1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi mật là một bệnh lý rất phổ biến ở Việt Nam. Cơ chế bệnh sinh phức
tạp, có nhiều biến chứng nặng nề, điều trị khó khăn do luôn gắn với tình trạng
nhiễm khuẩn đường mật và bệnh lý giun đũa. Tại các bệnh viện lớn ở Việt
Nam hàng năm phải phẫu thuật hàng trăm bệnh nhân bị sỏi mật, trong đó tỷ lệ
BN sỏi đường mật chính chiếm tới 70 - 80% [16], [22], [45], [64].
Ở các nước Đông Nam Á, và một số nước khí hậu nhiệt đới có đời sống
kinh tế thấp, sỏi mật chủ yếu là sỏi ở đường mật chính trong và ngoài gan; cấu
tạo là sỏi sắc tố [6], [10], [21], [40], [62].
Ở các nước Phương Tây sỏi mật thường gặp là sỏi túi mật, thành phần
cấu tạo là Cholesterol, xử lý chủ yếu là cắt bỏ túi mật [7], [15], [43].
Chẩn đoán sỏi mật dựa vào các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng.
Thể điển hình, lâm sàng biểu hiện bởi tam chứng Charcot (đau, sốt, vàng da)
[4], [13], [69]. Xét nghiệm sinh hóa máu có Bilirubin tăng, chủ yếu là tăng
Bilirubin trực tiếp [25], [31]. Trong chẩn đoán sỏi đường mật siêu âm đóng
vai trò quan trọng [39], [58].
Chẩn đoán và phẫu thuật sỏi mật khó khăn do nhiễm trùng cùng với
viêm chít hẹp đường mật, ứ đọng dịch mật và sỏi nằm ở nhiều vị trí trên
đường mật tạo nên bệnh cảnh lâm sàng đa dạng. Đó cũng là nguyên nhân dẫn
đến sót sỏi và tái phát sỏi, làm cho bệnh nhân phải chịu phẫu thuật nhiều lần
(từ 12 - 36%) [11], [16]. Tỷ lệ sót sỏi sau mổ khá cao (14-30%), tỷ lệ sỏi tái
phát từ 2 - 18% [9], [10], [12], [14].
Đối với sỏi mật mổ lại, chẩn đoán và xử trí còn gặp rất nhiều khó khăn
do: Ổ bụng dính sau mổ, các tạng lân cận dính vào đường mật, viêm dính làm
chít hẹp, biến dạng đường mật gây ứ đọng và nhiễm trùng đường mật làm
thay đổi bệnh cảnh lâm sàng, trong phẫu thuật dễ gây tổn thương các tạng lân
cận [34], [46].
Năm 1877, Charcot là người đầu tiên dặt nền móng cho mối quan hệ
giữa sỏi mật và nhiễm trùng đường mật với tam chứng kinh điển mang tên
Ông.
* Quá trình phát triển phẫu thuật đường mật:
Phẫu thuật đầu tiên điều trị sỏi túi mật được Johns Bobbs thực hiện
(1867) là mở túi mật lấy sỏi và dẫn lưu túi mật. Sau đó là Carl Langenbuch
(1882) là người đầu tiên tiến hành phẫu thuật cắt bỏ túi mật thành công.
Năm 1882, Winiwarter (Đức) thực hiện phẫu thuật nối túi mật với
đường tiêu hoá.
1890, Courvoisier là người đầu tiên mở OMC thành công. Trước đó
một năm, Kummel đã làm phẫu thuật mở OMC nhưng không thành công.
Ngay từ năm 1884 Carl Langebuch đã cho rằng: Người ta có thể và phải mở
ống mật chủ lấy sỏi, năm 1982 Doyen, Terrier (Pháp) đã thông báo những BN
đầu tiên mở ống mật chủ lấy sỏi.
Đến năm 1897 Hans Kehr, một trong những phẫu thuật viên đầu tiên
nghiên cứu sâu về phẫu thuật đường mật, đã sáng chế ra ống dẫn lưu hình chữ
4
T (ống dẫn lưu Kehr) đưa phẫu thuật đường mật đến một bước tiến mới. Kết
quả phẫu thuật thay đổi nhanh chóng, ở Pháp Quenu (1897) là người đầu tiên
thực hiện phẫu thuật dẫn lưu ống mật chủ.
Các nước Châu Á, đặc biệt là các tác giả Trung Hoa, Nhật Bản, Đài
Loan, Việt Nam và các nước Đông Nam Á, đã đóng góp nhiều hiểu biết mới
về sỏi đường mật và sỏi trong gan trên các phương diện: Bệnh sinh, cấu trúc
hoá học, vi khuẩn, ký sinh trùng, lâm sàng, dịch tễ học và điều trị.
Nakayama và cộng sự (1980) nghiên cứu 1428 BN có sỏi trong gan cho
thấy 88% là sỏi "Calcium Bilirubinatte", 7,8% là sỏi "Cholesterol". Phần lớn
sỏi trong gan là sỏi "Calcium Bilirubinatte" [81], [82], [83].
Từ năm 1980 đến năm 1995, Phạm Văn Phúc và cộng sự tiếp tục công
trình nghiên cứu về sỏi mật: Với những công bố như áp xe đường mật, nhiễm
trùng đường mật nhiệt đới, đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh sỏi trong đường
mật tại đồng bằng Sông Cửu Long, vấn đề điều trị phẫu thuật trong sỏi gan
[42]. Các tác giả Trương Công Trung, Phạm Biểu Tân, Văn Tần, Hồ Nam...
đã có nghiên cứu về điều trị phẫu thuật cấp cứu sỏi đường mật [57]. Lê Trung
Hải, đỗ Trọng Hải có những nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng sỏi mật cũng
như các biện pháp làm hạn chế sỏi sót trong mổ, tránh tái phát [10], [12].
Vũ Mạnh đã thông báo kết quả của kỹ thuật nối OMC- tá tràng, OMChỗng tràng biệt lập một quai ruột kiểu "Roux-En-Y" tại bệnh viện Việt Đức.
Vương Hùng, Nguyễn Ngọc Bích thông báo kết quả phẫu thuật nối
OMC- hỗng tràng kiểu "Roux-En-Y" trên 132 BN tại bệnh viện Bạch Mai.
6
Đỗ Kim Sơn, Trần Gia Khánh, Đoàn Thanh Tùng và CS đã có công
trình nghiên cứu và điều trị phẫu thuật sỏi mật ở bệnh viện Việt Đức từ 1976 1998 [50].
Nguyễn Đình Hối, Tôn Thất Bách, Nguyễn Tiến Quyết... đã có nhiều
công trình nghiên cứu về bệnh lý sỏi mật [17], [18], [48].
Năm 2004 Trần Bảo Long (Đại học Y Hà Nội) đã có công trình nghiên
cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân và kết quả điều trị các
trường hợp sỏi mật mổ lại [34].
Năm 2009 Hoàng Tuấn Anh (Học viện Quân Y) đã có công trình
nghiên cứu về lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật sỏi mật lại [3].
Tại Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, phẫu thuật lấy sỏi đường mật được
tiến hành từ những năm đầu tiên thành lập bệnh viện. Kể từ những năm 2000
trung bình một năm bệnh viện đã phẫu thuật từ 50 đến 100 BN sỏi mật, 15
đến 25 BN sỏi mật tái phát (theo số liệu của phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh
viện). Các nhà phẫu thuật đã thực hiện các ca mổ sỏi mật tái phát nhiều lần,
lấy sỏi khó nằm ở đoạn thấp ống mật chủ, lấy sỏi kèm theo nối mật ruột ở BN
nên tĩnh mạch lớn hơn, và cuối cùng tạo thành các tĩnh mạch gan chạy ra khỏi
gan đổ vào tĩnh mạch chủ dưới. Ở giữa các đôi dây tế bào gan là các vi quản
mật, có đầu ngoại vi đổ vào ống mật ở khoảng cửa (ống gan tiểu thùy). Các
ống mật ở khoảng cửa hợp nên những ống mật lớn dần, cuối cùng thành các
ống gan phải và trái đi ra khỏi gan [40].
Về phân chia thùy gan theo quan điểm kinh điển có 2 cách phân chia
phân thùy gan theo hình thể ngoài và theo đường mạch, mật [40].
Phân chia gan theo hình thể ngoài gan có 4 thùy giới hạn như sau:
- Ở mặt hoành ta thấy được thùy gan phải và thùy gan trái, ngăn cách nhau
bởi dây chằng liềm.
8
- Ở mặt tạng 2 rãnh rọc và một rãnh ngang chia gan thành 4 thùy: Thùy phải
bên phải rãnh rọc phải, thùy trái ở bên trái rãnh rọc trái; giữa hai rãnh rọc,
trước rãnh ngang là thùy vuông, sau rãnh ngang là thùy đuôi. Như vậy thùy
phải và thùy trái đều thấy được mặt hoành và mặt tạng, thùy vuông chỉ thấy
được ở mặt tạng, thùy đuôi thấy được ở mặt tạng và một phần ở phía sau của
mặt hoành.
Phân chia thùy gan theo đường mạch mật.
Dựa vào đường mạch mật trong gan, GS.Tôn Thất Tùng chia gan thành
5 thùy và 8 hạ phân thùy.
1. Phân thùy bên. Ở bên trái khe liên thùy trái, khe này được xác định ở
mặt hoành của gan là dây chằng liềm; phân thùy bên được chia làm 2 hạ phân
thùy II và III.
2. Phân thùy giữa. Ở bên phải khe liên thùy trái và ở bên trái khe giữa.
Khe giữa được xác định tại mặt hoành của gan bởi một đường từ bờ trái tĩnh
mạch chủ dưới đến khuyết túi mật. Tương ứng hạ phân thùy IV.
3. Phân thùy trước. Ở bên phải khe giữa và bên trái khe phải. Khe này
gan thành hai nửa phải và trái.
- Khe bên phải hay khe liên phân thùy phải: Đi từ bờ phải của tĩnh
mạch chủ dưới, dọc theo lá trên của dây chằng vành, rồi vòng xuống song
song với bờ gan phải và cách bờ này ba thoát ngón tay. Khe này chia nửa gan
phải thành hai phân thùy: phân thùy sau và phân thùy trước.
- Khe bên trái hay khe liên phân thùy trái: Ở mặt trên gan khe là chỗ
bám của dây chằng liềm, ở mặt dưới khe tương ứng với rãnh dọc trái. Khe
này chia gan trái thành hai phân thùy giữa và phân thùy bên.
11
Như vậy theo cách phân chia này gan gồm hai nửa gan phải và trái, gan
phải gồm hai phân thùy trước và sau, gan trái gồm hai phân thùy giữa và bên,
ngoài ra còn một phân thùy thứ năm là phân thùy đuôi. Các phân thùy này lại
được chia thành hạ phân thùy (bởi các đường kẻ ảo ngang qua các phân thùy
gan), được đánh số thứ tự bằng chữ số La mã từ I đến VIII, theo chiều kim
đồng hồ, bắt đầu từ phân thùy đuôi.
+ Phân thùy đuôi (segmentum caudatus) là hạ phân thùy I.
+ Phân thùy bên (segmentum laterale) có hạ phân thùy II, III.
+ Phân thùy giữa (segmentum mediale) có hạ phân thùy IV.
+ Phân thùy trước (segmentum anterius) gồm hạ phân thùy V, VIII.
+ Phân thùy sau (segmentum posterius) gồm hạ phân thùy VI, VII.
1.3.2. Giải phẫu đường mật ngoài gan
1. Ống gan trái
2. Ống gan phải
3. Ống cổ túi mật
4. Ống túi mật
5. Ống mật chủ
6. Đáy túi mật
thì chạy sát ống gan một đoạn 2-3mm rồi đổ vào ống gan chung tạo thành
OMC
13
1.3.3. Liên quan
Chủ yếu nói về liên quan của đường dẫn mật chính với các thành phần
cuống gan. Ống gan và OMC chạy chếch từ trên xuống, chạy sang phải, và có
thể chia làm 4 đoạn liên quan [40].
1. Động mạch gan trái
2. Ống gan trái
3. Ống túi mật
4. Động mạch gan riêng
5. Động mạch gan chung
6. Động mạch tá tràng
7. Tĩnh mạch mạch treo tràng dưới
8. Ống mật chủ
9. Động mạch mạch treo tràng trên
10. Tĩnh mạch mạch treo tràng trên
11. Túi mật
Hình 1.4. Sơ đồ liên quan các thành phần cuống gan [40].
* Đoạn trong rốn gan: Lần lượt các thành phần cuống gan sắp xếp
thành 3 lớp từ sau ra trước: 2 ngành của tĩnh mạch cửa, 2 ngành của động
mạch gan, 2 ngành của ống gan. Tất cả được bọc trong mạc nối nhỏ.
* Đoạn trong bờ tự do của mạc nối nhỏ: Cuống gan ở đoạn này dài
khoảng 4cm, là giới hạn trước của khe Winslow. Các thành phần cuống gan
sắp xếp làm 2 lớp :
- Lớp sâu là tĩnh mạch cửa chạy chếch lên trên và sang phải.
- Lớp nông đè lên tĩnh mạch cửa, có động mạch gan ở bờ bên trái, có
với Ca++ tạo thành bilirubinatcanxi rồi lắng đọng thành sỏi.
Trong đó những yếu tố làm tăng bilirubin trong dịch mật là:
15
+ Bệnh nhiễm trùng đường mật: Các vi khuẩn tiết ra một lượng lớn β
glucuronidase, hoặc quá trình nhiễm khuẩn giải phóng ra một số chất có tác
dụng hoạt hoá men này. Do tác dụng của men, bilirubin liên hợp bị phân huỷ
thành bilirubin tự do và axit glucuronic [59].
+ Trong các bệnh làm cản trở lưu thông đường mật gây tăng áp lực
đường mật như: Viêm nhiễm, giun chui ống mật, sẹo xơ sau mổ đường mật, u
đầu tụy... Sự xuất hiện của glucuronidase là sản phẩm của các tế bào biểu mô
túi mật và đường mật dưới tác động của sự gia tăng áp lực đường mật.
+ Đối với những bệnh có suy giảm chức năng gan (xơ gan) làm giảm
khả năng liên hợp bilirubin của tế bào, do đó làm tăng lượng bilirubin tự do
trong dịch mật [59].
* Cơ chế tạo sỏi cholesterol:
Khi có sự quá bão hoà cholesterol trong dịch mật: Có thể do một trong
các nguyên nhân sau:
- Tăng bài tiết cholesterol của gan trong khi bài tiết muối mật và
phospholipid bình thường.
- Bài tiết cholesterol của gan bình thường nhưng bài tiết muối mật và
phospholipid giảm.
- Bài tiết phospholipid giảm.
Dịch mật quá bão hoà cholesterol là điều kiện để tạo thành sỏi mật, do
các phân tử cholesterol dư thừa có xu hướng tích tụ lại và tạo nên các tinh thể
cholesterol (còn gọi là hiện tượng tạo nhân). Từ những tinh thể nhỏ này, hiện
tượng tích tụ lại tiếp tục, các tinh thể lớn lên, khi có sự ứ trệ của túi mật và sự
tăng tiết niêm dịch của túi mật sẽ dẫn tới hình thành sỏi [88]. Ứ trệ và tăng tiết
17
Chính vì vậy mà số lượng của sỏi thường là chỉ có 1 viên kích thước
nhỏ vài mm có khi lớn tới 3-5cm. Nhưng cũng có khi có vài viên tới vài trăm
viên, kích thước to nhỏ khác nhau, thậm chí những viên sỏi xếp kẹt trong ống
mật thành khuôn gây ứ tắc mật kéo dài và nặng nề.
Có trường hợp sỏi dễ vỡ, kết hợp với bùn mật gây lên tình trạng viêm
nhiễm đường mật.
1.4.1.4. Sự liên quan giữa sỏi và giun
Qua nhiều tài liệu nghiên cứu thấy ở Việt Nam và các nước Đông Nam
Á, các nhân tố gây nên sỏi mật được hầu hết các tác giả đề cập tới là nhiễm
trùng và nhiễm ký sinh trùng, đặc biệt là giun đũa. Sỏi phần lớn là hỗn hợp
nhiều sắc tố mật, kèm trứng giun, xác giun [43]. Về cơ chế gây bệnh sỏi mật
do ký sinh trùng tương đối rõ ràng. Tác nhân cơ học do giun đũa là làm tắc
mật và tổn thương đường mật, xác giun, trứng giun của chúng, sản phẩm tổn
thương đường mật, tổ chức gan do giun gây nên tạo thành một hỗn hợp vật lạ,
tạo điều kiện lắng đọng các thành phần dịch mật như cholesterol, bilirubin...
hình thành sỏi [40], [43], [46].
Đặc biệt nhiễm khuẩn kết hợp do tắc mật hay giun mang theo từ ruột
vào đường mật để làm biến đổi căn bản thành phần dịch mật, hình thành
những hạt không tan như tinh thể Cholesterol, hạt sắc tố, muối canxi, càng
tăng cường quá trình hình thành sỏi mật.
Theo Tôn Thất Tùng, Hoàng Sủng, Nguyễn Văn Vân giun đũa có liên
quan mật thiết với sự hình thành sỏi đường mật [64]. Nguyễn Dương Quang
(1978), Nguyễn Đức Ninh (1985) thì tỉ lệ trứng giun, xác giun trong thành
phần sỏi từ 29,6% - 57,7% [43], [39], còn Trần Lưu Huyên, Vũ Duy Thanh
(1981) tỷ lệ này là 29.7% [28]. Các tác giả khác như: Đỗ Kim Sơn (1988),
Nguyễn Quang Hùng (1989), Lê Trung Hải (1993), Phạm Duy Hiển (1994)
19
Tổn thương hẹp đường mật: Sau khi can thiệp vào đường mật lấy sỏi,
sẽ gây nên tình trạng tổn thương, sẹo co kéo dẫn đến chít hẹp đường mật.
Theo thống kê của Đỗ Trọng Hải thì có hẹp vòng Oddi là 25,3%. Hẹp ống
mật trong gan là 16,5% [12]. Chính hẹp đường mật lại tạo điều kiện thuận lợi
cho việc hình thành sỏi.
1.4.3. Đặc điểm dịch mật
Bình thường dịch mật vàng ánh, trong. Nhưng khi nhiễm khuẩn đường
mật, dịch mật có những biến đổi về màu sắc như màu xanh, đen. Có khi dịch
mật trở nên vẩn đục, lẫn vẩn cặn, bùn mật và mủ, mùi trở nên thối, mùi của tổ
chức hoại tử, trong dịch mật có khi thấy giun đũa, xác giun đũa đã thối rữa và
nhuộm màu mật. Theo Phạm Văn Phúc (1995) và các tác giả trong nước thì
dịch mật đen đục có mủ chiếm 18,39% - 80,95% [10], [59]. Xét nghiệm vi thể
dịch mật đó có những mảnh niêm mạc, tế bào viêm, tế bào niêm mạc hoại tử,
đặc biệt là thấy trứng giun đũa từ 6,23% đến 47,05%, trứng sán lá gan là 5%
[42].
1.4.4. Tổn thương các cơ quan
1.4.4.1. Tổn thương gan
Gan có sỏi nặng hơn gan lành, trung bình cân nặng từ 1,3kg đến 1,7kg.
Trong đa số trưòng hợp, mặt gan nâu nhẵn, trong trường hợp gan ứ mật, áp xe
đường mật, nhu mô màu vàng nhạt có thể có các áp xe thể kê, hoặc áp xe loại
mặt kính đồng hồ đội bao Glisson.
Khi ứ đọng mật kéo dài dẫn đến xơ gan mật. Theo Huang Z.Q qua
4197 trường hợp sỏi trong gan có tỷ lệ ung thư đường mật tới 20% chít hẹp
ống gan 24,28%.
20
1.4.6. Viêm dính quanh vết mổ, mặt dưới gan ở mổ sỏi mật lại
- Hầu hết là mạc nối dính vào vết mổ, sau đó đại tràng ngang, tiểu tràng
do vậy khi mổ lại phải hết sức cẩn thận khi vào ổ bụng để tránh gây tổn
thương các tạng dính vào vết mổ.
- Còn mặt dưới gan có tá tràng, đại tràng, dạ dày dính vào gây mất tính
chất bình thường giải phẫu của vùng dưới gan như dính vào túi mật, vào
OMC và ống gan chung kéo lệch vị trí OGC và OMC; thậm chí các tạng dính
chặt vào mặt dưới gan do vậy khi mổ phải chú ý dễ gây tổn thương các cơ
quan khác.
- Trong trường hợp OMC giãn ít, mặt trước có nhiều mạch máu tăng
sinh, hoặc OMC bị viêm dính ở lần mổ trước kéo lệch vị trí. Trong mổ khi
bộc lộ tìm tìm OMC rất khó khăn, dễ chảy máu có khi gây thủng các tạng;
thậm chí có trường hợp không tìm thấy OMC.
- Có những trường hợp đại tràng do dính vào đường mật lâu ngày kết
hợp với viêm nhiễm kéo dài gây thủng làm lưu thông mật-ruột, do đó tình
trạng nhiễm trùng đường mật tăng lên.
1.5. Các phương pháp chẩn đoán sỏi đường mật
1.5.1. Triệu chứng lâm sàng tắc mật do sỏi
Thông thường BN bị bệnh sỏi mật có những triệu chứng biểu hiện ở
mức độ khác nhau, nhưng khi phát hiện được bệnh thì thường biểu hiện
những triệu chứng cấp tính điển hình là:
- Tam chứng Charcot
22
+ Cơn đau vùng hạ sườn phải: Có khi đau âm ỉ, có khi đau quặn dữ dội,
đau có cảm giác đau sâu.
+ Sốt rét run: Biểu hiện ở mức độ khác nhau, có khi sốt nhẹ < 380C,
nhưng cũng có khi sốt cao hơn 380C. Nhưng thường kèm theo sốt rét là những
(1978) cho rằng siêu âm có thể phát hiện được sỏi 1mm .
Bóng cản âm của sỏi được coi là một trong những tiêu chuẩn nhận biết
sỏi. Struve C (1982) cho biết sỏi < 4mm không có bóng cản âm.
Hình ảnh dịch mật bao quanh sỏi đã được nhiều tác giả quan tâm đến.
Chính hình ảnh siêu âm của dịch mật tương phản với hình ảnh đặc siêu âm
của sỏi là tiêu chuẩn nhận biết sỏi được dễ dàng [39].
Còn vấn đề di động của bóng cản trên siêu âm khi thay đổi tư thế được
các tác giả coi là tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán chắc chắn 100% là sỏi
nhưng không phải lúc nào ta cũng thấy.
Ở Việt Nam sỏi đường mật chính, sỏi trong gan là chủ yếu và có liên
quan mật thiêt với tình trạng nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng đường ruột,
do vậy có ảnh hưởng tới kết quả siêu âm. Từ tổng kết của Đỗ Kim Sơn, Tôn
Thất Bách [48] cho thấy tỷ lệ chẩn đoán đúng sỏi đường mật là 90%, sỏi túi
mật 90% chẩn đoán không phù hợp là 10%; cho đến công trình nghiên cứu
của Vũ Quang Ngọ [39] cho kết quả chẩn đoán siêu âm phù hợp 96%, không
phù hợp 4%, tỷ lệ bỏ sót của siêu âm trong chẩn đoán sỏi mật từ 5 - 20%. Tuỳ
theo vị trí, trong đó cao nhất là với sỏi OMC (20%) và thấp nhất là với sỏi túi
24
mật (5%). Các công trình nghiên cứu sau này nêu nên tỷ lệ chẩn đoán dương
tính sỏi mật từ 76 - 95,7%, tỷ lệ âm tính từ 7 - 23,4% [14], [26].
Siêu âm đường mật trong mổ:
Đựợc áp dụng trong mổ nội soi đường mật nhằm làm giảm tỷ lệ sót sỏi
sau mổ. Siêu âm trong mổ đường mật được Eiseman sử dụng từ năm 1960, để
kiểm tra phát hiện sỏi OMC trong phẫu thuật sau cắt túi mật. Để đánh giá vai
trò của siêu âm trong mổ, các tác giả Lane R.J (1980); Machi J. (1983);
Rothlin M. (1993) đã so sánh siêu âm trong mổ với chụp cho thấy giá trị của
siêu âm và chụp như nhau nhưng siêu âm thực hiện hay hơn vì không nguy
Tuy nhiên, chụp cắt lớp vi tính cũng gây hại bởi tia X và thuốc cản
quang, chi phí cho mỗi lần chụp còn cao nên hiện nay phương tiện này chưa
được dùng nhiều trong chẩn đoán sỏi đường mật.
* Chụp cộng hưởng từ hạt nhân
Hình ảnh cộng hưởng từ dựa trên nguyên lý các phần tử trong tế bào và
tổ chức khác nhau có những tính chất từ tính khác nhau. Khi đưa vào một từ
trường cực mạnh chúng sẽ giao động và những giao động đó được ghi lại
thành hình ảnh khác nhau của mỗi cơ quan, tổ chức.
Cho đến nay phương pháp này được áp dụng trong chẩn đoán các bệnh
lý gan và đường mật vẫn còn là vấn đề nghiên cứu. Mặt khác giá thành của nó
lại qua cao nên còn được ít sử dụng.
* Chụp đường mật ngược dòng qua nội soi tá tràng
Phương pháp này được W.C.Mc Cune áp dụng từ năm 1968 bằng cách
đưa ống soi mềm vào tá tràng rồi qua bóng Vater vào đường mật, bơm thuốc
cản quang vào để chụp đường mật. Ưu điểm của phương pháp này là cho thấy