BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN KHÁNH LINH
MÃ SINH VIÊN: 1201327
KHẢO SÁT TÍNH HỢP LÝ TRONG
CÁCH SỬ DỤNG KHÁNG SINH
TIÊM TRUYỀN TẠI MỘT SỐ
KHOA LÂM SÀNG, BỆNH VIỆN E
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN KHÁNH LINH
MÃ SINH VIÊN: 1201327
KHẢO SÁT TÍNH HỢP LÝ TRONG
CÁCH SỬ DỤNG KHÁNG SINH
TIÊM TRUYỀN TẠI MỘT SỐ
KHOA LÂM SÀNG, BỆNH VIỆN E
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. ThS. Hoàng Hà Phương
2. ThS. Nguyễn Trung Nghĩa
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Dược lâm sàng
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .....................................................................................2
Tổng quan về sử dụng thuốc đường tiêm truyền ............................................2
1.1.1. Đặc điểm chung về sử dụng thuốc theo đường tiêm truyền ..............................2
1.1.2. Tương kỵ thuốc ..................................................................................................6
Sai sót trong quá trình thực hiện các thuốc đường tiêm truyền ....................7
1.2.1. Sai sót liên quan đến thuốc ...............................................................................7
1.2.2. Các biện pháp can thiệp của dược sĩ lâm sàng ..............................................11
Một số nguồn tài liệu tham khảo tra cứu về thuốc kháng sinh tiêm truyền
...................................................................................................................................12
1.3.1. Handbook on injectable drug guide ................................................................12
1.3.2. Injectable drug guide ......................................................................................13
1.3.3. Dược thư Quốc gia Việt Nam ..........................................................................13
1.3.4. Phần mềm Micromedex ...................................................................................13
1.3.5. Hướng dẫn sử dụng kháng sinh – Bộ Y tế ......................................................14
1.3.6. Tờ thông tin sản phẩm.....................................................................................14
Các nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng thuốc tiêm truyền ...................14
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới ...........................................................................14
1.4.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam ..........................................................................15
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................17
2.1. Xây dựng bảng tổng hợp hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh tiêm truyền
từ danh mục thuốc tại Bệnh viện E năm 2016 – 2017 ..........................................17
2.1.1. Lựa chọn thuốc kháng sinh tiêm truyền từ danh mục thuốc Bệnh viện E năm
2016 – 2017 ...............................................................................................................17
2.1.2. Các nguồn tài liệu tham khảo .........................................................................17
4.3. Tính hợp lý về việc lựa chọn dung môi hoàn nguyên và thể tích dung môi
hoàn nguyên các thuốc kháng sinh tiêm truyền ...................................................43
4.3.1. Về chỉ định của bác sĩ .....................................................................................43
4.3.2. Về thực hiện thuốc của điều dưỡng .................................................................44
4.4. Tính hợp lý về việc lựa chọn dung môi pha loãng và thể tích dung môi pha
loãng các thuốc kháng sinh tiêm truyền................................................................45
4.4.1. Về chỉ định của bác sĩ .....................................................................................45
4.4.2. Về thực hiện thuốc của điều dưỡng .................................................................45
4.5. Tính hợp lý về việc lựa chọn thời gian hay tốc độ tiêm truyền các thuốc
kháng sinh ................................................................................................................46
4.5.1. Về chỉ định của bác sĩ .....................................................................................46
4.5.2. Về thực hiện thuốc của điều dưỡng .................................................................47
4.6. Hạn chế của nghiên cứu ...................................................................................49
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .............................................................50
5.1. Kết luận .............................................................................................................50
5.1.1. Tính hợp lý trong thực tế kê đơn các thuốc kháng sinh tiêm truyền ...............50
5.1.2. Tính hợp lý trong thực tế thực hiện các thuốc kháng sinh tiêm truyền của điều
dưỡng.........................................................................................................................50
5.2. Đề xuất...............................................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Một số kháng sinh thiếu thông tin trong tài liệu tham khảo .....................24
Bảng 3.2. Sự thống nhất và khác biệt giữa các nguồn tài liệu tham khảo ................25
Bảng 3.3. Đặc điểm chung về bệnh nhân tại 2 khoa .................................................26
Bảng 3.4. Đặc điểm sử dụng kháng sinh theo từng khoa..........................................28
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
TM
Tĩnh mạch
NCPT
Nước cất pha tiêm
TMC
Tĩnh mạch chậm
Ampi + Sul
Ampicilin + Sulbactam
Co-amoxiclav
Amoxicilin + Acid Clavulanic
V
Thể tích
KC
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
Tổng quan về sử dụng thuốc đường tiêm truyền
1.1.1. Đặc điểm chung về sử dụng thuốc theo đường tiêm truyền
Đường tiêm truyền là một trong những đường dùng phổ biến và quan trọng
nhất trong thực hành thuốc tại bệnh viện hiện nay [7]. Theo thống kê của Tổ chức Y
tế thế giới – WHO năm 2004, khoảng 50% bệnh nhân đang được kê đơn dùng thuốc
theo đường tiêm truyền tại các cơ sở y tế trên toàn cầu. Ở các nước phát triển và
đang phát triển có khoảng 16 tỷ lượt thuốc tiêm truyền được chỉ định để phòng và
chữa bệnh mỗi năm [36]. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc đường tiêm truyền cần sự
hợp tác chặt chẽ giữa các nhân viên y tế để đảm bảo sử dụng thuốc một cách an
toàn, hiệu quả và kinh tế [20].
Đường tiêm truyền có nhiều ưu điểm hơn so với các đường dùng thuốc khác
như: thích hợp với những đối tượng như bệnh nhân cấp cứu, bệnh nhân bất tỉnh,
không dung nạp thuốc qua đường uống hay không hợp tác; thuốc có tác dụng
nhanh, dễ định lượng liều chính xác và duy trì tốt nồng độ thuốc trong máu, nhờ đó
có hiệu quả điều trị liên tục; thích hợp trong những trường hợp thuốc không hấp thu
theo đường uống như insulin hay một số kháng sinh [20]. Tuy nhiên, việc sử dụng
thuốc đường tiêm truyền cũng có một số nhược điểm cần lưu ý. Một số tai biến hay
nguy cơ nhiễm khuẩn có thể gặp phải khi dùng thuốc, thậm chí có thể dẫn tới tử
vong, vì vậy đòi hỏi kỹ thuật vô trùng nghiêm ngặt. Các thuốc đường tiêm truyền
chỉ được thực hiện bởi các nhân viên y tế có chuyên môn và yêu cầu có đầy đủ dụng
cụ tiêm truyền [20]. Ngoài ra, khi sử dụng thuốc tiêm truyền cần chú ý về mặt
tương hợp thuốc, độ ổn định của thuốc và giá thành cao. Chính vì vậy, trong thực
hành lâm sàng, bác sĩ luôn cần cân nhắc tất cả những ưu điểm cũng như những nguy
cơ có thể xảy ra trước khi sử dụng thuốc tiêm truyền cho bệnh nhân [20].
Hiện nay có một số cách đưa thuốc theo đường tiêm truyền được sử dụng
[20]. Một số kháng sinh khi sử dụng đường tiêm bắp có thể gây kích ứng mạnh, gây
đau vị trí tiêm như ampicilin + sulbactam, kháng sinh nhóm cephalosporin. Các
thuốc này thường được chỉ định pha tiêm bắp cùng với dung dịch lidocain 0,5%
hoặc 1% hoặc 2% [3], [20]. Đối với những dung môi tiêm bắp có chứa lidocain (0,5
3
– 0,8%) hoặc alcol benzylic (3%), cần lưu ý tuyệt đối không được đưa vào tĩnh
mạch vì có thể gây ngừng tim [5].
Có 2 kỹ thuật tiêm bắp là tiêm trực tiếp vào vùng cơ và tiêm Z – track. Trong
đó, với kỹ thuật tiêm trực tiếp, mũi kim được cắm vuông góc với bề mặt da, sau khi
rút kim cần ấn chặt vị trí tiêm để tránh rò rỉ thuốc. Với kỹ thuật tiêm Z – track, da ở
vùng cơ sẽ được dồn sang một phía trước khi tiêm, khi rút kim ra thì tác dụng đồng
thời phát huy, phương pháp này thường được sử dụng trong trường hợp các thuốc
gây kích ứng mô dưới da [20].
Có thể có sự khác nhau về sinh khả dụng của một thuốc giữa hai đường tiêm
bắp và tiêm tĩnh mạch, vì đường tiêm bắp thường khởi phát chậm hơn. Do đó, cần
phải cân nhắc khi chỉ định thay thế một thuốc dùng đường tiêm bắp hay tiêm tĩnh
mạch [20].
Tiêm tĩnh mạch
Tiêm tĩnh mạch là cách đưa thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch với thể tích dung
dịch nhỏ từ 5 – 10 ml, trong khoảng thời gian ngắn khoảng dưới 5 phút. Nếu tiêm
tĩnh mạch quá nhanh có thể gây sốc. Thuốc có thể được tiêm trực tiếp vào tĩnh
mạch hoặc bơm qua bộ dây truyền hoặc qua ống thông trên chạc truyền [20], [26].
Thể tích dung môi pha tiêm tĩnh mạch thường nhỏ hơn hoặc bằng 5 ml. Tuy
nhiên, thể tích dung dịch cần dùng có thể lớn hơn nếu thuốc có độ tan kém, có khả
năng gây kích ứng niêm mạc hoặc được khuyến cáo tiêm chậm [20].
Thời gian tiêm tĩnh mạch thường dưới 5 phút trừ một số khuyến cáo khác
của nhà sản xuất, tuy nhiên một số thuốc có thể yêu cầu thời gian tiêm dài hơn như
chứa một số nguy cơ, phải đảm bảo rằng thuốc khi được bơm cùng dung môi phải
tương hợp [20].
Truyền tĩnh mạch liên tục cho phép cung cấp lượng thuốc ổn định trong
khoảng thời gian dài, giúp duy trì nồng độ thuốc trong máu. Với truyền tĩnh mạch
liên tục, thuốc được pha trong một lượng lớn dịch truyền, tốc độ và thời gian truyền
phụ thuộc vào nồng độ cần duy trì [5]. Trong một số trường hợp, để nhanh đạt được
nồng độ thuốc ban đầu có thể đưa 1 liều nạp (loading dose) trước khi truyền tĩnh
mạch liên tục [26].
Khi truyền một lượng lớn dịch có thể gây quá tải dịch truyền và thay đổi điện
giải của bệnh nhân [20], [26]. Quá trình chuẩn bị dung dịch thuốc trước khi truyền
5
tĩnh mạch thường khá phức tạp. Với các chế phẩm dạng bột pha tiêm, trước tiên
thuốc cần được hoàn nguyên, là quá trình thuốc được hòa tan với một lượng dung
môi tương hợp. Sau giai đoạn hoàn nguyên, thuốc sẽ được pha loãng trong dung
môi tương hợp để truyền tĩnh mạch. Có một số chế phẩm dạng dung dịch tuy không
cần hoàn nguyên nhưng vẫn phải pha loãng trước khi truyền như ciprofloxacin dạng
đậm đặc 1% hay amikacin 250mg/2ml, tuy nhiên dung môi pha loãng cần phải đảm
bảo tương hợp với thuốc [20].
Dung môi thường dùng pha loãng cho các thuốc tiêm truyền là NaCl 0,9%
hoặc glucose 5%, ringer lactat, các dung môi này đẳng trương với máu tránh gây vỡ
tế bào máu. Các loại thuốc có thể tương hợp với một trong hai dung môi, mặc dù độ
hòa tan và độ ổn định theo thời gian có thể khác nhau [20]. Cần tránh truyền một
thể tích lớn dịch truyền nhược trương, do vậy cần cẩn trọng khi sử dụng nước cất
pha tiêm để truyền tĩnh mạch [3].
Loại dung môi pha truyền, thể tích dung môi và tốc độ truyền là những thông
tin cơ bản cần xác định trước khi sử dụng các thuốc theo đường truyền tĩnh mạch
[26]. Các thông tin này có thể tìm thấy trong các hướng dẫn thực hành và tờ hướng
pH: Thuốc trộn lẫn với dung môi có thể thay đổi pH của dung dịch và độ ổn
định của thuốc. Với kháng sinh, khoảng pH ổn định thường từ 4 đến 8 nên khi pha
loãng trong các dịch truyền có bản chất kiềm có thể gây phân hủy thuốc [26].
Để tránh bất kì vấn đề tương kỵ nào có thể xảy ra, cần đảm bảo luôn tráng
dây truyền giữa hai lần đưa thuốc khác nhau qua cùng dây truyền bằng dung môi
tương hợp với cả hai thuốc. Dung môi thường dùng trong các trường hợp này là
NaCl 0,9% hoặc glucose 5%. Để tráng ống thông cần 5 – 10 ml dung môi, tráng dây
truyền cần 20 ml dung môi [20].
Sai sót trong quá trình thực hiện các thuốc đường tiêm truyền
1.2.1. Sai sót liên quan đến thuốc
Một chu trình thực hiện thuốc có thể chia thành 5 giai đoạn: kê đơn, sao chép
kiểm tra đơn, pha chế, cấp phát và sử dụng trên bệnh nhân [8]. Sai sót liên quan đến
thuốc khá phổ biến và có thể dẫn đến các biến cố bất lợi về thuốc [12]. Sai sót trong
quá trình sử dụng thuốc được định nghĩa là những sai lệch trong quá trình chuẩn bị
và thực hiện thuốc từ chỉ định của bác sĩ, chính sách của bệnh viện hoặc các hướng
dẫn từ nhà sản xuất [12], [23]. Theo MEDMARX – một hệ thống báo cáo sai sót
7
liên quan đến thuốc của các bệnh viện tại Hoa Kỳ năm 2004, các sai sót được báo
cáo bao gồm các sai sót trong kê đơn (21%), sai sót trong cấp phát (22%) và trong
thực hiện thuốc (33%) [22]. Một nghiên cứu về tác động của dược sĩ lâm sàng trong
giảm thiểu sai sót liên quan đến thuốc được tiến hành năm 2014 tại các bệnh viện
Việt Nam đã chỉ ra sai sót thường gặp nhất liên quan đến kỹ thuật chuẩn bị và thực
hiện thuốc [29]. Sai sót liên quan đến thực hiện thuốc chiếm 1/3 sai sót gây hại cho
bệnh nhân [8].
Sai sót liên quan đến thuốc là một trong những loại sai sót thường gặp nhất
trên lâm sàng [17]. Đặc biệt với các thuốc đường tiêm truyền thường có những rủi
ro vì sự phức tạp và yêu cầu nhiều bước trong quá trình chuẩn bị, thực hiện và giám
Nhiều sai sót liên quan đến kê đơn không được dự đoán hay không được báo
cáo nhưng bằng chứng cho thấy để lại một số vấn đề đáng kể [31]. Trong một
nghiên cứu tại Boston – Mỹ, Bates và cộng sự đã nhận thấy có 0,3 lỗi kê đơn mỗi
bệnh nhân một ngày trong bệnh viện. Trong những sai sót này, 53% sai sót bỏ quên
ít nhất một liều thuốc, 15% là những sai sót về liều khác, 5% sai sót liên quan đến
đường dùng thuốc [11]. Hơn nữa vào năm 2004, khi nghiên cứu về mối liên quan
giữa sai sót về kê đơn thuốc và những biến cố bất lợi trên lâm sàng, Bobb và cộng
sự đã xác định có 62,4 sai sót trong kê đơn mỗi 1000 bệnh án, trong đó có 30,8% có
ảnh hưởng đáng kể trên lâm sàng. Hầu hết các sai sót xảy ra thường liên quan đến
kê đơn các thuốc chống nhiễm trùng, kê sai liều [14].
Theo ước tính, có 1 – 2% bệnh nhân nội trú tại Hoa Kỳ bị ảnh hưởng do các
sai sót về thuốc, phần lớn trong số đó là sai sót trong quá trình kê đơn [17]. Trong
một nghiên cứu được tiến hành tại Anh năm 1999, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo
sát sai sót trong kê đơn trên các bệnh nhân nội trú, không can thiệp trên bác sĩ vì có
thể làm ảnh hưởng đến hành vi của họ. Kết quả là trong 36200 đơn được thu thập,
có 1,5% sai sót về kê đơn, trong đó có 0,4% sai sót có nguy cơ nghiêm trọng. Hầu
hết các sai sót liên quan đến việc lựa chọn liều. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra
có 135 sai sót về kê đơn được phát hiện trong 1 tuần, và trong đó có 34 trường hợp
nghiêm trọng. Hiểu biết về những sai sót thường xảy ra ở đâu và khi nào sẽ giúp ích
trong việc tìm ra những biện pháp để giảm thiểu sai sót [17].
9
Sai sót trong quá trình thực hiện thuốc
Sai sót trong quá trình thực hiện thuốc là thực hiện không đầy đủ hoặc không
đúng các bước chuẩn bị thuốc như sai dung môi hòa tan, pha loãng, sai liều lượng,
khả năng gây ra tương kỵ thuốc, thiếu thuốc [13]. Các sai sót này diễn ra thường
xuyên và có nguy cơ gây hại nghiêm trọng và có thể tử vong cho bệnh nhân hơn các
loại sai sót khác [35]. Sai thuốc được định nghĩa là chuẩn bị thuốc không đúng với
khoa Hồi sức cấp cứu (ICU) vì phần lớn các thuốc được sử dụng theo đường tiêm
truyền, do đó cần nồng độ thuốc ổn định trong máu. Sự tương hợp không chắc chắn
là sự tương hợp không được biết đến hoặc mơ hồ chiếm đến 45% cặp thuốc truyền
đồng thời ở khoa ICU [13].
Trong quá trình thực hiện các thuốc đường tiêm truyền, việc hoàn nguyên
cũng như pha loãng thuốc là một thao tác quan trọng. Nhóm nghiên cứu tại một
bệnh viện ở Madrid năm 2012 đã ghi nhận được sai sót trong việc hoàn nguyên/pha
loãng các thuốc đường tiêm truyền là một trong những sai sót hay gặp phải, trong
8,6% các lượt thực hiện, thuốc tiêm truyền không được hoàn nguyên/pha loãng theo
như khuyến cáo thông tin sản phẩm của nhà sản xuất. Một số kháng sinh hay gặp
sai sót này như vancomycin, piperacilin – tazobactam và imipenem [32].
1.2.2. Các biện pháp can thiệp của dược sĩ lâm sàng
Tác động của giáo dục trong quá trình chuẩn bị và thực hiện thuốc để giảm
thiểu sai sót vẫn còn hiếm ở những nước có thu nhập thấp. Nhiều loại hình được cân
nhắc để giảm thiểu sai sót trong sử dụng thuốc bao gồm sự tham gia của dược sĩ
lâm sàng trong thực hành lâm sàng, chuẩn hóa cách sử dụng thuốc, đào tạo, giới
thiệu sai sót trên báo cáo hệ thống. Giáo dục là bước thực hành đầu tiên để cải thiện
an toàn khi sử dụng thuốc cho bệnh nhân. Ngoài ra, có thể dùng những biện pháp
như kê đơn điện tử, mã hóa cách thực hiện thuốc, và sử dụng những dạng chế phẩm
dùng sẵn. Để giảm thiểu tương kỵ thuốc trong thực hành lâm sàng, cần thay đổi quy
trình hay có chương trình đào tạo điều dưỡng hoặc ban hành các hướng dẫn thực
hành chuẩn [29].
Trong quá trình thực hiện thuốc đường tiêm truyền, điều dưỡng là người thực
hiện chính các thao tác cũng như tiêm truyền thuốc cho bệnh nhân. Kiến thức lâm
sàng của điều dưỡng cũng đóng một vai trò quan trọng, sự thiếu hiểu biết hay hiểu
không chính xác đã được chứng tỏ là một trong những nguyên nhân có thể gây đến
11
1.3.2. Injectable drug guide
Cuốn sách “Injectable drug guide” [20] được viết bởi bốn tác giả: Gray
Alistair, Jane Wright, Vincent Goodey và Lynn Bruce, được xuất bản lần đầu tiên
vào năm 2011. Đây là một cuốn cẩm nang hỗ trợ quá trình đánh giá nguy cơ cũng
như cách tiếp cận toàn diện và những khuyến cáo khi sử dụng các thuốc đường tiêm
truyền, để đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc đường tiêm truyền trên lâm sàng.
Cuốn sách này bao gồm nhiều chuyên luận thuốc tiêm truyền độc lập. Mỗi
chuyên luận về thuốc sẽ được trình bày theo thứ tự như sau: tên và các dạng bào chế
của thuốc; thông tin cơ bản về thuốc bao gồm: loại thuốc, chỉ định (cả chỉ định được
cấp phép và chỉ định không được cấp phép và đường dùng); liều lượng bao gồm
thông tin cụ thể liên quan đến chỉ định, thay đổi liều khi bệnh nhân có vấn đề gan,
thận; đường dùng có thể có của thuốc, cụ thể hóa quy trình chuẩn bị và thực hiện
thuốc đối với mỗi đường dùng. Với những thuốc dùng đường truyền tĩnh mạch, hầu
hết các chuyên luận cụ thể lượng dịch truyền cần sử dụng. Tuy nhiên, với một vài
chuyên luận sử dụng cụm từ “pha loãng thể tích thích hợp dung môi tương hợp”,
trong trường hợp này, bác sĩ nên lựa chọn lượng dung môi thích hợp với nhu cầu
của bệnh nhân và chỉ định lâm sàng; bảng thông số kỹ thuật bao gồm: tương kỵ,
tương hợp, pH, nồng độ natri, độ thẩm thấu, điều kiện bảo quản, độ ổn định, …
1.3.3. Dược thư Quốc gia Việt Nam
Dược thư Quốc gia Việt Nam [3] xuất bản lần đầu tiên vào năm 2001, tái bản
lần thứ hai năm 2015, bao gồm nhiều chuyên luận thuốc độc lập. Với mỗi một
chuyên luận thuốc, có thể tiến hành tra cứu nhiều thông tin về thuốc như tên thuốc,
nhóm tác dụng dược lý của thuốc; các dạng thuốc, nồng độ, hàm lượng; tác dụng
dược lý, cơ chế, chỉ định và chống chỉ định; liều lượng và cách sử dụng thuốc với
mỗi đường dùng; độ ổn định và bảo quản thuốc; một số lưu ý khi sử dụng thuốc.
1.3.4. Phần mềm Micromedex
Đây là một phần mềm tra cứu online, có thể dễ dàng tra cứu thông tin về các
sản phẩm bằng cách tìm kiếm tên thuốc hoặc tên biệt dược. Tra cứu đường dùng
thực hành các thuốc tiêm truyền. Trong một nghiên cứu tại một bệnh viện ở Đức
năm 2004 về tỷ lệ cũng như mức độ nghiêm trọng của các sai sót trong sử dụng
thuốc đường tiêm truyền, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sai sót tới 48% (95%
khoảng tin cậy 39 – 57%), trong đó có 3% trường hợp có nguy cơ sai sót mức độ
14
nghiêm trọng, 31% mức độ trung bình và 13% mức độ nhẹ. Chủ yếu sai sót tập
trung vào bước chuẩn bị và sử dụng đồng thời các thuốc có khả năng gây tương kỵ
trong truyền tĩnh mạch ngắt quãng [33].
Một nghiên cứu tiến cứu tiến hành theo dõi các điều dưỡng có kinh nghiệm
và được đào tạo tại 10 khoa ở 2 bệnh viện tại Anh năm 2003, trong 483 lượt quan
sát chuẩn bị thuốc và 447 lượt thực hiện thuốc, ghi nhận có 265 sai sót trong thực
hiện thuốc tiêm truyền. Lỗi phổ biến nhất là thực hiện thuốc đường tiêm tĩnh mạch
nhanh hơn so với tốc độ khuyến cáo là 3 – 5 phút [34]. Bên cạnh đó, một nghiên
cứu khác tại Tehran – Iran năm 2008 nghiên cứu tập trung các sai sót trong quá
trình chuẩn bị và thực hiện thuốc đường tiêm truyền chỉ ra rằng amikacin là thuốc
gặp phải tỷ lệ sai sót về thời gian tiêm truyền nhiều nhất trong các thuốc được lựa
chọn [18]. Tốc độ tiêm truyền là lỗi khá phổ biến ở các bệnh viện trên toàn thế giới.
Nhóm nghiên cứu tại Đại học Ain Shams, Ai Cập, năm 2016 đã tiến hành nghiên
cứu quan sát trên các lượt thực hiện thuốc của điều dưỡng và chỉ ra trên 85% lượt
quan sát có ít nhất 1 sai sót, và sai sót về tốc độ tiêm truyền chiếm tỷ lệ cao nhất đến
37,68% [10].
1.4.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu về sử dụng các thuốc tiêm truyền chủ yếu tiến hành tại một
số bệnh viện riêng lẻ, số lượng các nghiên cứu được công bố trên các tạp chí còn ít.
Nghiên cứu của chúng tôi có những điểm tương đồng với 2 nghiên cứu đã được
thực hiện trước đó về các thuốc dùng đường tiêm truyền tĩnh mạch.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân An thực hiện năm 2013 về sử dụng
hầu như các thuốc được tiêm truyền với thời gian nhanh hơn so với khuyến cáo.
Trong 51 lượt tiêm tĩnh mạch do điều dưỡng thực hiện, chỉ có 9 lượt tiêm với thời
gian trên 1 phút, 42 lượt tiêm nhanh dưới 1 phút. Tỉ lệ sai lệch trong thực hiện tốc
độ truyền là 84,9% tổng số lượt với đa số các trường hợp có tốc độ truyền nhanh
hơn so với chỉ định. Tuy nhiên, trên thực tế, điều này không để lại hậu quả nghiêm
trọng cho bệnh nhân [6].
16