BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ BẮC
DẠY HỌC CHƯƠNG
“DAO ĐỘNG CƠ” – VẬT LÍ 12 THEO HƯỚNG RÈN
LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA
CHO HỌC SINH THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HÀ NỘI, NĂM 2013
HÀ NỘI, NĂM 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Ban
chủ nhiệm, quý Thầy, Cô giáo Khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trực
tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Ban giám hiệu,
Tổ Vật lí trường THPT Trung Giã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời
gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn tận tình của cô
hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Việt trong suốt thời gian nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Đồng cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp, các bạn cùng lớp cao học, các thầy
giáo, cô giáo và các em học sinh ở các trường mà tác giả đã thực nghiệm đề tài.
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân đã động viên tác
giả hoàn thành luận văn này. Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Bắc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi
hình thức lên lớp 12
1.2.3. Các mức độ sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK 16
1.3. Mục tiêu dạy học Vật lí ở trường phổ thông 18
1.3.1. Về kiến thức 18
1.3.2. Về kĩ năng 18
1.3.3. Về thái độ 18
1.4. Tính tự lực học tập 19
1.4.1. Khái niệm tính tự lực 19
1.4.2. Những biểu hiện của tính tự lực của HS THPT 19
1.4.3. Những biện pháp phát huy tính tự lực trong hoạt động nhận thức của HS
21
1.5. Chất lượng kiến thức 23
1.5.1. Định nghĩa kiến thức vật lí 23
1.5.2. Những dấu hiệu của chất lượng kiến thức 23
1.6. Kết luận chương 1 25
Chương 2. XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ” VẬT LÍ 12 THEO HƯỚNG RÈN LUYỆN KĨ
NĂNG SỬ DỤNG KÊNH HÌNH, KÊNH CHỮ TRONG SGK, NHẰM GÓP
PHẦN PHÁT HUY TÍNH TỰ LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIẾN
THỨC CHO HS THPT 26
2.1. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình,
kênh chữ trong SGK cho HS ở một số trường THPT tại Sóc Sơn – Hà Nội 26
2.1.1. Mục đích điều tra 26
2.1.2. Phương pháp điều tra 26
2.1.3. Đối tượng điều tra 26
2.1.4. Kết quả điều tra 26
2.1.5. Nguyên nhân và phương hướng khắc phục 33
2.2. Nghiên cứu nội dung chương trình và xây dựng cấu trúc logic nội dung
chương “Dao động cơ” Vật lí 12 34
2.2.1. Kiến thức 34
3.5.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 80
3.6. Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN CHUNG 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc logic nội dung kiến thức của chương “Dao động cơ” Vật lí 12:
36
Bảng 2.1: Bảng thống kê các kênh thông tin hỗ trợ trong chương “Dao động cơ” Vật lí
142 37
Bảng 2.2. Các bước rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình 42
Hình 2.3. Sơ đồ tiến trình rèn luyện kĩ năng SD kênh hình, kênh chữ trong SGK cho HS.
45
Bảng 3.1. Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu thực nghiệm 65
Bảng 3.2. Bảng thống kê các điểm số (X
i
) của bài kiểm tra 83
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần suất (W
i
) 83
Đồ thị 3.3. Đồ thị phân phối tần suất của hai nhóm 84
Biểu đồ 3.3. Biểu đồ phân phối tần suất của hai nhóm 84
Bảng 3.4: Bảng phân phối tần suất lũy tích 84
Đồ thị 3.4. Đồ thị phân phối tần suất lũy tích hội tụ lùi 85
Biểu đồ 3.4. Biểu đồ phân phối tần suất lũy tích hội tụ lùi 85
Bảng 3.5. Bảng phân loại theo học lực 85
Biểu đồ 3.5. Biểu đồ phân loại theo học lực của hai nhóm 86
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp các tham số 86
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
cạnh tranh ngày càng cao của xã hội hiện đại. Vì vậy nhiệm vụ quan trọng đặt ra
cho ngành Giáo dục - Đào tạo nước ta là làm thế nào đào tạo và cung ứng cho xã
hội những con người năng động, sáng tạo và tự lực. Trong hoàn cảnh như vậy, giáo
dục ý thức tự học, tự học một cách thường xuyên, có kế hoạch, phương pháp học
tập đúng đắn, khoa học cho HS là một nhiệm vụ bắt buộc và trách nhiệm của GV.
Chỉ có tự học, tự sáng tạo, học đi đôi với hành mới đáp ứng yêu cầu của sự phát
triển xã hội đang đòi hỏi một nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong thời đại công nghệ, nguồn thông tin khoa học đến với con người là rất
đa dạng, phong phú, mọi nơi, mọi lúc; tuy nhiên do điều kiện kinh tế của nhiều gia
đình nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, việc mua sắm các phương tiện dạy
học hiện đại là rất khó khăn nên thông tin từ tài liệu, ấn phẩm đối với HS phổ thông
vẫn là nguồn quan trọng nhất, trong đó phải kể đến là SGK. SGK là tài liệu có nội
dung cơ bản, hiện đại, khoa học, là tài liệu chính thống được biên soạn theo chương
trình quy định của Bộ Giáo dục- Đào tạo để HS học tập. Do đó trước hết cần phải
rèn luyện cho HS kĩ năng sử dụng SGK một cách có hiệu quả. Đó sẽ là cơ sở để
phát huy năng lực tự học sau này cho các em.
Vật lí là một trong những môn học tự nhiên ở trường phổ thông, có vai trò
quan trọng trong nhiều lĩnh vực khoa học. Do đó việc giảng dạy môn Vật lí có
nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức Vật lí cơ bản, hình thành những kĩ
năng và thói quen làm việc khoa học. So với sách giáo khoa cũ thì sách giáo khoa
mới có nội dung phong phú hơn, đảm bảo cung cấp cho học sinh được những kiến
thức cơ bản nhất, nội dung được nâng cao thêm. Tuy trong quá trình dạy học, các
2
em HS đều sử dụng sách giáo khoa, nhưng vấn đề đáng quan tâm hiện nay là HS sử
dụng SGK một cách tùy tiện, thiếu khoa học, chưa đem lại hiệu quả mà SGK có thể
mang lại. Đặc biệt, trong quá trình dạy học, GV chưa chú ý đến việc rèn luyện cho
HS kĩ năng sử dụng SGK. Do đó, vai trò và chức năng của SGK chưa được phát
huy tối đa trong quá trình dạy học, HS chưa thật sự chủ động, sáng tạo trong việc
học tập từ SGK. SGK Vật lí thông qua kênh hình và kênh chữ không những cung
cấp kiến thức cơ bản mà còn cung cấp các thông tin nhằm hỗ trợ cho người học tiếp
hình, kênh chữ trong SGK cho HS trong dạy học Vật lí nhưng chủ yếu ở lớp 10 và
lớp 11 và chưa có đề tài nào nghiên cứu về rèn luyện kĩ năng sử dụng SGK chương
“Dao động cơ” Vật lí 12.
Với những lí do đã trình bày ở trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Dạy học chương “Dao động cơ”- Vật lí 12 theo hướng rèn luyện kĩ năng sử
dụng SGK cho học sinh THPT”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tiến trình dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh
hình, kênh chữ trong sách giáo khoa đáp ứng mục tiêu dạy học môn Vật lí khi dạy
học một số kiến thức chương “Dao động cơ” Vật lí 12, nhằm góp phần phát huy
tính tự lực và nâng cao chất lượng kiến thức cho HS THPT.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh
chữ trong sách giáo khoa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về chương trình: Chương “Dao động cơ” Vật lí 12
- Địa bàn nghiên cứu: Một số Trường THPT thuộc huyện Sóc Sơn – Hà Nội.
4
4. Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Dao động cơ” Vật lí 12 theo
hướng rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK cho HS đáp ứng
mục tiêu dạy học môn Vật lí, thì có thể góp phần phát huy tính tự lực và nâng cao
chất lượng kiến thức cho HS THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về
5.1.1. SGK
5.1.2. Rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK cho HS trong
dạy học
5.1.3. Mục tiêu dạy học.
nhận thực của HS về rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, chữ trong SGK cho HS
của GV thông qua phiếu điều tra.
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số lớp học cùng chương trình, cùng
điều kiện về học lực, cơ sở vật chất, nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học mà đề
tài đã đặt ra.
6.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu thu được từ kết
quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính hợp lí của tiến trình, tính hiệu quả của
đề tài.
7. Dự kiến đóng góp của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc rèn luyện kĩ năng sử dụng
kênh hình, kênh chữ trong SGK cho HS THPT, nhằm góp phầm phát huy tính tự lực
và nâng cao chất lượng kiến thức
- Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Dao động cơ” Vật
lí 12 theo hướng rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK đáp ứng
6
mục tiêu dạy học môn Vật lí, thì có thể góp phần phát huy tính tự lực và nâng cao
chất lượng kiến thức cho HS THPT
- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho GV Vật lí dạy ở trường phổ thông,
các trường THPT và sinh viên các trường sư phạm.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh
chữ trong SGK đáp ứng mục tiêu dạy học môn Vật lí, nhằm góp phần phát huy tính
tự lực và nâng cao chất lượng kiến thức cho HS THPT
Chương 2: Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Dao động
cơ” vật lí 12 theo hướng rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK,
nhằm góp phần phát huy tính tự lực và nâng cao chất lượng kiến thức cho HS THPT
thường là điểm khởi đầu cho các cuộc tranh luận và bàn cãi về văn hoá; SGK là một
trong ba yếu tố quyết định nhất đến chất lượng giáo dục của một quốc gia bên cạnh
yếu tố giáo viên và hệ thống tổ chức giáo dục, hệ thống chương trình” [30].
Khoản 2, điều 29 của Luật Giáo dục Việt Nam 2005 quy định: “Sách giáo
khoa cụ thể hoá các yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong
chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng
yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông”[25]. Như thế, SGK là cụ thể hoá
chương trình. Tức là cụ thể hoá chuẩn về mục tiêu, phạm vi, số lượng và mức độ
của kiến thức, kĩ năng, thái độ.
Cũng theo Luật Giáo dục Việt Nam 2005, “SGK trước hết là sách do Bộ
Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn và được ban hành trên cơ sở thẩm định của
Hội đồng quốc gia thẩm định SGK để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong
giảng dạy, học tập và đánh giá HS ở Nhà trường và các cơ sở giáo dục phổ thông
khác”[25].
8
Chương trình giáo dục phổ thông hiện nay được xây dựng theo hướng coi
trọng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế, tích hợp giáo dục nhiều mặt. Theo
đó SGK cụ thể hoá chương trình giáo dục phổ thông, thể hiện đặc trưng bộ môn,
nhằm đáp ứng yêu cầu về đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông.
Trong quá trình dạy học cả giáo viên và học sinh đều tương tác trực tiếp đến
SGK. Căn cứ vào tác dụng của các công cụ giúp HS nhận thức trực tiếp thế giới
hiện thực thì theo GS. TSKH. Thái Duy Tuyên “ SGK là phương tiện dạy học quan
trọng nhất. SGK cung cấp cho HS hệ thống tri thức và những tình cảm lành mạnh,
những phong cách và phương pháp làm việc hiện đại [30].
Nội dung kiến thức trong SGK trình bày một cách có hệ thống, phù hợp với
chương trình quốc gia về bộ môn, phù hợp với yêu cầu chung đối với SGK như:
tính khoa học của nội dung, tính trực quan, tính dễ hiểu, tính logic của việc trình
bày và phải có mối liên hệ hữu cơ với các môn học khác.
Tuy mỗi cách phát biểu khác nhau nhưng theo chúng tôi các cách phát biểu
đều có ý chung rằng SGK là cuốn sách trình bày hệ thống kiến thức cơ sở của một
cho HS.
1.1.2. Vai trò, chức năng của SGK Vật lí
1.1.2.1.Vai trò, chức năng của SGK Vật lí đối với HS
SGK Vật lí cung cấp cho HS những kiến thức, kĩ năng cơ bản, hiện đại, thiết
thực và có hệ thống theo những quy định trong chương trình của môn học. Cung
cấp thông tin, bao gồm những sự kiện, hiện tượng cụ thể, những khái niệm, những
định luật, những quy tắc, những luận thuyết khoa học về tự nhiên và xã hội của môn
học và khoa học tương ứng.
SGK Vật lí góp phần hình thành cho HS phương pháp học tập tích cực, khả
năng tự học, tự nghiên cứu môn học. Theo GS.TS Nguyễn Đức Thâm “ SGK Vật lí
là tài liệu quan trọng nhất có tác dụng hỗ trợ, tạo điều kiện cho HS tự học, tự tiếp
thu tri thức Vật lí cần thiết cho bản thân. SGK Vật lí giúp cho HS tìm hiểu kiến thức
mới, nghiên cứu và nghiền ngẫm những điều chưa hiểu biết hoặc hiểu chưa thấu
10
đáo về kiến thức Vật lí. SGK Vật lí giúp phát triển những kĩ năng làm bài tập, thực
hành thí nghiệm, kĩ năng lao động Hình thành và phát triển ở HS phương pháp
học tập, nghiên cứu khoa học, thu thập thông tin và xử lí thông tin [26].
Theo GS.TSKH. Thái Duy Tuyên “SGK Vật lí tạo điều kiện cho người học
có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kiến thức, kĩ năng, tự khẳng định khả năng của mình
đối với môn học. Từ đó người học sẽ có được biện pháp cụ thể để bổ sung kiến thức
và kĩ năng Vật lí cho bản thân. Nhờ đó, HS tự điều chỉnh để trở thành một cái tôi
hoàn thiện về đức, trí, thể, mỹ. Việc làm này còn có ý nghĩa quan trọng là góp phần
đáp ứng yêu cầu về lực lượng lao động của quốc gia trong quá trình hội nhập và
phát triển” [30].
SGK Vật lí giúp HS tham khảo, tra cứu thông tin về Vật lí. Nó được coi là
một công cụ tin cậy, có tính thuyết phục cao đối với người học; giúp cho người học
tìm kiếm được những thông tin chính xác, phù hợp với lứa tuổi, với trình độ hiện tại
của người học. Quá trình tự làm việc với SGK tức là tự tương tác giữa HS với SGK
sẽ phát huy tối đa các phẩm chất vốn có của cá nhân. Tự làm việc với SGK sẽ tạo
điều kiện cho HS tự do sáng tạo, tự kiểm tra năng lực của mình về bài học, môn học
điều trên khi GV biết cách tổ chức cho các em các hoạt động tương tác với SGK
một cách phù hợp. Điều đáng quan tâm nữa là trong mỗi một lớp học, trình độ và
năng lực (năng lực về sức khoẻ, năng lực tư duy, năng lực tâm – sinh lý, năng lực
cảm nhận, cảm giác, ) của các em hoàn toàn không đồng đều, do vậy GV càng
phải quan tâm đánh giá được tương đối trình độ và khả năng chiếm lĩnh cũng như
nhu cầu học tập của mỗi em. Việc làm này là vô cùng khó khăn cho GV THPT hiện
nay. Tuy vậy, khó khăn này hoàn toàn có thể khắc phục được nếu có quy trình
hướng dẫn thực hiện một cách phù hợp.
1.2. Rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK cho HS
trong dạy học
1.2.1. Khái niệm kĩ năng
Theo GS.TS. Phạm Hữu Tòng “ Kĩ năng là khả năng của con người thực
hiện các hoạt động nhất định dựa trên việc sử dụng các kiến thức và kĩ xảo đã có.
12
Cơ sở tâm lí của kĩ năng là sự hiểu mối liên hệ tương hỗ giữa mục đích hoạt động,
các điều kiện hoạt động và các cách thức thực hiện hoạt động. Kĩ năng dựa trên
kiến thức, kĩ năng là kiến thức trong hành động” [29].
Khi con người hoạt động liên tục và lặp lại một hoạt động nào đó chuyên biệt
một cách thành thạo sẽ hình thành kĩ năng, kĩ xảo đối với công việc đó.
Theo quan niệm về kĩ năng như trên, có thể quan niệm kĩ năng sử dụng kênh
hình, kênh chữ trong SGK là khả năng mà mỗi người học, người dạy có thể khai
thác, xử lí, sử dụng linh hoạt các kênh thông tin có trong SGK một cách có chủ đích
mang lại hiệu quả nghiên cứu, học tập cao nhất cho bản thân. Từ đó nâng cao chất
lượng học tập, giảng dạy, chất lượng sống cho bản thân và cộng đồng.
1.2.2. Rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK trong
các hình thức lên lớp
Việc rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK cho HS cần
được tiến hành có kế hoạch sao cho các em vừa được rèn luyện ở lớp học vừa tự rèn
luyện ở nhà. Có như vậy việc rèn luyện cho HS kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh
chữ trong SGK sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Do đó, đề tài xác định việc rèn luyện kĩ
chỉ tập trung nghiên cứu việc rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong
SGK cho HS trong kiểu bài nghiên cứu kiến thức mới.
Đối với kiểu bài lên lớp nghiên cứu kiến thức mới thông tin kiến thức cần
giải quyết được trình bày trong SGK ẩn dưới nhiều ý đồ của tác giả, các thông tin
này thường hoàn toàn mới đối với HS. SGK trình bày nội dung kiến thức dưới hai
kênh cơ bản và hỗ trợ lẫn nhau, nếu HS biết cách sử dụng và kết hợp thông tin từ
hai kênh này thì hiệu quả lĩnh hội kiến thức sẽ được nâng cao. Do đó, GV có thể sử
dụng tiến trình rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK để thực
hiện việc tổ chức cho HS làm việc với SGK với nhiều kĩ năng khác nhau ứng với
nhiều giai đoạn khác nhau của tiến trình đã định hướng. HS có thể tiến hành sử
dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK để tự tìm ra nội dung kiến thức cần thiết và
các vấn đề cần giải quyết.
14
Trong kiểu bài lên lớp nghiên cứu kiến thức mới bao gồm các khâu sau:
v Khâu kiểm tra bài cũ
Thông thường, khâu kiểm tra bài cũ ở các trường THPT là hình thức GV yêu
cầu HS trình bày, mô tả để tái hiện kiến thức HS đã học bằng năng lực trí nhớ của
HS, hoặc HS vận dụng hiểu biết về bài đã học để giải bài tập hay trả lời các câu hỏi
do GV đặt ra. Tuy nhiên, ở khâu này GV hầu như không chú trọng đến việc kiểm
tra các kĩ năng sử dụng với các kênh thông tin trong SGK của HS.
Việc đặt câu hỏi, hoặc ra bài tập sao cho có thể vừa kiểm tra được kiến thức
Vật lí vừa kiểm tra được các kĩ năng sử dụng với các kênh thông tin của SGK là
không đơn giản, đòi hỏi GV phải có năng lực và “gia công” tỉ mỉ.
Tuy vậy, nếu GV biết sử dụng tiến trình rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh
hình, kênh chữ trong SGK cho HS để giải quyết các yêu cầu do GV đưa ra trong
khâu kiểm tra bài cũ sẽ tạo cơ hội hình thành cho HS kĩ năng sử dụng kênh hình,
kênh chữ trong SGK. Chẳng hạn, yêu cầu HS sử dụng các kĩ năng sử dụng kênh
hình, kênh chữ trong SGK để tìm thông tin còn thiếu trong khi giải một bài tập, sử
dụng đồ thị, lập sơ đồ tóm tắt kiến thức đã học, lập bảng kiến thức, bảng so sánh,
ở hoạt động kiểm tra bài cũ. Việc làm này làm bộc lộ trực tiếp năng lực học tập của
đâu thì cũng không thể giải quyết triệt để mục tiêu học tập, rèn luyện kĩ năng do
nhiều yếu tố khách quan. Do vậy, việc tiếp tục tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng
kênh hình, kênh chữ trong SGK cho HS ngoài giờ lên lớp là rất cần thiết.
HS tự sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK ngoài giờ học có nhiều thuận
lợi, chẳng hạn các em không bị giới hạn thời gian luyện tập, các em tự làm việc theo
ý thích, năng lực cá nhân, có không gian, thời gian riêng do các em lựa chọn và sắp
xếp. Bên cạnh đó, sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK ngoài giờ lên lớp cũng
có một số khó khăn nhất định như không có sự hướng dẫn, giám sát, điều chỉnh trực
tiếp và kịp thời của GV. Do đó, đòi hỏi HS phải có ý thức tự giác cao và HS phải
tiếp tục giải quyết nhiệm vụ học tập chưa thật sự hoàn chỉnh trên lớp.
16
Để có thể tổ chức tốt hoạt động rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ
trong SGK cho HS ngoài giờ lên lớp, GV cần phải xác định các kĩ năng cụ thể cần rèn
luyện, biện pháp tổ chức rèn luyện, các yêu cầu HS cần đạt được trong quá trình rèn
luyện. Từ đó đưa ra các yêu cầu cụ thể để HS rèn luyện ở nhà, hướng dẫn một cách
chi tiết các bước mà HS cần thực hiện để đảm bảo HS có thể thực hiện được và có
biện pháp kiểm tra kết quả rèn luyện của HS.
GV nên có các phương án yêu cầu HS thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà một
cách vừa sức, có tính kích thích được hứng thú học tập, thúc đẩy sự nỗ lực, tò mò tìm
kiếm kiến thức của HS. Đồng thời, GV định hướng hoạt động tự lực của HS sao cho
nếu các em thực sự nỗ lực thì sẽ tiếp thu tốt bài học hôm sau, củng cố tốt bài đã học.
Quá trình rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK cho HS
ngoài giờ lên lớp sẽ góp phần phát huy tính tự lực và nâng cao chất lượng kiến thức
cho HS một cách rất thuận lợi.
1.2.3. Các mức độ sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK
1.2.3.1. Mức độ 1
Mức độ 1 được sử dụng trong trường hợp HS chưa có kĩ năng sử dụng kênh
hình, kênh chữ trong SGK hoặc có nhưng ở mức thấp. Trường hợp này GV phải
làm mẫu, hướng dẫn tỉ mỉ, rõ ràng cho các em theo trình tự các bước sử dụng kênh
hình, kênh chữ. Phải đảm bảo HS phải quan sát thấy, nghe thấy rõ ràng và hiểu