Luyện kĩ năng sử dụng quan hệ từ cho học sinh lớp 5 - Pdf 31

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ THÁI

LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG QUAN HỆ TỪ CHO HỌC SINH LỚP 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

TS. PHẠM THỊ HÒA

HÀ NỘI- 2013

2


3


Nội dung

4

Trang


2.2.2.3. Giúp học sinh chữa lỗi sử dụng quan hệ từ
Kết luận
Tài liệu tham khảo

LỜI CẢM ƠN
6


Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các giảng viên trong
khoa Giáo dục Tiểu học và các bạn sinh viên đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho
em trong quá trình làm khóa luận . Đặc biệt em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới
TS. Phạm Thị Hòa đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành
khóa luận này.
Trong khi thực hiện đề tài này, do thời gian và năng lực có hạn nên em
không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế. Vì vậy, em rất mong nhận được sự tham gia
đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn bè để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

LỜI CAM ĐOAN
7


Em xin cam đoan đề tài: “Luyện kĩ năng sử dụng quan hệ từ cho học sinh
lớp 5” là kết quả mà em đã trực tiếp nghiên cứu, tìm tòi thông qua sự hướng dẫn
của thầy cô, sự giúp đỡ của bạn bè và sách vở.
Trong quá trình nghiên cứu, em có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên
cứu, một số tác giả khác. Tuy nhiên, đó chỉ là cơ sở để em rút ra những vấn đề cần
tìm hiểu ở đề tài của mình.
Khóa luận này là kết quả của riêng cá nhân em, hoàn toàn không trùng với
các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác. Những điều em nói ở trên là hoàn toàn

cho câu văn được liên kết với nhau chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên thời gian dạy học dành cho bài Quan hệ từ của phân môn Luyện
từ và câu không nhiều cho nên khó có thể khắc sâu cũng như mở rộng hiểu biết
cho học sinh về quan hệ từ. Trong các lỗi về nói và viết của các em còn rất nhiều
lỗi do sử dụng quan hệ từ không đúng, hoặc các em không biết sử dụng quan hệ từ
linh hoạt. Nghiên cứu về quan hệ từ có rất nhiều nhưng nghiên cứu về rèn kĩ năng

9


sử dụng quan hệ từ cho học Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng còn rất
ít.
Vì những lí do trên, em mạnh dạn chọn vấn đề: “Luyện kĩ năng sử dụng
quan hệ từ cho học sinh lớp5”, làm đề tài nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp
của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Chúng tôi chưa tìm được công trình nghiên cứu nào chuyên xem xét về việc
dạy quan hệ từ, nhưng trong một số bài báo, một số giáo trình Phương pháp dạy
học Tiếng Việt ở Tiểu học có đề cập tới việc dạy học sinh thực hành nói viết câu
có liên kết. Các tác giả đã đề cập tới trong các công trình này rất nhiều phương tiện
liên kết câu, và những phần chỉ dẫn về cách sử dụng quan hệ từ để liên kết vế câu,
liên kết câu, liên kết đoạn, thực sự hữu ích đối với học sinh. Chúng tôi đã tìm thấy
ở đây chỗ dựa quan trọng để từ đó xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng
quan hệ từ cho HS.
Trong khóa luận tốt nghiệp Đại học và sau Đại học, chúng tôi thấy có
một số công trình bàn đến việc dạy từ loại nói chung trong đó có đề cập dạy hư từ.
Tiêu biểu là luận văn Sau đại học của tác giả Lê Thị Lan Anh. Trong luận văn của
mình, tác giả đã tập trung nghiên cứu rất sâu về dạy từ loại. Tuy nhiên do mục đích
đặt ra là xem xét việc dạy tất cả các từ loại được dạy ở bậc tiểu học nên trong luận
văn này tác giả không thể nghiên cứu kĩ hoạt động dạy quan hệ từ cho HS lớp 5

- Phương pháp nghiên cứu các vấn đề lí thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
- Phương pháp hệ thống.

11


Chương 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
a) Khái niệm về hư từ
Khi nghiên cứu về hư từ, người ta thường xem xét đối lập chúng theo hai
tiêu chuẩn: ý nghĩa từ vựng và chức vụ ngữ pháp.
Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” của Nguyễn Tài Cẩn hư từ là “những từ
không thể làm trung tâm đoản ngữ và không thể làm thành phần câu” [8, trang
174].
Theo cuốn “ Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” - 1988, Nguyễn Văn Quế viết:
“Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chúng chỉ có tác dụng nối
kết mà không tự mình làm hoàn thành câu”.
Như vậy theo hai tác giả trên, hư từ không có ý nghĩa từ vựng và không thể
làm thành phần chính trong câu nhưng lại có tầm quan trọng rất lớn trong việc nối
kết các đơn vị từ vựng.
b) Phân loại hư từ
Theo tác giả Diệp Quang Ban, hư từ được chia thành các loại sau: phụ từ,
tiểu từ, quan hệ từ. Do phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ giới hạn ở tiểu loại
quan hệ từ, cho nên nội dung phụ từ, tiểu từ chúng tôi không trình bày trong
chương lí thuyết này mà tập trung vào phần quan hệ từ.
c. Quan hệ từ


VD: Chẳng những bạn Lan học giỏi mà bạn ấy còn chơi thể thao giỏi.
Một cách phân tiểu loại nữa đó là nêu một số quan hệ từ thường dùng với ý
nghĩa của nó như tác giả Lê Biên:
>Của : Chỉ quan hệ sở hữu, sở thuộc
VD: Áo của tôi đẹp.
Chiếc bút này của ai?
>Mà: Quan hệ đặc trưng hay quan hệ mục đích
VD: Chiếc áo mà anh mua rất đẹp.
Con có lạnh mẹ lấy áo mà mặc thêm.
>Ở: Quan hệ định vị (địa phương, đối tượng)
VD: Đồng hồ treo ở trên tường.
Em tin ở lòng trung thực của anh.
>Từ: chỉ quan hệ định vị
VD: Từ sáng, trời mưa suốt.
Gia đình bác Cả từ trên thành phố về ăn giỗ.
>Với:
+ Quan hệ hướng tới đối tượng
VD: Cô giáo nói chuyện với tôi hơn hai tiếng liền.
Lưu ý: với là quan hệ từ
Với là tình thái từ.

14


+ Quan hệ tương liên (cùng hoạt động, cùng trạng thái, cùng sự vật có quan
hệ).
VD: Bạn xứng đáng với danh hiệu Cầu thủ Vàng.
+ Quan hệ về điều kiện phương thức của hoạt động.
VD: Anh ấy nói chuyện với một thái độ cởi mở.

các đơn vị như quan hệ từ: rồi, còn, và, nhưng, do, tại,...
- Thấy thêm, một số quan hệ từ (nêu trên) nguyên là những thực từ chuyển
sang.
Trong cuốn Hư từ trong Tiếng Việt hiện đại của tác giả Nguyễn Anh Quế,
phân loại hư từ được các nhà nghiên cứu áp dụng cho Tiếng Việt là dựa hẳn vào
chức năng của chúng. Những hư từ chỉ chuyên làm từ phụ cho một thực từ khác là
phụ từ, những hư từ chỉ chuyên dùng để biểu thị quan hệ giữa các từ hoặc các câu
quan hệ từ. Trong tiếng Việt có một loại hư từ không có khả năng làm thành tố
đoản ngữ mà chỉ có khả năng nối kết các yếu tố trong đoản ngữ trong câu. Nói
cách khác, chúng không có vị trí xác định trên cấu trúc đoản ngữ trên câu như các
hư từ đã mô tả ở chương trước mà chúng chỉ tham gia vào cấu trúc đoản ngữ, vào
câu để biểu thị ý nghĩa của một quan hệ nào đó. Vì vậy, để tiến hành phân loại và
khảo sát các hư từ này chúng ta căn cứ vào chức năng nối kết của chúng. Tuy
nhiên ở đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về hư từ được dạy trong
chương trình ở tiểu học chính là quan hệ từ. Cụ thể:

16


Theo SGK Tiếng Việt lớp 5, tập 1, trang 110, quan hệ từ là nối các từ ngữ
hoặc các câu, nhằm thể hiện mối quan hệ giữa những từ ngữ hoặc những câu ấy
với nhau: và, với, hay, hoặc, nhưng, mà, thì, của, ở, tại, bằng, như, để, về,…
Hơn nữa việc dạy và học về quan hệ từ ở tiểu học chỉ được dạy theo các cặp
quan hệ từ:
- Vì … nên …; do … nên …; nhờ … mà … (biểu thị quan hệ nguyên nhân –
kết quả).
- Nếu … thì …; hễ … thì … (biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả, điều kiện –
kết quả).
- Tuy … nhưng …; mặc dù … nhưng … (biểu thị quan hệ tương phản).
- Không những … mà …; không chỉ … mà … (biểu thị quan hệ tăng tiến).

hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi hỏi mới của cuộc sống… Trẻ chỉ
phải tự tập lập lấy vị trí của mình trong môi trường “trung lập về tình cảm”, mà
còn phải thích ứng với những bó buộc không tránh khỏi và chấp nhận về một
người lớn ngoài gia đình (thầy, cô giáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống
của trẻ. Trẻ chẳng những phải ý thức thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các
nhiệm vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của
mình một cách có chủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập, vận hành cùng
một lúc các mối quan hệ với các đối tượng khác và mang tính chất khác nhau.
Trước những thử thách này, trẻ dù muốn hay không cũng phải lĩnh hội các
cách thức, phương thức phức tạp hơn của hành vi và hoạt động để thỏa mãn những
yêu cầu và đòi hỏi cuộc sống nhà trường và nhờ vậy “đẩy” được sự phát triển của
mình lên một mức cao hơn. Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng
phương thức lĩnh hội. Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu mô hệ thống tri thức về các
môn học, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường học và môi
trường xã hội. Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia đình và
quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh tiểu học lĩnh hội các
chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi. Sự lĩnh hội trên tạo ra những biến đổi cơ
bản trong sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học. Chúng không chỉ đảm bảo cho
các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên – lứa tuổi
18


có xu thế vươn lên làm người lớn. Về việc này, N.X.Leytex đã khắc họa: “Tuổi
tiểu học là thời kì của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm
ưu thế”. Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của
lứa tuổi này – sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt
là thầy - cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi ngây thơ đối
với các đối tượng mà các em được tiếp xúc.
Cùng với đó thì khả năng tưởng tượng của học sinh tiểu học cũng đã phát
triển hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày

nhân vật trung tâm, là linh hồn của trường tiểu học. Ở đấy, trẻ đang từng ngày,
từng giờ tự hình thành cho mình năng lực của người ở trình độ sơ đẳng nhưng cơ
bản, như sử dụng tiếng mẹ đẻ, năng lực tính toán, đặc biệt là năng lực làm việc trí
óc – năng lực tạo ra các năng lực khác. Cùng với các năng lực trên sự hình thành
tình cảm, thái độ và cách cư xử phù hợp với dân tộc và văn minh nhân loại hiện
đại. Học sinh tiểu học ngày nay là những chủ thể đang trở thành chính mình bằng
hoạt động của mình dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người lớn theo phương pháp
nhà trường hiện đại.
Xem xét những đặc điểm tâm lí chúng tôi thấy, tư duy lôgic của học sinh lớp
5 tốt hơn hẳn so với tư duy của học sinh các lớp1, 2, 3 do vậy các em đã có sự
thích ứng với hệ thống bài tập. Tuy nhiên do những tư duy lập luận, khả năng trừu
tượng của các em còn ở mức độ đơn giản chính vì vậy mà những hoạt động này
cần được lặp đi lặp lại nhiều lần để các em hình thành nên thói quen với kĩ năng
làm bài. Từ đó chúng tôi cũng đi xây dựng hệ thống bài tập nhằm giúp luyện kĩ
năng làm bài quan hệ từ cho học sinh.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội dung bài học về quan hệ từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
Chương trình Tiếng Việt - phần quan hệ từ được hiện thực hóa trong
SGK Tiếng Việt 5 thành 2 dạng bài. Thứ nhất là bài lí thuyết về quan hệ từ (tiết
24, tuần 11, trang 110). Thứ hai là bài luyện tập về quan hệ từ (tiết 26, tuần 12,
20


trang 121). Có thể tính cả một số tiết thực hành sử dụng quan hệ từ trong luyện
tập viết câu ghép và liên kết câu trong ngữ pháp văn bản.(Cụ thể là các tiết sau:
Cách nối các vế câu ghép (tuần 19: 1 tiết); nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ
(tuần 20: 1 tiết, tuần 21; 1 tiết; tuần 22: 2 tiết); liên kết các câu trong bài bằng
từ ngữ nối (tuần 27: 1 tiết).
1.2.1.1. Nội dung bài học lí thuyết về quan hệ từ
Nội dung bài học lí thuyết về quan hệ từ được trình bày trong SGK theo mô

* Quan hệ từ là nối các từ ngữ hoặc các câu, nhằm thể hiện mối quan hệ
giữa những từ ngữ hoặc những câu ấy với nhau: và, với, hay, hoặc, nhưng, mà, thì,
của, ở, tại, bằng, như, để, về,…
* Nhiều khi, từ ngữ trong câu được nối với nhau bằng một cặp quan hệ từ.
Các cặp quan hệ từ thường gặp là:
- Vì … nên …; do … nên …; nhờ … mà … (biểu thị quan hệ nguyên nhân –
kết quả).
- Nếu … thì …; hễ … thì … (biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả, điều kiện –
kết quả).
- Tuy … nhưng …; mặc dù … nhưng … (biểu thị quan hệ tương phản).
- Không những … mà …; không chỉ … mà … (biểu thị quan hệ tăng tiến).
Trong phần Luyện tập, SGK đã biên soạn hai hệ thống bài tập: bài tập nhận
diện và bài tập sáng tạo (bài tập vận dụng).
Bài tập 1: Tìm quan hệ từ trong mỗi câu sau và nêu rõ tác dụng của chúng:
a) Chim, Mây, Nước và Hoa đều cho rằng tiếng hót kì diệu của Họa Mi đã
22


làm cho tất cả bừng giấc.
Võ Quảng
b) Những hạt mưa to và nặng bắt đầu rơi xuống như ai ném đá, nghe rào rào.
Nguyễn Thị Ngọc Tú
c) Bé Thu rất khoái ra ban công ngồi với ông nội, nghe ông rủ rỉ giảng bài về
từng loài cây.
Theo Văn Long
Bài tập 2: Tìm cặp quan hệ từ ở mỗi câu sau và cho biết chúng biểu thị quan hệ gì
giữa các bộ phận của câu.
a) Vì mọi người tích cực trồng cây nên quê hương em có nhiều cánh rừng
xanh mát.
b) Tuy hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng bạn Hoàng vẫn luôn học giỏi.

tuy nhiên, thậm chí, cuối cùng, ngoài ra, mặt khác, trái lại, đồng thời, ...
Trong phần Luyện tập, SGK đã biên soạn 2 bài tập: bài tập nhận diện và bài
tập vận dụng nhằm củng cố lại kiến thức của bài học lí thuyết.
Bài tập 1: Đọc bài văn sau. Tìm các từ ngữ có tác dụng nối trong ba đoạn
văn đầu hoặc bốn đoạn văn cuối.
Qua những mùa hoa
Trên con đường từ nhà đến trường, tôi phải đi qua bờ Hồ Gươm. Lúc có bạn
thì chuyện trò tíu tít, có khi đuổi nhau suốt dọc đường. Nhưng khi đi một mình, tôi
thích ôm cặp vào ngực, nhìn lên các vòm cây, vừa đi vừa lẩm bẩm ôn bài.

24


Vì thế, tôi thường là đứa phát hiện ta bông hoa gạo đầu tiên nở trên cây gạo
trước đền Ngọc Sơn. Rồi bông nọ gọi bông kia, bông nọ ganh bông kia, chỉ vài
hôm sau, cây gạo đã như một cây đuốc lớn cháy rừng rực giữa trời.
Nhưng khi lửa ở cây gạo sắp lụi thì nó lại “bén” sang những cây vông cạnh
cầu Thê Húc. Rồi thì cả một bãi vông lại bừng lên, đỏ gay, đỏ gắt suốt cả tháng tư.
Đến tháng năm thì những cây phượng đón lấy lửa ấy, chạy tiếp cuộc chạy
tiếp sức của các loài hoa trong thành phố, báo hiệu những ngày nghỉ hè thoải mái
của chúng tôi sắp đến.
Nắng trời vừa mới bắt đầu gay gắt thì sắc hoa như muốn giảm đi độ chói
chang của mình. Hoa phượng màu hồng pha da cam chứ không đỏ gắt như vông
như gạo. Đến cái anh bằng lăng thì đã vừa hồng vừa tím. Sang đến anh hoa
muồng thì đã ngả hẳn sang sắc vàng chanh.
Nhưng nói chung, đó toàn là những màu sắc rực rỡ như muốn phô hết ra
ngoài. Mãi đến năm nay, khi đã lên lớp Năm, đã “người lớn” hơn một tí, tôi mới
nhận ra hoa sấu, những chùm hoa nhỏ xíu, sắc chỉ hơi hoe vàng, chìm lẫn vào
từng đợt lá non, lẫn với màu nắng dịu.
Đến khi các loài hoa rực rỡ như hoa gạo, vông, phượng, bằng lăng, muồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status