SKKN: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG DỤNG CỤ VẼ HÌNH CHO HỌC SINH YẾU KÉM TRONG MÔN TOÁN HÌNH LỚP 7. - Pdf 44

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU :
I/

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :……………………………………………Trang 2

II/ THỰC TRẠNG HỌC SINH YẾU KÉM SỬ DỤNG DỤNG CỤ VẼ HÌNH
TRONG MÔN HÌNH HỌC LỚP 7………………………………….Trang 3
II/ THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KĨ
NĂNG SỬ DỤNG DỤNG CỤ VẼ HÌNH CHO HỌC SINH YẾU KÉM
CHO HỌC SINH LỚP 7……………………………………………..Trang 4
PHẦN NỘI DUNG :
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG DỤNG CỤ VẼ HÌNH CHO HỌC
SINH YẾU KÉM TRONG MÔN TOÁN HÌNH LỚP 7.
1/Kỹ năng…………………………………………………………………Trang 5
2/ Tại sao phải đặt vấn đề dựng hình (vẽ hình) và kỹ năng sử dụng dụng cụ vẽ
hình cho học sinh yếu kém trong toán hình học 7 …………………..Trang 5
3/ Các dụng cụ vẽ hình……………………………………………………Trang 5
4/ Rèn kỹ năng sử dụng dụng cụ vẽ hình cho học sinh lớp 7 qua bài toán vẽ hình
cơ bản………………………………………………………………...Trang 6
5/ Rèn kỹ năng sử dụng dụng cụ vẽ hình qua bài toán chứng minh tổng
hợp………………………………………………………………….Trang 12
PHẦN KẾT LUẬN:
1/ Kết quả thu được …………………………………………………...Trang 14
2/ Bài học kinh nghiệm………………………………………………..Trang 15

Gv:

Trang 1



Gv:

Trang 2


II/ THỰC TRẠNG HỌC SINH YẾU KÉM SỬ DỤNG DỤNG CỤ VẼ
HÌNH TRONG MÔN HÌNH HỌC 7
Học sinh yếu kém là dạng học sinh ít chịu khó học bài và làm bài tập ở
nhà vì đa số các em ít được sự quan tâm của cha mẹ, tự học là chính nên gặp bài
khó, không làm được các em bỏ không làm. Phần lớn dạng học sinh sinh này
không có đầy đủ dụng cụ vẽ hình và không biết dùng dụng cụ nào để vẽ cho
đúng hình và bắt đầu vẽ ở đâu trước. Mặt khác các em không nắm rõ khái niệm,
tính chất của hình cần vẽ và thao tác vẽ các bài toán hình cơ bản. Sự thụ đồng và
ngại làm dần đẩy các em tụt hậu kiến thức.
Trong tiết học hình có gần 20% học sinh không mang đầy đủ dụng cụ,
bài tập về nhà có bài toán hình có tới 70% học sinh không làm hoặc làm nhưng
không vẽ chính xác mà qua loa đại khái cho có hình vẽ.
Trong hình học nếu không vẽ đúng hình và không chính xác thì không
thể chứng minh được. Bởi lý do đó nên tôi đặc biệt đòi hỏi mọi học sinh trong
giờ hình học phải có đầy đủ dụng cụ thao tác đúng trong học tập, hoặc cả khi lên
bảng, nắm vững các cài toán dựng hình cơ bản trình bày trong sách giáo khoa.
Duy trì thường xuyên tạo cho các em một kỹ năng sử dụng thành thạo dụng cụ
vẽ hình, phát triển tri thức hình học, biết vẽ hình, kiến thức hình để vận dụng
vào đời sống.
III/ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
KỸ NĂNG SỬ DỤNG DỤNG CỤ VẼ HÌNH CHO HỌC SINH YẾU KÉM
LỚP 7 TRONG MÔN HÌNH HỌC .
1/ Thuận lợi :
Giáo viên có bộ dụng cụ vẽ hình được cấp phát đầy đủ như thước thẳng
có chia khoảng, êke, compa, thước đo độ,…mỗi học sinh dễ dàng trang bị cho


Gv:

Trang 4


PHẦN NỘI DUNG.
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG DỤNG CỤ VẼ HÌNH CHO HỌC SINH
YẾU KÉM TRONG MÔN TOÁN HÌNH LỚP 7.
1/ Kỹ năng :
Là những hoạt động được hình thành do bắt chước hoặc trên cơ sở tri
thức mà có kĩ năng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của tri thức, sự tập trung,
chú ý và tiêu tốn nhiều năng lượng. Hành động khái quát hoá, động tác chính
xác đòi hỏi phải tập trung nhiều lần và được lĩnh hội trong quá trình học tập.
2/ Tại sao phải đặt vấn đề dựng hình (vẽ hình ) và kỹ năng sử dụng dụng cụ
vẽ hình cho học sinh yếu kém trong toán hình học 7:
Dựng hình (Vẽ hình đối với học sinh lớp 7) chính là chứng minh trực
quan sự tồn tại của một khái niệm hình học mà ta nghiên cứu, ví dụ vẽ tia phân
giác của một góc, hay đường trung trực của đoạn thẳng… Mặt khác, dựng hình
củng là một phương pháp quy nạp toán học và có nhiều vận dụng trong thực tế
rất bổ ích. Thông qua bài toán dựng hình (vẽ hình ở lớp) mà phát triển tư duy
logíc góp phần củng cố và phát triển tri thức hình học, phát triển trí tưởng tượng
không gian cho học sinh. Các bài toán dựng hình (vẽ hình ) cũng nhằm củng cố
và phát triển kỹ năng sử dụng thành thạo các dụng cụ vẽ hình, biết vẽ hình, kiến
thiết hình để vận dụng vào đời sống.
3/ Các dụng cụ để vẽ hình:
Học sinh lớp 7 cần các dụng cụ vẽ hình như: thước thẳng, êke, compa,
thức đo độ. Thước thẳng dùng để vẽ một đường thẳng qua hai điểm hoặc để kéo
dài một tia, không nên dùng thước thẳng để đo một đoạn thẳng bằng đoạn thẳng
cho trước, dựng đường tròn bằng compa. Vẽ góc vuông ta không những dùng

Từ hình ảnh trực quan từ tay mình vẽ, giúp học sinh nắm rõ định nghĩa
hai đường thẳng vuông góc, thừa nhận dễ dàng tính chất “ Có một và chỉ một
đường thẳng a’ đi qua điểm O và vuông góc với đường thẳng a cho trước”. Từ
đấy giáo viên dễ dàng hướng dẫn học sinh vẽ đường trung trực của đoạn thẳng
bằng thước thẳng và ê ke hay thước thẳng và compa.
Gv:

Trang 6


Cách 1: Dùng êke và thước thẳng để vẽ đường trung trực của đoạn thẳng.
Trình tự vẽ :

x

- Vẽ đoạn thẳng AB.
- Xác dịnh trung điểm I.

A

- Dùng êke vẽ đường thẳng qua

B
I

I và vuông góc với đoạn thẳng AB như
Hình 5 SGK trang 85

y




Học sinh sẽ nắm chắc là bằng thước thẳng và êke.
Giáo viên thao tác các bước vẽ chậm theo yêu cầu ?2 sau đó đưa hình minh hoạ
18, 19 SGK trang 91

Học sinh tự tay vẽ vào tập và giáo viên cũng nên gọi một học sinh lên
bảng thao tác lại cho quen với dụng cụ vẽ hình lên bảng. cần lưu lý học sinh
cách đặt thước thật chính xác từng trường hợp a // b dựa vào 2 góc so le trong
bằng nhau hoặc dựa vào 2 góc đồng vị bằng nhau.
Khi học sinh đã vẽ xong hình minh hoạ đường thẳng b qua điểm A và
song song với đường thẳng a cho trước giáo viên đặt câu hỏi: Ta vẽ được mấy
đường thẳng b qua điểm A và song song với đường thẳng a cho trước? Chắc
chắn học sinh sẽ trả lời là : Chỉ một. Đây là cơ sở để giới thiệu tiên đề Ơclit § 5.
Vậy qua vẽ hình hai đường thẳng song song học sinh đã đạt được ba mục tiêu:
một là có kỹ năng vẽ hai đường thẳng song song, hai là nắm chắc định nghĩa,
dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song, ba là nắm được trực quan hình
ảnh tiên đề Ơclit và đã tự tay mình kiểm tra.
c/ Vẽ tam giác biết ba cạnh:
Một trong những bài toán dựng hình cơ bản là dựng tam giác biết độ dài
ba cạnh của nó. Xét trình độ học sinh lớp 7 ta chỉ đưa ra bước dựng hình cho học
sinh nắm vững, rèn luyện cho thành thạo để sau này giải các bài toán dựng hình
khi học bài 3: Trường hợp bằng nhau thứ nhất của tam giác cạnh - cạnh - cạnh
Gv:

Trang 8


(c – c – c ) trong chương II : Tam giác ở mục 1 vẽ tam giác biết ba cạnh để làm
bài toán: vẽ tam giác ABC, biết AB = 2cm; BC = 4cm; AC = 3cm giáo viên phải

3
4

C

Giáo viên cho học sinh thực hiện lại qua ?1 sách giáo trang 113, bài tập 15 sách
giáo khoa trang 114 để uốn nắn điểm sai khi thực hiện trên bảng. Từ đây có hình
ảnh trực quan để thấy hai tam giác bằng nhau nếu có ba cạnh của tam giác này
bằng ba cạnh của tam giác kia (cạnh - cạnh - cạnh)
d/ Vẽ tam giác biết hai cạnh và góc xen giữa :
Nhắm chuẩn bị cho học sinh tiếp nhận trường hợp bằng nhau của tam
giác cạnh góc cạnh giáo viên hướng dẫn học sinh bài toán vẽ tam giác biết hai
cạnh và góc xen giữa.
+ Giới thiệu dụng dụ : Thước đo độ, thước thẳng có chia khoảng.
+ Chuẩn bị : Giới thiệu lại thao tác vẽ một góc biết số đo đã học ở lớp 6.
+ Nêu bài toán: vẽ ABC biết AB = 2cm, BC = 3cm, Bµ = 700
+ Nêu trình tự vẽ cùng thao tác của giáo viên
Gv:

·
= 700
Vẽ góc xBy
Trang 9


x
-

Trên tia Bx lấy điểm A sao cho BA= 2cm


A

·
·
vẽ các tia Bx, Cy sao cho CBx
= 600 , BCy
= 400

- Hai tia cắt nhau tại A ta được ABC

600 400
B

C

Từ đó giới thiệu cho học sinh hình ảnh trực quan hai góc kề cạnh BC là
·
·
và BCy
nêu câu hỏi đối với góc kề cạnh còn lại. Giáo viên cần đòi hỏi ở
CBx

học sinh yếu kém lên bảng trình bày ?1 và bài tập 33 sách giáo khoa trang 123.
Trong chương II, ba bài toán vẽ tam giác thực hiện liên tiếp có chủ ý giúp các
em nhanh chóng hình thành kỹ năng vẽ tam giác và giúp các em sử dụng thành
thạo các dụng cụ vẽ hình êke, thức đo độ, compa… các em vừa được học vừa
được hành, có lý luận có thực tế, tự tay đặt thước “chạm” vào để vẽ tam giác,
một cách rất trực quan, sinh động không lý thuyết suông. Từ đó giúp các em nhớ
lâu hứng thú học tập và dễ dàng liên tưởng đến các trường hợp bằng nhau cuả
tam giác cạnh cạnh cạnh, cạnh góc cạnh, góc cạnh góc.


A

C
O
O

B

x

C

z

B
Y

Giáo viên cần uốn nắn cho học sinh cách cầm compa. Sau khi vẽ xong hình cần
đặt câu hỏi củng cố: Tia phân giác của một góc là tia như thế nào ?
Hs: Tia phân giác của một góc là tia nằm giữa hai cạnh và tạo với hai cạnh ấy
hai góc bằng nhau.
·
Gv: Để chứng minh tia OC là tia phân giác xOy
ta chứng minh điều gì ?

Hs: Dựa vào các trường hợp đã học cạnh canh cạnh.
Gv: Phân tích hướng chứng minh cho học sinh
·
OC là tia phân giác xOy

hình được vẽ chính xác. Quan trọng hơn là các em đã dần quen với bài toán
dựng hình một cách rất tự nhiên không gò ép, thao tác dựng hình của các em
ngày một chuẩn hơn, sử dụng dụng cụ vẽ hình thành thạo hơn.
5/ Rèn kỹ năng sử dụng dụng dụng cụ vẽ hình qua bài toán chứng minh
tổng hợp.
Trong bài toán hình học, để có bài chứng minh đúng thì yếu tố ban đầu
vô cùng quan trọng là vẽ đúng hình , muốn vẽ đúng hình thì học sinh phải xác
định được nó là bài toán vẽ hình dạng nào đã học, dùng dụng cụ gì để vẽ. Xác
định tốt vấn đề này giúp học sinh vẽ hình đúng và chính xác.
Ví dụ : khi học tiết luyện tập về ba trường hợp bằng nhau của tam giác
(tiết PPCT 34) bài tập 44 (sách giáo khoa trang 125) Cho ABC có Bµ = Cµ tia
phân giác  cắt BC tại D . Chứng minh rằng :
a) ADB = ADC.
b) AB = AC
Gv:

Trang 12


Gv: Phải gợi ý cho học sinh là vẽ ABC thuộc dạng vẽ tam giác cơ bản nào đã
học dùng dụng cụ gì?
Hs: Dạng vẽ tam giác biết một cạnh và hai góc kề và dụng cụ là thước thẳng,
thước đo độ .
Gv: Vẽ tia tia phân giác dùng dụng cụ gì? Là thước thẳng và compa.
Giáo viên gọi học sinh lên bảng vẽ hình nêu giả thiết kết luận cần uốn nắn cách
sử dụng dụng cụ cho đúng.
A
Gt ABC, Bµ = Cµ , AD phân giác Â, D ∈BC
Kl a) ADB =  ADC
b) AB = AC

dụng tốt kiến thức trong học đường vào trong thực tiễn đời sống. Nhìn chung
giáo viên tác động có hiệu quả đến đối tượng học sinh yếu kém, tạo cho các em
sự tự tin trong học tập, tự mình bắt tay vào làm bài, tự vẽ hình, biết sử dụng
thành thạo dụng cụ học tập thì hiệu quả học tập của bản thân các em và cả lớp sẽ
được nâng cao, các em có niềm tin vào bản thân mình, yêu thích môn học hơn.

Gv:

Trang 13


PHẦN KẾT LUẬN
Qúa trình dạy học không phải chỉ là sự truyền giảng, thầy nói trò nghe,
thầy trò cùng thảo luận mà bản thân giáo viên tâm đắc hơn là sự “bắt tay chỉ
việc”, “ học đi đôi với hành”. Qua việc hướng dẫn học sinh vẽ hình ( những bài
toán dựng hình cơ bản ) vừa rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng thành thạo
dụng cụ vẽ hình vừa giúp các em tiếp nhận bài toán dựng hình dưới một hình
thức nhẹ nhàng, dễ hiểu, dễ tiếp nhận. Từ đó giúp học sinh phát huy tính tích
cực chủ động trong học tập, phát triển kĩ năng quan sát, thực hành, nâng cao
năng lực, ham thích học môn hình học hơn.
Trong chứng minh hình học thì yếu tố vẽ đúng hình, chính xác là yếu tố
tiền đề . Đã vẽ đúng hình thì đã giúp học sinh nắm vững khái niệm và tính chất
về hình đã học, đó là những yếu tố cần thiết khi chứng minh. Đặc biệt là đối với
học sinh yếu kém thực hiện tốt những điều nêu trên đã là một thành công đối với
giáo viên vì tuỳ năng lực mỗi đối tượng mà đặt ra mức yêu cầu cần đạt được và
ngày một nâng dần. Kinh nghiệm dạy học sinh yếu kém của giáo viên là tạo
niềm tin vào bản thân học sinh. Qua những công việc nhỏ như tự tay vẽ hình biết
sử dụng dụng cụ vẽ hình tư tay ghi giả thiết kết luận  tự tay chứng minh những
bải toán dễ… từ đó dần cảm thấy yêu thích bộ môn toán hơn, có một vốn kiến
thức về bộ môn.

9 – 10
7–8
5–6
Trên TB
3–4
0–2
Dưới 5

Số lượng 134 học sinh Phần trăm %
31
35
44
107
19
5
24

23
26
33
82
14
4
18

Kết quả học kì I:
Xếp loại
Giỏi
Khá
Trung bình



quả đến từng đối tượng học sinh, hiệu quả từng chương học. Giáo viên nên cho
học sinh sử dụng thành thạo dụng cụ vẽ hình thì phải trang bị cho mình kĩ năng
thao tác sử dụng đồ dùng dạy học chuẩn, chính xác, có hình ảnh minh hoạ cho
hình vẽ cần hướng dẫn, đồ dùng dạy học đẹp, độ chính xác cao. Khi dạy cho học
sinh những bài toán dựng hình cơ bản không gò ép buộc phải dùng đúng dụng
cụ nào (đối với học sinh lớp 7) và trình tự vẽ hình không nên cứng nhắc rập
khuôn. Trong một tiết dạy cần tạo cho học sinh sự hứng thú khi giới thiệu dụng
cụ vẽ học tập sự thoải mái quan tâm trong tiết học luôn luôn nắm những hình vẽ
trong các bài tập chứng minh hình, thao tác sử dụng dụng cụ vẽ hình. Những
kinh nghiệm tích luỹ của bản thân còn hạn chế đơn thuần trong giảng dạy, bản
thân của giáo viên chỉ mong đạt được kết quả trong giảng dạy và chất lượng học
tập của học sinh nâng cao, giúp học sinh năng động sáng tạo, yêu mến bộ môn
toán… các em trở thành con ngoan trò giỏi, người công dân có ích cho xã hội
góp phần xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh – văn minh.
Kính mong được sự góp ý của quý đồng nghiêp, quý thầy cô vá các cấp
quản lý. Xin cảm ơn !
An bình ngày: 16/3/2008
Người thực hiện

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA BAN GIÁM HIỆU
Gv:

Trang 16


……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………


……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA SỞ GIÁO DỤC

…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….

Gv:

Trang 19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status