 5 năm sau mổ của bệnh nhân UTDD [5]. Hiện nay nước ta chưa có
chương trình phát hiện UTDD sớm thì việc phẫu thuật triệt căn nạo vét hạch
rộng rãi vẫn đóng một vai trò quan trọng trong điều trị UTDD.
Như đã biết, hạch bạch huyết là con đường di căn chủ yếu của UTDD.
Trong phẫu thuật, việc nạo vét hạch là một bước trong quá trình điều trị giúp
cho phẫu thuật được triệt để hơn, tìm hiểu được đặc điểm di căn hạch của dạ
dày, giúp phân loại chính xác được giai đoạn ung thư của dạ dày từ đó có thể
điều trị thêm hóa chất hay xạ trị hoặc hóa - xạ trị kết hợp và có ý nghĩa tiên
lượng cho bệnh nhân sau mổ.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về di căn hạch, chặng
hạch trong UTDD. Ở Forli, Ý giai đoạn 1976 – 1989, có nghiên cứu của
Folli.S và cộng sự về UTDD sớm được cắt dạ dày và nạo vét hạch tối thiểu
D2 [6]. Ở Đức, nghiên cứu của nhóm Siewert và cộng sự khuyến cáo nên nạo




3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Cơ sở giải phẫu, sinh lý của dạ dày
1.1.1. Hình thể ngoài, hệ thống hạch bạch huyết dạ dày [15],[16],[17]
1.1.1.1. Hình thể ngoài của dạ dày
Dạ dày là đoạn phình to nhất của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá
tràng, nằm sát dưới vòm hoành trái, ở sau cung sườn trái và vùng thượng vị
trái. Dạ dày gồm có 2 thành trước sau, 2 bờ cong lớn - cong nhỏ, 2 đầu tâm vị
trên, môn vị ở dưới. Kể từ trên xuống dưới dạ dày gồm có:
- Tâm vị là một vùng rộng khoảng 3 đến 4 cm, nằm ở kế cận thực quản,
bao gồm cả lỗ tâm vị. Lỗ này thông thực quản với dạ dày, không có van đóng
kín mà chỉ có nếp niêm mạc.
- Đáy vị là phần phình to hình chỏm cầu, ở bên trái lỗ tâm vị và ngăn
cách với thực quản bụng bởi một khuyết gọi là khuyết tâm vị.
- Thân vị nối tiếp phía dưới đáy vị, hình ống, cấu tạo bởi 2 thành và 2 bờ.
Giới hạn trên là mặt phẳng ngang qua lỗ tâm vị, giới hạn dưới là mặt phẳng
qua khuyết góc bờ cong nhỏ.
- Hang môn vị là phần nối tiếp thân vị với tá tràng, có 2 phần: Phần hang
vị là một ống từ khuyết góc bờ cong nhỏ dạ dày chạy sang phải, hơi ra sau
tiếp với môn vị chiếm 1/4 - 1/3 dạ dày.
Phần môn vị: Thu hẹp lại như phễu đổ vào tá tràng mặt ngoài của môn vị
được đánh dấu bởi tĩnh mạch trước môn vị. Sờ bằng tay dễ nhận biết được
môn vị hơn là nhìn bằng mắt. Ở giữa môn vị là lỗ môn vị, thông với hành tá
tràng. Lỗ nằm bên phải đốt sống thắt lưng 1.


4


Theo ông, hệ bạch huyết của dạ dày bắt nguồn từ các mạng mao mạch bạch
huyết ở dưới thanh mạc, trong lớp cơ và dưới niêm mạc. Các mạng mao mạch
bạch huyết này đổ vào 3 chuỗi hạch nằm dọc theo các động mạch lớn của dạ
dày: Chuỗi hạch đi theo động mạch vị trái, chuỗi hạch đi theo động mạch
lách, chuỗi hạch đi theo động mạch gan. Cả ba đổ về thân tạng.
Năm 1978, Pissac A [21], [23] đã khẳng định lại đồng thời nêu bật được
vị trí của các nhóm hạch cần quan tâm khi phẫu thuật, bao gồm:
− Chuỗi vành vị: Thu nhận bạch huyết của vùng vành vị bao gồm tất cả
bờ cong nhỏ và 2/3 trên của phần ngang dạ dày. Gồm 3 nhóm: Nhóm liềm
động mạch vành vị, nhóm sát tâm vị và nhóm bờ cong nhỏ dạ dày.
Nhờ chụp hệ bạch mạch trong khi mổ và nghiên cứu trên dạ dày, tác giả
đã chứng minh: Trong phần mỏng của mạc nối nhỏ có sự thông nối giữa
nhóm hạch bờ cong nhỏ và hạch thân tạng. Chính vì vậy, nhiều trường hợp
ung thư ở bờ cong nhỏ dạ dày thường di căn vào rốn gan rồi vào trong gan.
Tác giả còn nói thêm, có tới 64% các trường hợp bạch huyết từ vùng hang
môn vị và bờ cong nhỏ không đổ về chuỗi hạch quanh động mạch gan mà đổ
về chuỗi vành vị. Điều này giải thích sự di căn sớm vào hạch của chuỗi vành
vị trong UTDD vùng hang môn vị.
− Chuỗi gan: Thu nhận bạch huyết của bờ cong lớn phần trên và toàn bộ
phần ngang bờ cong nhỏ, góc bờ cong nhỏ, 1/4 dưới bờ cong nhỏ. Gồm 5
nhóm: Nhóm động mạch gan chung và nhóm động mạch gan riêng, nhóm
động mạch vị tá tràng, nhóm dưới môn vị và động mạch vị mạc nối phải,
nhóm động mạch môn vị và nhóm tá tràng.
− Chuỗi hạch lách: Thu nhận bạch huyết 2/3 trên phình vị lớn, khoảng 2
cm phía trên bờ cong lớn. Gồm 4 nhóm: Nhóm vị mạc nối phải, nhóm dây
chằng vị lách, nhóm rốn lách và nhóm động mạch lách.


6

gan chung.


8

Chặng 3: Các nhóm hạch 13, 14, 15, 16. Bạch huyết tập trung lại ở vùng
cạnh động mạch chủ và đổ vào ống ngực. Sự mô tả và qui định một cách có
hệ thống vị trí các nhóm hạch quanh dạ dày do Hiệp hội Nghiên cứu UTDD
Nhật Bản đề xuất đã giúp cho việc chuẩn hoá phẫu thuật nạo vét hạch cũng
như trao đổi thông tin dễ dàng và đã được nhiều người chấp nhận.
1.1.2. Sinh lý của dạ dày.
Dạ dày là một túi chứa thức ăn. Tại đây thức ăn chủ yếu được xử lý về
mặt cơ học (được nhào trộn với dịch vị) biến thành đồ đặc gọi là vị trấp và
được tống qua môn vị từng đợt xuống tá tràng. Trong đó có một số chất được
phân giải bước đầu. Thông qua các chức năng sau:
1.1.2.1. Chức năng vận động.
Thông qua các yếu tố sau:
- Trương lực dạ dày: Áp lực trong lòng dạ dày khoảng 8- 10cm H 2O. Có
áp lực là nhờ sự co thường xuyên của lớp co dạ dày. Khi dạ dày đầy, trương
lực giảm đi chút ít, khi dạ dày vơi trương lực tăng lên, tăng lên cao nhất khi
dạ dày rỗng.
- Nhu động của dạ dày: Khi thức ăn vào thì 5- 10 phút sau dạ dày mới có
nhu động, nhu động bắt đầu từ phần giữa của thân vị dạ dày, càng đến gần
tâm vị nhu động càng mạnh và sâu. Cứ 10 - 15 giây có 1 sóng nhu động. Nhu
động của dạ dày chịu sự tác động của hệ thần kinh nhưng còn phụ thuộc vào
các chất trong dạ dày, vào yếu tố thể dịch: Gastrin, motiline,... làm tăng co
bóp; secretin, glucagon, somatostatin... làm giảm co bóp dạ dày.
Kết quả co bóp của dạ dày là nhào trộn thức ăn với dịch vị, nghiền nhỏ
thức ăn và tống xuống ruột. Vì thế sau khi cắt dạ dày phải nhai kỹ trước khi
nuốt.

10

1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về đặc điểm di căn
hạch trong ung thư dạ dày
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, trong thời gian qua cùng với sự phát
triển của y học, chúng ta đã có những hiểu biết nhất định và có nhiều bước
tiến dài trong quá trình điều trị mang đến nhiều hy vọng cho bệnh nhân mắc
các bệnh ung thư, trong đó có UTDD.
Di căn bạch huyết là con đường chủ yếu của di căn UTDD đã được
nhiều phẫu thuật viên trong và ngoài nước công nhận. Việc phẫu thuật triệt
để và phát hiện ung thư sớm qua nội soi là 2 biện pháp kéo dài thời gian
sống của bệnh nhân ung thư. Phẫu thuật triệt để là phẫu thuật có nạo vét
hạch một cách hệ thống, giúp đánh giá được đặc điểm di căn hạch của ung
thư, chẩn đoán được giai đoạn trong ung thư và có tiên lượng sau phẫu
thuật cũng như có tư vấn cho bệnh nhân tiếp tục điều trị hóa chất hay xạ trị
hoặc hóa xạ trị kết hợp.
Di căn hạch trong UTDD được một số tác giả nghiên cứu và thấy rằng,
di căn phụ thuộc vào kích thước u, mô bệnh học và độ xâm lấn của u [24],
[25], [26]. Vì thế trong UTDD ta còn phải hiểu về mô bệnh học trong UTDD
và giai đoạn bệnh trong ung thư điều trị và tư vấn cho bệnh nhân.
1.2.1. Giải phẫu bệnh học và phân loại giai đoạn bệnh của UTDD.
1.2.1.1. Đại thể.
Có rất nhiều cách phân loại khác nhau: Bormann, Stout, Rubbin, trong
đó cách phân loại của Hiệp hội Nội Soi Tiêu Hóa (HHNSTH) Nhật Bản
(1962), được bổ sung chỉnh lý năm 1995 được nhiều nước sử dụng. Theo cách
phân loại này, tổn thương đại thể được chia thành 6 típ: Từ típ 0 đến típ V đây
là cách phân loại đầy đủ nhất (bảng 1.2).


11


Dạng sùi, giới hạn rõ, u có cuống hoặc đáy rộng xâm lấn thành dạ dày.

Típ II

Dạng loét, bờ rõ và nhô cao, nền ổ loét loang lổ, thành ổ loét nhẵn, có thể
có xước nông.

Típ III

Dạng loét xâm lấn, bờ loét lẫn với n/m bên cạnh, đáy xâm lấn thành dạ
dày.

Típ IV

Xâm lấn lan tỏa (UT xơ cứng dạ dày), ranh giới không rõ, thành dạ dày
cứng, lòng hẹp.

Típ V

Không xếp loại.

Theo phân loại này, hình ảnh đại thể được chia thành 2 nhóm lớn: Típ 0
Là các tổn thương UT ở giai đoạn sớm, u có kích thước ≤ 3cm, giới hạn ở
niêm mạc hoặc dưới niêm mạc, chưa xâm lấn vào lớp cơ. Típ I - Típ V: Là
các tổn thương ở giai đoạn tiến triển. U thường có kích thước lớn, phát triển
xâm nhập vào lớp cơ thành dạ dày, có thể tới thanh mạc và xâm lấn vào các
tạng lân cận hoặc di căn hạch.
1.2.1.2. Phân loại vi thể (mô bệnh học): Phân loại của WHO (2000) [27]
Đây là cách phân loại mới nhất bao gồm cả phân loại của Lauren và có


Carcinoma tuyến vảy

8560/3

Típ ruột

8140/3

Carcinoma tế bào vảy

8070/3

Típ lan toả

8144/3

Carcinoma tế bào nhỏ

8041/3

Carcinoma tuyến nhú

8260/3

Carcinoma không biệt hoá

8020/3

Carcinoma tuyến ống nhỏ 8211/3


T1

U xâm lấn tới lớp cơ niêm (muscularis mucosae) hoặc lớp dưới niêm mạc

T1a

U xâm lấn tới lớp cơ niêm (lamina propia/muscularis mucosae)

T1b

U xâm lấn tới lớp dưới niêm mạc (submucosae)

T2

U xâm lấn tới lớp cơ (muscularis propia)

T3

U xâm lấn tới lớp mô đệm dưới thanh mạc nhưng chưa tới phúc mạng
tạng hoặc các cấu trúc lân cận. T3 còn bao gồm cả những u đã phát triển
tới mạc nối lớn, mạc nối nhỏ nhưng chưa phá thủng lớp thanh mạc bao
phủ các tạng này.

T4

U xâm lấn ra thanh mạc (phúc mạc tạng) hoặc các cấu trúc liền kề.

T4a



Bảng 1.5: Phân loại giai đoạn bệnh UTDD theo TNM (UICC 2010)
GĐ 0

Tis

N0

M0

GĐ IA

T1

N0

M0

GĐ IB

T1

N1

M0

T2

N0


M0

T3

N1

M0

T4a

N0

M0

T2

N3

M0

T3

N2

M0

T4a

N1


M0

T bất kỳ

N bất kỳ

M1

GĐ IIA

GĐ IIB

GĐ IIIA

GĐ IIIB

GĐ IIIC

GĐ IV

Những điểm thay đổi trong hệ thống phân loại UTDD ở phiên bản 7 th


15

2009 gồm những điểm chính sau đây [24]:
•Các u xuất phát ở đoạn nối TQ-DD hoặc ở vị trí ≤ 5cm tính từ đường nối
TQ-DD và có chờm lên đường nối này sẽ được phân loại theo hệ thống TNM
dùng cho thực quản. Hệ thống phân loại giai đoạn UTDD sửa đổi lần này áp
dụng cho các u xuất phát ở phần trên (phần gần- proximal) của dạ dày trong

cũng sẽ là cơ sở cho việc hoàn thiện hơn nữa hệ thống phân loại TNM ở các
vị trí này. Các hệ thống tiên lượng tương lai, ví dụ hệ thống toán đồ
(nomogram systems) đã được Kattan và cộng sự mô tả có thể cho phép hoàn
thiện hơn nữa các công cụ dùng để tiên lượng bệnh, nhưng nó cũng sẽ không
loại bỏ sự cần thiết phải đánh giá cẩn trọng các đặc điểm lan tràn về mặt giải
phẫu của bệnh [30], [31].
Phân loại của Nhật Bản (Kodama) [32].
Ngoài ra các tác giả Nhật cũng phân định mối liên quan giữa vị trí ung
thư nguyên phát và các chặng hạch cùng 16 nhóm hạch vùng như sau:
Bảng 1.6: Vị trí ung thư và các nhóm hạch bị di căn
Vị trí
Ung thư 1/3 dưới
Ung thư 1/3 giữa
Ung thư 1/3 trên
Toàn bộ dạ dày
Nạo vét

N1
3, 4, 5, 6.

N2
1,7,8,9

N3
11,12,13,14

N4
15,16

1,3,4,5,6


D2

D3

D4

Như vậy có 2 cách phân loại chủ yếu giai đoạn UTDD là phân loại của
Nhật Bản (Kodama) và phân loại TNM của UICC, AJCC. Phân loại của Nhật
Bản dựa theo vị trí 16 hạch từ 1 đến 16. Sự khác nhau là các nhóm được xếp
thành 4 loại từ N1 đến N4, tương đương với nhóm hạch gần và xa. Mỗi loại


17

tương đương với kiểu phẫu thuật nạo vét (D: Dissection). Nạo vét D1 cho N1,
D2 cho N2, D3 cho N3. Cách phân loại này dựa trên tần suất khác nhau tùy
thuộc vào vị trí của ung thư. Định nghĩa hạch “xa”, “gần” khác nhau tùy
thuộc vào vị trí của ung thư chứ không đúng theo chữ gần xa. Cũng vậy, nạo
vét D1, D2 hoặc D3 không phải là tương ứng hoàn toàn với các chặng 1
(nhóm 1 đến nhóm 6), chặng 2 (nhóm 7 đến nhóm 11), chặng 3 (nhóm 12 đến
nhóm 16) mà tùy thuộc vào vị trí ung thư: 1/3 trên, 1/3 giữa hay 1/3 dưới.
Theo giáo sư Gustave, Roussy-Paris [33] nhận xét cách phân loại của Nhật
Bản tưởng như phức tạp, khó áp dụng nhưng thật sự logic, có lý về phân bố
hạch bạch huyết dạ dày theo vùng. Cần lưu ý rằng: Nhóm 1 (cạnh bờ phải tâm
vị) được xếp vào N1 đối với UTDD 1/3 trên, 1/3 giữa dạ dày lại là N2 đối với
ung thư 1/3 dưới dạ dày. Nhóm 10 (rốn lách), nhóm 11 (dọc động mạch lách)
được xếp vào N2 đối với ung thư 1/3 giữa nhưng là N3 với ung thư 1/3 dưới
dạ dày.
 Phân loại hạch của UICC [34] chia thành 3 nhóm:

Với cách phân chia này, Adachi và cộng sự đã áp dụng cho 273 UTDD
được điều trị phẫu thuật cắt dạ dày có tính chất triệt để và nạo vét hạch D2, D3
[39]. Kết luận cho thấy, phân loại giai đoạn Dukes, đặc biệt số lượng hạch di căn
có liên quan với kích thước u, độ xâm lấn của tổn thương, chặng hạch di căn,
mức độ xâm lấn hạch, xâm lấn tĩnh mạch. Tỷ lệ sống 5 năm sau mổ có ý nghĩa
khác nhau giữa Dukes A (98%), Dukes B (90%), Dukes Ca (75%), Dukes Cb
(44%). Tác giả kết luận: Phân loại giai đoạn UTDD theo Dukes với số lượng
hạch di căn ung thư liên quan có ý nghĩa với sự tiến triển của khối u trong phân
loại giai đoạn UTDD.
1.2.2. Đặc điểm di căn hạch
Ung thư dạ dày có thể gặp ở bất cứ vị trí nào của dạ dày, nhưng hay gặp
nhất là 1/3 dưới dạ dày. Tại khoa phẫu thuật 2, bệnh viện trường Đại học ở
Fukuoka Nhật Bản, năm 1965 đến năm 1985 có 1126 UTDD được phẫu thuật,
có 738 được điều trị hóa chất phối hợp. Yoshihiko và cộng sự cho biết: Tổn
thương cực trên dạ dày 176 trường hợp chiếm 24%, cực dưới có 295 trường
hợp chiếm 40%, toàn bộ dạ dày 104 trường hợp chiếm 14% được điều trị hóa
chất sau mổ (n=738) [40]. Tại Mỹ, theo John R. Breaux và cộng sự ghi nhận
1710 UTDD trong vòng 35 năm (1948- 1983) tại bệnh viện Charity Hospital
ở New Orleans cho biết: Ung thư hang vị giai đoạn 1948- 1963 chiếm 70%,


19

giai đoạn 1963- 1973 chiếm 73% [41]. Tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn
1970- 1992, Đỗ Đức Vân thống kê 1908 trường hợp UTDD cho biết: Ung thư
hang môn vị chiếm 62%, bờ cong nhỏ 28%, tâm vị 7,5%, bờ cong lớn 0,5%,
không xác định 2% [42]. Theo Trịnh Hồng Sơn giai đoạn 1993- 1995 ở nhóm
98 bệnh nhân bị UTDD có phẫu thuật không cắt được dạ dày khối u ở hang
môn vị 61,2% [42], trong luận án tiến sỹ y khoa năm 2001 của Trịnh Hồng
Sơn, tổn thương ở vị trí hang môn vị là 55.88% [12] . Ung thư dạ dày 1/3

nhóm 6 (43,5%), hạch chặng 2 nhóm 7 (40,6%), nhóm 8 (33,6%), nhóm 9
(24,2%) chặng 2, chặng 3 nhóm 11 (17,6%), nhóm 12 (14,1%). Điều này phù
hợp với phân bố vùng giải phẫu hạch bạch huyết của dạ dày: Ung thư 1/3
dưới thường lan theo bờ cong nhỏ (nhóm 3) về chuỗi vành vị (nhóm 7) rồi đổ
vào nhóm thân tạng (nhóm 9), cùng với nhóm động mạch gan chung (nhóm
8). Đặc biệt có 10,6% di căn nhảy cóc: Hạch chặng 1 không di căn mà có di
căn ở hạch chặng 2 hoặc chặng 3 [12]. Theo nghiên cứu của X de Aretxabala tỷ
lệ di căn hạch với tổ UTDD 1/3 dưới như sau: Nhóm 4: 32,4%, nhóm 3: 26,3%,
nhóm 5: 20,0%, nhóm 6: 13,3%, nhóm 7: 13,3%, nhóm 8: 13,3%, nhóm 1: 6%,
nhóm 9: 5,5%, nhóm 12: 2,7% nhóm 14: 2,3% nhóm 13: 1,8% [43].
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Trịnh Hồng Sơn nêu một số chỉ dẫn
nạo vét hạch: đối với ung thư 1/3 trên cần quan tâm tới nạo vét các nhóm 7,
10, 11, 12 trong khi các nhóm 13, 14, 15 không nhất thiết phải nạo vét một
cách có hệ thống. Đối với ung thư ở 1/3 giữa, ngoài nhóm 7, 8, 9 cần nạo sâu
hơn nữa vào nhóm 10, 11, 12 và 14. Đối với UTDD 1/3 dưới, nhất là ung thư
môn vị, ngoài nạo vét nhóm 7, 8, 9 cần đặc biệt lưu ý cố gắng nạo vét cuống
gan (nhóm 12), hạch dọc động mạch lách (nhóm 11) và hạch sau tá tràng đầu
tụy (nhóm 13) [12].
1.3. Nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về kết
quả sau phẫu thuật ung thư dạ dày
Kết quả sau phẫu thuật phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn bệnh và
phương pháp phẫu thuật- phẫu thuật có triệt để hay không triệt để, đặc


21

biệt là thời gian sống 5 năm sau mổ [12], [42]. Vì thế việc chẩn đoán
UTDD ở giai đoạn nào rất quan trọng vì có tiên lượng trước mổ: phương
pháp mổ(nội soi-mổ mở), cách thức tiến hành( cắt đoạn hay toàn bộ), có
nạo vét hạch hay không nạo vét hạch... Sau mổ chẩn đoán được giai đoạn

CT của UTDD liên quan tới tổn thương giải phẫu bệnh học, vị trí cũng như
tính chất khu trú hay lan tràn của tổn thương. Hada và cộng sự cho sự gợi ý
rằng: Khi bề dày của thành dạ dày bằng hoặc lớn hơn 2cm có nghĩa tổn
thương đã xâm lấn tới lớp cơ [47]. Ở nước ta còn hạn chế chụp CT do giá
thành cao.
+ Siêu âm thường và SANS: Siêu âm thường chỉ giúp đánh giá tình trạng
di căn hay dịch ổ bụng, SANS có giá trị chẩn đoán giai đoạn bệnh nhưng
cũng chưa được phổ biến rộng rãi.
Điều trị
Phẫu thuật vẫn là phương pháp chủ yếu điểu trị UTDD. Hóa chất và tia
xạ ít có hiệu quả, chỉ cho phép cải thiện thời gian sống và chất lượng cuộc
sống.


23

Năm 1879 Pean, lần đầu tiên cắt vùng môn vị cho bệnh nhân ung thư
môn vị, bệnh nhân chết sau mổ 5 ngày. Năm 1881 Billroth, cắt thành công dạ
dày ung thư. Phẫu thuật cắt dạ dày điều trị ung thư trở nên phổ biến nhờ có
những bước tiến quan trong trong lĩnh vực gây mê hồi sức, hiểu biết về phân
bố hạch bạch huyết dạ dày, về nguyên lý điều trị ung thư và đặc biệt sự phát
triển về phương pháp phẫu thuật được lựa chọn theo vị trí tổn thương ung thư
của dạ dày.
Hiện nay trên thế giới, chiến lược điều trị UTDD là chẩn đoán sớm và
phẫu thuật triệt để. Tại Nhật Bản, một chương trình sàng lọc quy mô lớn tại
cộng đồng cho các đối tượng từ 40 tuổi trở lên đã được nghiên cứu triển khai.
Chụp Xquang dạ dày đối quang kép là biện pháp đầu tiên được lựa chọn. Nếu
phát hiện tổn thương nghi ngờ thì cho soi dạ dày tiếp để xác minh [48].
Chương trình này đã được thực hiện rộng rãi trên toàn nước Nhật với kết quả
thu được rất đáng khích lệ: Tỷ lệ phát hiện UTDD sớm đã được cải thiện rõ

phương pháp căn bản, khi ung thư đã có di căn còn nhiều quan điểm điều trị
hóa chất trước và mổ hoặc điều trị sau mổ [14]. Phẫu thuật được xem là triệt
căn nếu đạt được những tiêu chuẩn sau:
• Cắt bỏ được một phần hay toàn bộ dạ dày mà diện cắt trên và dưới
u không còn tổ chức ung thư.
• Lấy bỏ toàn bộ hệ thống hạch di căn.
• Lấy bỏ hết tổ chức bị xâm lấn và di căn.
Năm 1992, UICC [12] đã đưa ra 3 loại phẫu thuật trong UTDD như
sau:
- Phẫu thuật R0: (No residual tumor) là loại phẫu thuật lấy bỏ triệt để
ung thư cả đại thể và vi thể.


25

- Phẫu thuật R1: (Microscopic residual tumor) là loại phẫu thuật lấy bỏ
triệt để về đại thể nhưng vi thể còn tổ chức ung thư, đặc biệt khi diện cắt tá
tràng và thực quản bị xâm lấn.
- Phẫu thuật R2: (Macroscopic residual tumor) là loại phẫu thuật cắt bỏ
còn tổ chức ung thư về đại thể.
Nhóm nghiên cứu của tác giả Đức trên 1654 UTDD được cắt bỏ cho
biết: Trong loại phẫu thuật R0, yếu tố tiên lượng quan trọng nhất là sự tồn tại
của di căn hạch. Tỷ lệ sống 5 năm từ 60 đến 80% khi không có hạch di căn
chỉ có 20 đến 30% khi có hạch di căn. Yếu tố thứ hai là tỷ lệ phần trăm hạch
bị xâm lấn so với số lượng hạch được thăm khám: Số lượng hạch xâm lấn trên
20% lượng hạch thăm khám là yếu tố tiên lượng xấu [52].
Với UTDD cực dưới hay 1/3 dưới dạ dày hầu hết các công trình công bố
kể cả nghiên cứu ngẫu nhiên đều đưa ra kết luận: Cắt dạ dày toàn bộ hay cắt
gần toàn bộ dạ dày đối với UTDD 1/3 dưới đều không có sự khác biệt về thời
gian sống sau mổ. Nguy cơ của ung thư mỏm dạ dày còn lại rất ít nếu tôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status