BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG
Mã sinh viên: 1201463
KHẢO SÁT TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA
BỆNH NHÂN VIÊM GAN B MẠN TÍNH
ĐƢỢC QUẢN LÝ TẠI PHÒNG KHÁM
NGOẠI TRÚ BỆNH VIỆN
BẮC THĂNG LONG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI- 2017
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG
Mã sinh viên: 1201463
KHẢO SÁT TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA
BỆNH NHÂN VIÊM GAN B MẠN TÍNH
ĐƢỢC QUẢN LÝ TẠI PHÒNG KHÁM
NGOẠI TRÚ BỆNH VIỆN
BẮC THĂNG LONG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Người hướng dẫn:
Lời cuối, em muốn cảm ơn tới gia đình và các bạn đã luôn bên cạnh giúp đỡ
em, động viên và trở thành chỗ dựa tinh thần để em hoàn thành khóa luận tốt nhất.
Hà Nội ngày 18 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHỤ LỤC.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN .....................................................................................2
1.1. TỔNG QUAN VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ .......................................................2
1.1.1. Định nghĩa tuân thủ điều trị ......................................................................2
1.1.2. Tình hình tuân thủ điều trị trên thế giới theo báo cáo của WHO ..............2
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ..............................................3
1.1.4. Phân loại các phương pháp đo lường tuân thủ điều trị .............................5
1.1.5. Một số bộ câu hỏi và thang đo lường tuân thủ điều trị .............................9
1.2. TỔNG QUAN VÀI NÉT VỀ BỆNH VIÊM GAN B VÀ MỘT SỐ NGHIÊN
CỨU TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B TRÊN THẾ GIỚI ............................12
1.2.1. Một vài nét về bệnh viêm gan B .............................................................12
1.2.2. Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị HBV ..........................................13
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................16
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU ........................................................................16
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn ................................................................................16
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ ..................................................................................16
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................16
3.3.2. Phân tích hồi quy logistic đa biến ...........................................................33
CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN .......................................................................................34
4.1. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu ....................................34
4.2. Bộ câu hỏi CEAT – VBH trong nghiên cứu. ..................................................36
4.3. Các yếu tố ảnh hƣởng tới tuân thủ điều trị của bệnh nhân. ..........................39
4.4. Hạn chế của nghiên cứu. ................................................................................40
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT. ............................................................41
KẾT LUẬN. ...........................................................................................................41
ĐỀ XUẤT...............................................................................................................42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................1
PHỤ LỤC I. PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN BỆNH NHÂN...........................5
PHỤ LỤC II. DANH SÁCH BỆNH NHÂN THAM GIA PHỎNG VẤN ..........10
PHỤ LỤC III. BỘ CÂU HỎI MMAS-8 ................................................................12
PHỤ LỤC IV. BỘ 5 CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ TUÂN THỦ TRONG NGHIÊN
CỨU CỦA SOGNI. .................................................................................................13
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AASLD
American Association for the Study of Liver Diseases - Hiệp
hội nghiên cứu bệnh gan Hoa Kỳ
ADV
Adefovir
APASL
The Asian Pacific Association for the Study of the Liver -Hiệp
virus ở những người bị nhiễm HIV và AIDS
HBV HBV
Hepatitis B Virus - Virus viêm gan B.
DNA
Deoxy Nucleoic Acid
HCC
Hepatocellular Carcinoma - Ung thư biểu mô tế bào gan.
HCV
Hepatitis C virus – virus viêm gan C
HIV
Human Immunodeficiency virus: Virus gây suy giảm miễn dịch ở
người
LAM
Lamivudin
NUC
Nucleos(t)ide analogues – Thuốc kháng virus
Hình 2.2. Phương pháp thu thập số liệu .................................................................... 21
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan B mạn tính là bệnh viêm gan gây ra bởi tình trạng nhiễm virus viêm
gan B dai dẳng và cũng là nguyên nhân chính dẫn tới xơ gan, ung thư biểu mô tế
bào gan (HCC) – lấy đi mạng sống của 600.000 người mỗi năm [14], [18]. Mặc dù
đã có những vacxin an toàn và hiệu quả trong suốt hơn 30 năm qua, nhiễm HBV
vẫn là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng của toàn cầu [11], [23], [27]. Thực tế, Việt
Nam là một trong những nước có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất với tỷ lệ dân số mang
bệnh là 12 – 20% [3]. Do virus viêm gan B (HBV) không thể được loại bỏ hoàn
toàn ra khỏi cơ thể nên việc điều trị bằng liệu pháp kháng virus trong thời gian dài
vẫn là chiến lược tốt nhất, sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân giữ vai trò quan trọng
quyết định tới hiệu quả điều trị [8], [18]. Nhưng khi điều trị lâu dài, sự đột biến
kháng thuốc của virus lại là một vấn đề đáng lo ngại và hiệp hội nghiên cứu bệnh
gan Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng: 30% các trường hợp kháng thuốc được theo dõi trên lâm
sàng có liên quan đến việc bệnh nhân dùng thuốc không đúng [1].
Bệnh viện Bắc Thăng Long là một bệnh viện tuyến huyện đã triển khai phòng
khám quản lý và điều trị bệnh viêm gan B mạn tính từ năm 2012. Khoa truyền
nhiễm đã tiếp nhận những bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị HBV từ bệnh viện
Nhiệt đới Trung Ương và điều trị một số bệnh nhân mới phát hiện. Tuy nhiên, vấn
đề tuân thủ điều trị của các bệnh nhân ở đây với thuốc kháng virus được cấp phát
vẫn đang là mối quan tâm lớn của các bác sĩ điều trị. Vì vậy, nhóm nghiên cứu tiến
hành đề tài: “Khảo sát tuân thủ điều trị của bệnh nhân viêm gan B mạn tính đƣợc
quản lý tại phòng khám ngoại trú bệnh viện Bắc Thăng Long” với các mục tiêu:
1. Khảo sát sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân dựa vào bộ câu hỏi CEATVBH.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị của bệnh nhân.
Từ đó, chúng tôi hướng tới đề xuất các biện pháp làm tăng tuân thủ điều trị thuốc
kháng virus của người bệnh.
khuyến cáo điều trị [24].
2
Ví dụ, với bệnh tăng huyết áp, nếu bệnh nhân tuân thủ >80% thì khả năng phát
triển thành bệnh động mạch vành, bệnh máu não và suy tim sung huyết là rất thấp
[17]. Tuy nhiên theo khảo sát, ở Mỹ có 51% bệnh nhân điều trị tăng huyết áp tuân
thủ chế độ dùng thuốc hạ áp, con số này ở Trung Quốc, Gambia và Seychelles
tương ứng là 43%, 27% và 26%. Ở Úc, chỉ có 43% bệnh nhân hen phế quản dùng
thuốc theo chỉ định, và 28% bệnh nhân sử dụng các thuốc dự phòng. Trong điều trị
HIV-AIDS, tình hình tuân thủ các thuốc kháng virus của bệnh nhân rất khác nhau,
dao động từ 37% đến 83% tùy thuộc vào loại thuốc người bệnh đang sử dụng và đặc
điểm nhân khẩu học của các nhóm bệnh nhân [24].
Theo một số báo cáo, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thường cao hơn ở
những bệnh nhân có tình trạng cấp tính, so với những người có tình trạng mạn tính
[19]. Tình trạng bệnh nhân không tuân thủ làm kéo dài thời gian điều trị, gây ra tâm
lý lo lắng ở người bệnh [15], [24] tăng kinh phí, tăng nguy cơ bệnh tiến triển và
nhập viện [21].
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị
Một vấn đề quan trọng trước khi nghiên cứu các biện pháp can thiệp để cải
thiện tuân thủ là tìm hiểu rõ tất cả các yếu tố tác động tới khả năng tuân thủ điều trị
của bệnh nhân [7], [19]. Theo cách phân loại của WHO, có 5 nhóm yếu tố chính:
yếu tố liên quan tới bệnh nhân, yếu tố liên quan tới phác đồ điều trị, yếu tố liên quan
tới tính chất của bệnh, yếu tố kinh tế - xã hội và cuối cùng là yếu tố liên quan tới hệ
thống dịch vụ tế [24].
1.1.3.1. Nhóm yếu tố liên quan đến bệnh nhân
Nhóm các yếu tố liên quan đến bệnh nhân gồm có điều kiện kinh tế, kiến thức
hiểu biết về bệnh, niềm tin vào hiệu quả của thuốc và những mong đợi của bệnh
nhân sau một thời gian điều trị. Một số bệnh nhân không chấp nhận sự thật là mình
1.1.3.3. Các yếu tố liên quan đến bệnh
Các tính chất của bệnh ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị của bệnh nhân gồm có:
mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bệnh; mức độ ảnh hưởng tới thể chất, tâm
lý, công việc của người bệnh; tỷ lệ bệnh tiến triển và sự sẵn có của những phương
pháp điều trị hiệu quả. Chúng tác động đến nhận thức về các nguy cơ có thể xảy đến
4
với người bệnh, giúp họ hiểu được tầm quan trọng của việc điều trị. Các bệnh mắc
kèm và các ưu tiên khác của bệnh nhân cũng cần được đánh giá [24].
1.1.3.4. Các yếu tố kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế xã hội kém, đặc biệt là các khu vực vùng sâu vùng xa: tình
trạng nghèo đói, mù chữ, trình độ học vấn thấp, thất nghiệp, sự thiếu mạng lưới hỗ
trợ xã hội hiệu quả, điều kiện sống không ổn định, xa trung tâm điều trị, chi phí vận
chuyển cao, chi phí thuốc, quan niệm tín ngưỡng về bệnh tật và điều trị, gia đình
không hạnh phúc… là các yếu tố được ghi nhận có ảnh hưởng tới khả năng tuân thủ
điều trị bệnh. Ở các nước đang phát triển, điều kiện kinh tế còn hạn hẹp khiến bệnh
nhân phải ưu tiên nguồn lực vào vấn đề khác không phải sức khỏe [24].
1.1.3.5. Các yếu tố liên quan đến hệ thống dịch vụ y tế
Một vài nghiên cứu được tiến hành về ảnh hưởng của hệ thống dịch vụ y tế
đến khả năng tuân thủ điều trị cho thấy mối quan hệ tốt giữa bệnh nhân – cán bộ y
tế góp phần quan trọng cải thiện sự tuân thủ. Bên cạnh đó, còn rất nhiều yếu tố gây
ảnh hưởng tiêu cực tới tuân thủ điều trị như: tình trạng quá tải của các bệnh viện
lớn; dịch vụ y tế kém phát triển với việc bảo hiểm chỉ chi trả một phần hoặc không
chi trả kinh phí điều trị; người bệnh không có bảo hiểm y tế; hệ thống phân phối
thuốc kém; các cán bộ y tế thiếu kiến thức trong việc quản lý bệnh mạn tính; công
tác tư vấn không được tiến hành đầy đủ, kế hoạch giáo dục bệnh nhân ít được triển
khai; cơ sở y tế không có khả năng thiết lập hệ thống dịch vụ hỗ trợ bệnh nhân cũng
như đón nhận các phản hồi, góp ý từ người dân để cải thiện các dịch vụ chăm sóc
đưa ra đều tương đối dễ sử dụng, nhưng lưu ý khi đặt câu hỏi cho bệnh nhân kết quả
có thể sai lệch theo xu hướng tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị cao hơn thực tế [19].
1.1.4.1. Phƣơng pháp đo lƣờng trực tiếp
Phương pháp trực tiếp là phương pháp đo lường chính xác nhất và có thể được
sử dụng như là một bằng chứng từ cơ thể để chứng minh rằng bệnh nhân đã dùng
thuốc hay chưa. Chẳng hạn, nồng độ trong huyết thanh của thuốc chống động kinh
phenytoin hoặc axit valproic có thể phản ánh sự tuân thủ với các thuốc này [19].
Những test kiểm tra có thể lấy một cách ngẫu nhiên tại bất kì thời điểm nào nhưng
nó có hạn chế là bệnh nhân cần phải ở gần khu vực nghiên cứu. Đồng thời, việc lấy
mẫu xét nghiệm ngẫu nhiên gây ra áp lực và tâm lý lo lắng cho người bệnh [28].
Giả định là có sự hợp tác của người bệnh thì các tương tác thuốc – thuốc, tương tác
6
thuốc – thức ăn không lường trước có thể cản trở tới tính chính xác của xét nghiệm
[27]. Kết quả nghiên cứu cũng gặp sai số nếu bệnh nhân chỉ dùng thuốc trước khi
làm xét nghiệm. Quan trọng hơn, tính khả thi của phương pháp còn phụ thuộc vào
nguồn kinh phí, số lượng kĩ thuật viên, nhân viên theo dõi và lấy mẫu xét nghiệm
[19], [29].
1.1.4.2. Phƣơng pháp đo lƣờng gián tiếp
Có rất nhiều phương pháp gián tiếp được sử dụng để đo lường tuân thủ điều trị
của bệnh nhân như là thông qua hệ thống lưu trữ dữ liệu cơ sở, đếm liều thuốc, các
bản báo cáo lâm sàng của bác sĩ hoặc các bản tự báo cáo của bệnh nhân.
(a) Hệ thống lƣu trữ dữ liệu cơ sở
Các dữ liệu cơ sở bao gồm các số liệu được lưu trữ trong các phần mềm hệ
thống kê đơn điện tử hoặc phần mềm hệ thống dịch vụ bảo hiểm dược. Nguồn dữ
liệu như vậy cho phép người nghiên cứu tiếp cận được số lượng các thuốc được kê,
số lần lĩnh thuốc tương ứng với mỗi bệnh nhân. Nhưng để có được số liệu chính xác
và đầy đủ, thì trước hết nguồn dữ liệu phải được lưu trữ trong một hệ thống máy
bệnh nhân trong việc dùng thuốc để có thể tiến hành can thiệp một cách thích hợp.
Độ nhạy và độ đặc hiệu của biện pháp này sẽ giảm xuống nếu có sự sai sót
trong việc cung cấp thông tin của bệnh nhân, hoặc các kỹ năng giao tiếp của người
phỏng vấn, hoặc câu hỏi được thiết kế cho khảo sát bị lỗi. Tình trạng tâm lý của
bệnh nhân cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả.
Cụ thể:
Bệnh nhân ghi nhật ký
Nhật ký là công cụ tự báo cáo duy nhất của bệnh nhân. Tuy nhiên, người làm
nghiên cứu sẽ không thể tiến hành đo lường tuân thủ nếu bệnh nhân không trả lại
nhật ký hoặc bệnh nhân báo cáo “sai” về việc dùng thuốc của họ.
Phỏng vấn bệnh nhân
Trong phỏng vấn, bệnh nhân có thể tự đánh giá lại hành vi dùng thuốc của
chính mình, cụ thể là tỷ lệ phần trăm liều mà họ bỏ lỡ trong một khoảng thời gian
nhất định, tính cả số lần mà họ không thực hiện thuốc đúng giờ. Các câu hỏi được
thiết kế để kiểm tra kiến thức của bệnh nhân về chế độ thuốc của họ bao gồm: chỉ
8
định của bác sĩ, tên thuốc, liều thuốc và thời gian dùng thuốc. Các khảo sát viên căn
cứ vào phản ứng của bệnh nhân để đo lường mức độ tuân thủ.
Bên cạnh mục tiêu chính là đo lường mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh,
phương pháp này còn có thể tiến hành can thiệp trực tiếp nếu gặp trường hợp bệnh
nhân không tuân thủ, đồng thời phỏng vấn sẽ tạo ra động lực trong thực hành lâm
sàng. Miller và Rollnick đã định nghĩa phỏng vấn bệnh nhân như một cách tiếp cận
trực tiếp, lấy bệnh nhân làm trung tâm để củng cố niềm tin của bệnh nhân vào hiệu
quả điều trị, tiếp tục theo đuổi phác đồ, khuyến khích bệnh nhân thay đổi hành vi để
hướng tới mục tiêu lâm sàng [32]. Trong một phân tích meta, Rubak đã chỉ ra khả
năng xác định các nguyên nhân dẫn tới tuân thủ kém trong quá trình phỏng vấn,
người khảo sát có thể động viên, đưa ra các lời khuyên cho bệnh nhân và có thể
nhân HBV được điều trị bằng thuốc kháng virus. Nghiên cứu chỉ ra rằng MMAS-8
là một công cụ thích hợp dùng trong việc đánh giá tuân thủ điều trị HBV với kết
quả: mức độ tuân thủ điều trị liệu pháp kháng virus ở bệnh nhân HIV là thấp hơn có
ý nghĩa so với bệnh nhân HBV mạn tính điều trị bằng thuốc kháng virus [30]. Có
thể khẳng định MMAS - 8 là một trong những bộ câu hỏi đo lường tuân thủ điều trị
bệnh mạn tính được công nhận và sử dụng phổ biến nhất, nó được khuyến cáo nên
áp dụng rộng rãi tại các cơ sở y tế.
1.1.5.2. Bộ câu hỏi đo lƣờng tuân thủ điều trị của bệnh nhân HIV: CEAT – VIH
Bộ câu hỏi này được tác giả phát triển trong giai đoạn 1999-2001 và được áp
dụng lần đầu tiên năm 2002 để đo lường mức độ tuân thủ điều trị HIV. Công cụ
được đánh giá là ngắn (20 câu) và dễ trả lời, có hướng dẫn cụ thể cho người dùng và
hiện đang có sẵn bằng các ngôn ngữ khác nhau (tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha (ở
Brazil và Bồ Đào Nha), tiếng Rumani và tiếng Tây Ban Nha (ở Tây Ban Nha và Mỹ
Latinh )) [20]. Bộ câu hỏi được chia làm hai phần chính:
Phần 1: tuân thủ điều trị của bệnh nhân dựa trên sự tuân thủ trong tuần trước;
sự tuân thủ chung kể từ khi bắt đầu điều trị; tuân thủ lịch trình thời gian; mức độ
cam kết của bệnh nhân và tên của thuốc được kê [21].
Phần 2: các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị, bao gồm: tiền sử không
tuân thủ (cảm thấy tồi tệ hơn sau khi uống thuốc, số lần buồn rầu hoặc trầm cảm của
người bệnh trước khi bỏ liều); quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân; niềm tin của bệnh
nhân về thuốc đang dùng (những cố gắng, nỗ lực của bệnh nhân trong điều trị,
10
những khó khăn trong việc dùng thuốc và cả những mong đợi vào kết quả điều trị);
mức độ của các phản ứng phụ; lượng thông tin và kiến thức về thuốc kháng virus
của bệnh nhân; mức độ hài lòng với điều trị; nhận thức về lợi ích với sức khoẻ kể từ
khi bắt đầu điều trị và sử dụng các chiến lược để nhớ phải uống thuốc [21].
Trong điều trị HIV, tải lượng virus được coi là tiêu chuẩn vàng để đánh giá
Morisky – 8 trên đối tượng bệnh nhân nhiễm HBV [5].
Có thể nói việc đo lường tuân thủ điều trị đưa ra các thông tin hữu ích mà khi
chỉ theo dõi kết quả điều trị không thể cung cấp, nhưng nó vẫn chỉ là một ước tính
về hành vi thực tế của bệnh nhân. Một số chiến lược đo lường tuân thủ rất tốn kém,
hoặc phụ thuộc vào công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu mà nhiều nước không đáp
ứng đủ. Để lựa chọn phương pháp đo lường hành vi tuân thủ phù hợp nhất cần phải
xem xét tất cả các điều kiện, các chiến lược sử dụng phải đáp ứng các tiêu chuẩn về
tâm lý, tính đáng tin cậy và hiệu lực đo lường, giải quyết được các mục tiêu của nhà
nghiên cứu, các yêu cầu liên quan tới chế độ dùng thuốc. Cuối cùng, không có sự đo
lường nào được coi là tối ưu. Một phương thức kết hợp khả năng tự báo cáo và các
biện pháp khách quan hợp lý được thường được áp dụng để đo lường hành vi tuân
thủ [24].
1.2. TỔNG QUAN VÀI NÉT VỀ BỆNH VIÊM GAN B VÀ MỘT SỐ NGHIÊN
CỨU TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1. Một vài nét về bệnh viêm gan B
Khoảng 1/3 dân số thế giới có bằng chứng huyết thanh học về nhiễm HBV
trong quá khứ hoặc hiện tại và 350-400 triệu người có các kháng thể HBV mạn tính
(HBsAg). Trên toàn thế giới ước tính có ít nhất 2 tỷ người (một phần ba dân số thế
giới) đã bị nhiễm HBV; khoảng 240 triệu người (tương đương với 6% dân số thế
giới) nhiễm HBV mạn tính [23], [27]. Sự phát triển tự nhiên của nhiễm HBV mạn
tính là từ trạng thái không hoạt động đến viêm gan B mạn tính tiến triển (CHB), có
thể tiến triển thành xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) [16]. Bệnh gan
giai đoạn cuối có liên quan đến HBV gây ra hơn 0,5-1 triệu ca tử vong mỗi năm và
hiện chiếm 5-10% số ca ghép gan. Các nghiên cứu theo chiều dọc của những bệnh
nhân không được điều trị CHB cho thấy rằng: sau khi chẩn đoán, tỷ lệ mắc bệnh xơ
gan tăng từ 5% lên khoảng 8 - 20%. Tỷ lệ HCC trên toàn thế giới đã tăng, chủ yếu
là do nhiễm HBV và/hoặc HCV. Tỷ lệ HCC có liên quan đến HBV rất cao, dao
12
13
cứu hồi cứu được ông tiến hành trên 11.100 bệnh nhân (69% bệnh nhân trên 45
tuổi) dùng các loại thuốc NUCs (ADV, LAM, ETV, TDF) thực hiện năm 2010;
nguồn dữ liệu thông qua các công ty dược phẩm. Theo số liệu thu thập được có 55%
bệnh nhân được đánh giá là tuân thủ điều trị và một số yếu tố có liên quan tới không
tuân thủ được ghi nhận gồm có: tuổi của bệnh nhân (
15
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
-
Bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mạn tính đang điều trị tại phòng khám
ngoại trú bệnh viện Bắc Thăng Long đến khám trong khoảng thời gian từ
8/1/2017 đến 28/2/2017.
-
Thời gian điều trị ít nhất là 3 tháng tính tới thời điểm phỏng vấn.
-
Lớn hơn 18 tuổi.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
-
Bệnh nhân không tới khám và lĩnh thuốc theo đúng hẹn, bệnh nhân từ chối
phỏng vấn hoặc bệnh nhân trả lời miễn cưỡng.
-
Bệnh nhân suy gan hay ghép gan từ trước.
Cơ sở dữ liệu có 153 bệnh án
45 bệnh nhân không đi khám
4 bệnh nhân chưa có chỉ định
điều trị.
22 bệnh nhân không phỏng
vấn được
3 bệnh nhân từ chối
1 bệnh nhân viêm gan virus
C
1 bệnh nhân nhỏ tuổi
Tiến hành phỏng vấn 80 bệnh
nhân
72 bệnh nhân thỏa mãn tiêu
chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn
loại trừ
Hình 2.1. Kết quả thu thập thông tin từ nhóm bệnh nhân
2.2.2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang.
2.2.3. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
17