1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tế bào thận (UTTB thận) danh pháp quốc tế - Renal cell
carcinoma (RCC) là sự tăng sinh tế bào thận ác tính, chiếm 2-3% tổng số các
u ở người lớn và đứng thứ ba trong số các ung thư hệ tiết niệu [1],[2],[3].
Nguyên nhân chưa được xác định, hút thuốc lá được coi là một yếu tố nguy
cơ dẫn đến UTTB thận [4] [5],[6].
Bệnh thường gặp ở người lớn trên 50 tuổi, tỷ lệ nam/nữ khoảng 1,5-2,1. Nói
chung, trong hai thập kỷ qua cho đến gần đây, sự gia tăng hàng năm khoảng
2% trong tỷ lệ trên toàn thế giới và ở châu Âu, mặc dù ở Đan Mạch và Thụy
Điển được quan sát có xu hướng giảm. Năm 2005, tại Mỹ có 36.160 ca mắc
mới và tử vong 12.660 ca [7],[8].
Trong năm 2006, ước tính đã có 63.300 trường hợp mới của RCC và
26.400 thận các ca tử vong liên quan đến ung thư trong Liên minh châu Âu [9].
Tại bệnh viện Việt Đức những năm gần đây số bệnh nhân đến khám và
được chẩn đoán cũng như điều trị UTTB thận ngày càng tăng lên [10]. Do
môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm làm gia tăng các yếu tố gây ung thư,
hơn nữa ý thức tự chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao và với
việc áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh một cách phổ biến đặc biệt là
Siêu âm đã giúp tăng dần con số bệnh nhân được phát hiện tình cờ trong giai
đoạn khu trú, đem lại kết quả điều trị tốt.
Sự xuất hiện, diễn biến của bệnh UTTB thận thường kín đáo và đa
dạng. Trước năm 1980, phần lớn các BN UTTB thận được chẩn đoán muộn
khi đã có triệu chứng lâm sàng. Hiện nay nhờ phát triển của chẩn đoán hình
ảnh, gần 40% BN UTTB thận được phát hiện tình cờ khi chưa có triệu chứng,
kích thước khối u được chẩn đoán cũng nhỏ dần, 80% các khối u phát hiện
tình cờ còn nằm trong bao thận [5],[11].
2
1.1.1. Vị trí, hình thái, kích thước thận
Thận hình hạt đậu gồm hai mặt nhưng rỗng ở 1/3 giữa có xoang thận
[18]. Thận nằm ngoài khoang phúc mạc dọc hai bên cột sống, thận phải thấp
hơn thận trái 2 cm. Cực trên thận trái ngang mức bờ trên xương sườn XI.
Thận được bọc trong một bao cân mỏng gọi là cân Gerota, bao này gồm
hai lá, lá trước và lá sau, hai lá bọc thận và tuyến thượng thận cùng bên chập
vào nhau ở phía trên dính vào cơ hoành, phía dưới hai lá sát vào nhau nhưng
không dính, rồi tỏa vào mạc chậu, bên trong lá sau hòa lẫn vào bao cơ thắt
lưng và bám vào thân các đốt sống thắt lưng, lá trước phủ mặt trước thận và
cuống thận rồi liên tiếp với lá trước thận bên đối diện. Giữa bao thận và bao
cân Gerota có lớp mỡ quanh thận, lớp mỡ bên ngoài cân Gerota gọi là lớp mỡ
cạnh thận [12],[19],[20],[21].
1.1.2. Liên quan giải phẫu [20]
1.1.2.1 Mặt trước
Thận phải: Nửa trên liên quan với gan và tuyến thượng thận. Nửa
dưới liên quan với góc đại tràng phải và ruột non. Bờ trong và cuống thận liên
quan với đoạn II tá tràng và TMCD.
Thận trái: rễ mạc treo đại tràng ngang nằm bắt chéo, chia mặt trước
thận làm hai phần, phần trên và bờ trong liên quan với tuyến thượng thận và
xa hơn một chút là động mạch chủ bụng (ĐMCB). Phần dưới liên quan với
mặt sau dạ dày qua hậu cung mạc nối liên quan với tụy, lách, góc đại tràng
trái, phần trên đại tràng trái và ruột non.
4
1.1.2.2 Mặt sau
Xương sườn XII nằm chắn ngang mặt sau thận, chia thận làm hai tầng:
Tầng ngực liên quan chủ yếu với xương sườn XI và XII, cơ hoành và
góc sườn hoành của màng phổi.
yếu tố gây khó khăn cho phẫu thuật, máu TM trở về TMCD có thể sẽ theo các
đường về TM chủ trên bởi các TM thắt lưng, các TM trước cột sống và TM
Azygos. Về mặt giải phẫu mổ bên thận phải thuận lợi hơn mổ bên thận trái.
Thận trái có TM thận dài hơn, hệ thống tuần hoàn phụ rất phong phú vì
có 8 đường trở về của TM thận trái là qua đường TM thượng thận, TM hoành
dưới, TM sinh dục, TM niệu quản, TM thắt lưng 2 và 3, TM quanh thận và
TM thắt lưng trên. Thận phải chỉ có hai đường máu trở về trong trường hợp
có huyết khối TM do u là đường quanh thận và đường TM niệu quản.
1.1.4. Giải phẫu hệ bạch huyết của thận
1.1.4.1.Giải phẫu hệ bạch huyết của thận phải
Nhóm bạch huyết sau: Đi từ sau rốn thận, phía sau trên các mạch
máu và kết thúc ở sau bên TMCD. Hệ bạch huyết sau đi lên qua cột trụ cơ
hoành bên phải đổ vào ống ngực.
Nhóm bạch huyết trước: Đi từ phía trước thận và các mạch máu đi
vòng qua bờ trên bó mạch ra sau bể thận vào hệ bạch huyết phía sau. Do đó,
các hạch của thận phải nằm bên phải ĐMCB.
6
1.1.4.2. Giải phẫu hệ bạch huyết của thận trái:
Gồm hai nhóm hạch trước và sau các mạch máu cuống thận.
Nhóm hạch trước ở trước của TM thận được chia thành nhóm trên và
nhóm dưới, chạy dọc theo ĐMCB, có thể liên kết với các nhóm hạch phía sau.
Nhóm hạch phía sau đi từ rốn thận ở sau các mạch máu thận, đường
bạch huyết sau chia ở cột trụ trái của cơ hoành thành nhóm trên và nhóm
dưới, nhóm trên đi hướng lên trên nối với các hạch phía trước cột trụ cơ
hoành. Nhóm dưới các đường bạch huyết đổ vào các hạch bên trái ĐMCB.
Hình 1.1: Động mạch và tĩnh mạch thận [22]
trong đó 9% thấy liên quan đến tăng dân số, tăng tuổi thọ và 11% được giải
thích là do tăng yếu tố nguy cơ. Yếu tố thuận lợi như béo bệu, thuốc lá và một
số ngành kim loại nặng [3],[5]. Tại Mỹ từ năm 1974 đến 1990 tỷ lệ UTTB
thận tăng lên 38% và thời gian BN sống sau 5 năm cũng tăng lên từ 52% lên
58% [28].
1.3. GIẢI PHẪU BỆNH
1.3.1. Lịch sử nghiên cứu ung thư tế bào thận
Năm 1855:ROBIN đưa ra giả thuyết UTTB thận xuất phát từ biểu mô
của các ống thận và giả thuyết này được WALDEYER khẳng định lần nữa
vào năm 1867.
Năm 1960: Nhờ xuất hiện kính hiển vi điện tử và tiến bộ của nghiên
cứu mô học, OBERLING đã cho thấy UTTB thận có nguồn gốc từ các tế bào
của ống lượn gần.
Năm 1978: Hiệp hội UT quốc tế đưa ra sự phân loại mới theo TNM
và đối chiếu cách phân loại của ROBSON (1973).
9
Từ năm 1990 đến nay: các nghiên cứu của KOVACS (1993), WEISS
(1995), STORKEL (1997), OYASU (1998) dựa trên kết quả NC hóa miễn
dịch mô học, siêu cấu trúc và gen tế bào đã xác định được 5 loại tế bào chính
của UTTB thận, nên định nghĩa về UTTB thận hiện nay là:
UTTB thận là loại ung thư biểu mô tuyến phát sinh từ các tế bào
biểu mô của ống lượn hoặc ống góp mà cho các loại ung thư có tổ chức
học khác nhau.
1.3.2. Các loại UTTB thận
1.3.2.1. Ung thư tế bào sáng
Chiếm 75% UTTB thận, tỷ lệ nam/nữ là 2/1, khối u phát triển từ tế bào
ống lượn gần.
những tổn thương nang trong có chứa chất hoại tử được bao quanh bởi lớp vỏ
giả, có thể gặp nhiều mảng vôi hóa.
Mô học:
Thấy cấu trúc ống nhú được phủ bởi các tế bào có kích thước nhỏ, bào
tương bắt màu kiềm, với một nhân gồm ít hạt nhân tế bào không điển hình và
thấy các u có độ ác tính thấp (I-II).
Gien:
Không thấy sự khuyết đoạn của nhánh ngắn NST 3 đặc trưng của UT tế
bào sáng. Ngược lại, có 1 trisome 7 và 1 trisome 17 (+7;+17) kết hợp với sự
thiếu NST Y(-Y) trong các tuyến ống nhú, thường gặp trong các bệnh thận
nhiều nang bẩm sinh và các u nhỏ có độ ác tính thấp (FARROW.1997).
11
1.3.2.3. Các ung thư của tế bào kỵ màu
Các u này được THOENES nhận biết vào năm 1988, chiếm tỷ lệ 5%
trong số các UTTB thận có độ ác tính thấp, khối u phát sinh từ tế bào hình
chêm (intercalaire) ở biểu mô của ống góp.
Đại thể:
Kích thước u thường to, bề mặt u đồng đều, đôi khi rải rác các ổ chảy
máu.Trên bề mặt cắt u có màu vàng nhạt hoặc màu be hồng.
Mô học:
Có hai loại, một loại bao gồm các tế bào lớn, có bào tương dày, đây là
hình ảnh đặc trưng của loại ung thư này, loại khác bao gồm các tế bào eosine.
Các tế bào kị màu gồm một nhân trung tâm, đôi khi có rãnh sâu và một chất
có nhiễm sắc dày có hạt nhân lớn, hình ảnh thường gặp là loại có 2 nhân. Cấu
trúc mô học bao gồm các khối tế bào lớn, có ít chất đệm, các tế bào không
chứa glycogene và lipides, nhuộm màu hóa tổ chức của HALE cho thấy có vô
số các nhân nhỏ màu xanh nhạt, đặc điểm này cho phép phân biệt với các khối
chẩn đoán bằng hóa tổ chức miễn dịch mới phân biệt được 2 loại UT này.
Gien:
Chỉ số ung thư thận dạng sarcomatoid thấy bất thường: Gien khuyết
nhánh NST 8,9 và 14 (STORKEL).
13
1.3.2.5. Ococytoma thận
Oncocytoma thận bao gồm các thể lành tính và ác tính, chiếm 3-5%
[31], [32].
Về mô học, Oncocytom thận biệt hóa bao gồm các tế bào biểu mô to,
đồng đều, với bào tương ưa eosin. Nguồn gốc của oncocytom thận thuộc về
các tế bào kẽ của ống góp (Skorkel, 1989).
1.4. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TẾ BÀO THẬN
1.4.1. Lâm sàng [3],[6],[29],[33].
UTTB thận tiến triển chậm khi khối u còn nhỏ trong bao thận, triệu
chứng biểu hiện rất kín đáo. Triệu chứng tiết niệu không phải là duy nhất, có
nhiều dấu hiệu ẩn hoặc mượn triệu chứng toàn thân, có khi phát hiện tình cờ,
có thể là triệu chứng của di căn xa, đôi khi các biểu hiện lâm sàng không liên
quan đến bộ máy tiết niệu [3],[5].
Hiện nay tam chứng cổ điển gồm đái máu, đau thắt lưng và khối u thận
chiếm rất ít bệnh nhân. Khi có đủ 3 dấu hiệu này, bệnh đã thường chuyển
sang giai đoạn muộn. Nhờ SA ổ bụng khoảng 40% các UTTB thận được phát
hiện tình cờ.
1.4.1.1. Triệu chứng tiết niệu
60-75 % UTTB thận có biểu hiện các triệu chứng tiết niệu:
Đái máu:
Là dấu hiệu thường gặp nhất, khởi đầu 50% số BN có triệu chứng, có
thể đái máu đơn thuần hoặc kết hợp các triệu chứng khác. Thường đái máu
chứng cận u có tỷ lệ gặp từ 20-40% số BN bị UTTB thận, biểu hiện là: tăng
hồng cầu thứ phát, tăng canxi máu, cao huyết áp, và rối loạn chức năng gan
15
không liên quan đến di căn ung thư (hội chứng Stauffer).Ngoài ra còn có các
biểu hiện khác như sút cân, sốt, ra mồ hôi ban đêm, hội chứng Cushing, tăng
đường máu, bệnh thần kinh cơ và rối loạn đông máu.
Sốt rất bất thường 38-39˚C không rõ nguyên nhân vào bất kỳ lúc nào
trong ngày, không phát hiện thấy liên quan đến nhiễm khuẩn cư trú nơi khác,
thường hết sốt sau khi cắt thận, nếu sốt không dứt hoặc tái phát phải nghĩ tới
cắt thận không triệt để hoặc có di căn ở xa [3].
1.4.2. Cận lâm sàng [3]
Thiếu máu:
UTTB thận gây thiếu máu có tỷ lệ khoảng 20% BN, đó là thiếu máu
nhược sắc do chất độc của khối u ảnh hưởng đến hệ tạo máu, cũng có thể do
di căn vào xương hoặc rối loạn chuyển hóa sắt.
Tăng hồng cầu:
Năm 1943 MEDVE1 thấy có sự kết hợp UTTB thận với đa hồng cầu
không kèm theo lách to và BN thường khỏi sau khi cắt khối u thận.
Tăng canxi máu:
Tăng canxi máu ở bệnh nhân UTTB thận được ALBRIGH mô tả lần
đầu vào năm 1941, có tỷ lệ từ 3-15% [3], [23]. Đây là biểu hiện ung thư thận
có hoặc không có di căn xương, canxi máu sẽ trở về bình thường sau khi cắt u
thận và canxi máu tăng trở lại khi xuất hiện di căn của UTTB thận.
Rối loạn chức năng gan:
Rối loạn chức năng gan thấy ở 3 – 20% các trường hợp, biểu hiện: tỷ lệ
prothrombin giảm (67%), Albumin máu giảm, Bilirubin và các men gan trong
máu tăng (20 – 30%), Phosphatase kiềm tăng (> 100 IU/l). Chức năng gan sẽ
17
●
Siêu âm Doppler:
SA doppler không cần phải làm một cách hệ thống đối với BN UTTB
thận, nhưng là phương tiện có ích để NC mạch máu trong các trường hợp nghi
ngờ có huyết khối TM do u, độ nhậy là 70%, cho phép xác định chính xác
tình trạng của TM thận và TMCD [40].
1.4.3.2. Chụp cắt lớp vi tính
Chụp CLVT giúp chẩn đoán bản chất khối UTTB thận và mức độ xâm
lấn của u ra ngoài vỏ thận có độ chính xác cao 95% (WEYMAN 1980) [41].
Chụp CLVT được chỉ định để phát hiện các khối u thận nhỏ, đánh giá toàn
diện tính chất khối u và lớp mỡ xung quanh thận, các lớp cắt được thực hiện
trước và sau khi tiêm thuốc cản quang cho phép đánh giá tốt hình ảnh các
mạch máu lớn và hệ thống mạch máu của thận [33].
Tỷ trọng của nhu mô thận được đo bằng đơn vị HOUNSFIELD (U.H),
tỷ trọng của một u đặc gần với tỷ trọng nhu mô thận lành (+30 đến +50 U.H).
Tỷ trọng được tăng thêm 20 UH sau khi tiêm thuốc cản quang và thay đổi
khác nhau tùy theo tổ chức khối UTTB thận [42],[43].
Trước khi tiêm cản quang: Hình ảnh trên phim CLVT cho thấy có
biến đổi hình thái thận do khối u, giới hạn khó phân biệt chính xác với mô
lành, dễ nhận thấy hơn khi khối u được bao quanh bởi mô mỡ quanh thận, nếu
hình ảnh khối u không đồng tỷ trọng là do liên quan đến các mô hoại tử, chảy
máu hoặc vôi hóa.
Sau khi tiêm cản quang: Thấy hình ảnh tăng sinh mạch máu ở xung
quanh u, tại trung tâm u có tỷ trọng thấp hơn nhu mô thận cạnh bên và giảm
tỷ trọng trong trường hợp u bị hoại tử.
Điều trị
Không cần
theo dõi, chỉ
ĐT khi có triệu
chứng
Theo dõi định
kỳ
Theo dõi. Tỉ lệ
ác tính thấp
Tỷ trọng tăng nhẹ, thành nang 0% - 5%
mỏng, có calci hóa mảnh và nhỏ
Những nang này có thể có nhiều
vách ngăn mỏng. tăng sáng ít ở
thành nang hay vách ngăn. Thành
nang hay vách ngăn có mức độ
dày tối thiểu. Nang có thể bị vôi
hóa dạng nốt hay dày, nhưng
không tăng đậm. Không có sự tăng
đậm của mô mềm soft-tissue.
Thương tổn trong thận > 3 cm,
không tăng đậm độ, không tăng tỷ
trọng. Thương tổn có giới hạn rõ.
Tỷ trong không đồng nhất, vách
50%
Phẫu thuật
nang dầy không đều, vôi hóa dầy
bất thường.
Tỷ trọng tăng rõ, không đồng nhất, 75% - 90% Phẫu thuật
20
* Đổi hướng bể thận:
Khối u thận có thể làm cho bể thận bị lệch theo cùng một hướng, nếu về
phía thấp cho thấy hình ảnh khép góc bể thận niệu quản hoặc về phía cao làm
mở góc bể thận niệu quản, hoặc đẩy cả bể thận và niệu quản về phía trong.
* Đổi hướng niệu quản:
Thường thấy ở các khối u ở cực dưới của thận về phía xoang thận làm
niệu quản bị đẩy vào trong.
* Hình ảnh chèn ép bể thận:
Trên phim chụp NĐTM của BN UTTB thận có thể thấy bể thận bị khối
u chèn ép làm bè rộng và mỏng ra, độ cản quang giảm đi và đặc biệt dễ thấy
trên phim chụp thẳng.
* Hình u lồi lên của bóng thận:
Có thể thấy hình khối u lồi lên của bóng thận qua phim XQ chụp hệ tiết
niệu và sẽ được đánh giá chính xác hơn bằng chụp có thuốc cản quang, hình
ảnh XQ cho thấy bóng cản quang của khối u đậm hơn trên một cực thận.
Hình ảnh cản quang của khối u thận ác tính được thể hiện bằng có
bóng mờ, có giới hạn không đều, tính chất đồng nhất, trừ khi có hoại tử bên
trong u [6],[49]. Ngược lại hình ảnh các nang thận đơn độc thường ít cản
quang, có bờ mỏng giới hạn rất rõ bởi một đường nhẵn và nét.
● Chụp niệu quản bể thận ngược dòng:
Hiện nay chụp CLVT đã thay thế cho phương pháp chụp niệu quản bể
thận ngược dòng.
21
Sinh thiết cũng được chỉ định ở những bệnh nhân có di căn trước khi bắt đầu
điều trị hệ thống [52].
1.5. PHÂN LOẠI GIAI ĐOẠN UTTB THẬN.
1.5.1. Phân loại giai đoạn UTTB thận theo Robson [25],[53]
Phân loại giai đoạn UTTB thận của Robson (1969), chia làm 4 giai
đoạn như sau:
Giai đoạn I:
Khối u giới hạn ở thận.
Giai đoạn II:
Có tổn thương ra lớp mỡ quanh thận.
Giai đoạn III:
Có tổn thương tĩnh mạch hoặc hạch.
Giai đoạn IV:
Có tổn thương tạng bên cạnh hoặc di căn xa.
Năm 1973 ROBSON và FLOCK, KADESSKY đưa ra sự thay đổi phân
loại UTTB thận vì thấy rằng u xâm lấn TM và hạch bạch huyết có tiên lượng
xấu hơn so với lớp mỡ quanh thận.
Giai đoan I:
Giai đoạn II:
Khối u khu trú trong thận
Khối u xâm lấn ra lớp mỡ quanh thận nhưng chưa
T1:
Khối u ≤ 7cm, giới hạn ở thận
T1a: U ≤ 4cm
T1b: 4 cm < U ≤ 7cm
T2:
Khối U > 7cm, khu trú ở thận
T3:
Xâm lấn các TM lớn hay tuyến thượng thận hay mô quanh thận
nhưng chưa vượt qua cân Gerota
T3a: Xâm lấn lớp mỡ quanh thận hoặc tuyến thượng thận
T3b: Xâm lấn TM thận hoặc TMCD dưới cơ hoành
T3c: Xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới trên cơ hoành hay xâm lấn thành TMCD
T4:
Khối u xâm lấn vượt qua cân Gerota.
24
N (Nodes): Hạch vùng.
Nx:
Chưa xác định được hạch vùng
N0
M0
Giai đoạn II
T2
N0
M0
Giai đoạn III
T3
N0
M0
T1, T2, T3
N1
M0
T4
Bất kỳ N
Hình 1.4: Phân loại u thân theo giai đoạn [8]