Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở việt nam - Pdf 44

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ HNG HNH

PHáP LUậT Về CạNH TRANH KHÔNG LàNH MạNH
TRONG VIệC Sử DụNG NHãN HIệU ở VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ HNG HNH

PHáP LUậT Về CạNH TRANH KHÔNG LàNH MạNH
TRONG VIệC Sử DụNG NHãN HIệU ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN TRNG IP

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN


1.1.1. Khái quát về nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh không lành mạnh ........ 5
1.1.2. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ...... 9
1.1.3. Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử
dụng nhãn hiệu với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối
với nhãn hiệu ...................................................................................... 12
1.2.

Pháp luật điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh trong việc
sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam........................................................ 14

1.2.1. Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử
dụng nhãn hiệu ở Việt Nam ............................................................... 14
1.2.2. Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
việc sử dụng nhãn hiệu ....................................................................... 22
1.2.3. Mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ
trong việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc
sử dụng nhãn hiệu ................................................................................ 35


1.2.4. Ý nghĩa của sự điều chỉnh bằng pháp luật các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ................................ 37
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 40
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG NHÃN HIỆU Ở VIỆT
NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN ............................................... 41
2.1.

Thực trạng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong
việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam ................................................ 41



3.2.2. Nâng cao mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ....................... 70
3.2.3. Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh không lành mạnh .............................................................. 70
3.2.4. Bổ sung quy định mới xác định hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu .................................................... 71
3.2.5. Ban hành các quy định pháp luật về xử lý hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu điều chỉnh từng
lĩnh vực cạnh tranh ............................................................................. 71
3.3.

Đề xuất nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cạnh tranh
không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam ...... 72

3.3.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật ..... 72
3.3.2. Củng cố, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp trong hoạt động
kinh doanh .......................................................................................... 77
3.3.3. Nâng cao nhận thức và tính chủ động của ngƣời tiêu dùng trên
thị trƣờng ............................................................................................ 78
3.3.4. Tăng cƣờng mở rộng hợp tác quốc tế về xử lý hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ................................ 79
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 80
KẾT LUẬN .................................................................................................... 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 83


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


mạnh và bảo vệ nó trƣớc các hành vi làm giả, làm nhái, hành vi xâm phạm quyền,
hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể khác là yêu cầu bức bách đối
với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp.
CTKLM trong sở hữu trí tuệ nói chung và trong việc sử dụng nhãn hiệu nói
riêng hiện đang là vấn đề nóng của toàn xã hội với mật độ ngày càng phổ biến,
theo chiều hƣớng trầm trọng hơn và cách thức ngày càng tinh vi hơn. Từ các đô
thị lớn – nơi có mật độ dân sinh cao và sức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ lớn, cho
đến khắp các tỉnh thành, những vùng nông thôn – nơi mà trình độ dân trí của
ngƣời tiêu dùng còn thấp, khả năng phân biệt nhãn hiệu và các chỉ dẫn thƣơng mại
khác còn kém thì những sản phẩm, dịch vụ nhái lại các nhãn hiệu uy tín vẫn xuất
hiện trên thị trƣờng, len lỏi vào các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ, và dễ dàng đƣợc tiêu
thụ bởi khả năng gây nhầm lẫn cho đại bộ phận ngƣời tiêu dùng. Những tổn thất
mà hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu gây ra cho các chủ thể quyền –
những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chân chính, và cho đông đảo ngƣời tiêu
dùng là rất nghiêm trọng.

1


Tại Việt Nam hiện nay, trƣớc đòi hỏi bức thiết của việc điều chỉnh bằng pháp
luật các hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và trong việc sử
dụng nhãn hiệu nói riêng, cũng nhƣ đòi hỏi về sự tƣơng thích với pháp luật quốc tế
trƣớc công cuộc hội nhập kinh tế toàn cầu, các quy định pháp luật về hành vi
CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nằm chủ yếu trong Luật Cạnh tranh 2004 và
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (đƣợc sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 và đƣợc hợp nhất trong văn bản hợp nhất số
19/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 do Văn phòng Quốc hội ban hành, sau đây gọi
là Luật sở hữu trí tuệ 2013) đã ra đời. Sau một thời gian thực hiện, bên cạnh những
hiệu quả đã đạt đƣợc thì khung pháp lý về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu
cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, đòi hỏi sự cập nhật, thay đổi để phù hợp hơn với môi

- Ba là, qua quá trình nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến
CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam, luận văn đƣa ra một số đề
xuất nhằm góp phần nâng cao tính hiệu quả của các quy định pháp luật trong
thực tiễn thực hiện.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Pháp luật về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở
Việt Nam và việc thực thi trên thực tế.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu về hành vi CTKLM trong
việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam theo các quy định của pháp luật cạnh tranh và
pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, nhiều phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử
dụng nhƣ: Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích kết hợp phƣơng pháp logic; phƣơng
pháp so sánh; phƣơng pháp thu thập thông tin nhằm đƣa ra các bình luận, đánh giá
thích hợp.
6. Tổng quan tài liệu
Một số công trình khoa học nghiên cứu đi trƣớc:
 Luận văn thạc sĩ “Xử lý một số vi phạm quyền sở hữu trí tuệ dưới góc độ
Luật cạnh tranh” của Nguyễn Thị Thanh Mai, năm 2005, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội;
 Luật văn thạc sĩ “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh

3


vực sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của Vũ Quỳnh Lâm, năm 2005, Trƣờng Đại học
Luật Hà Nội;
 Luận văn thạc sĩ “Cạnh tranh không lành mạnh: Thực trạng và những đề
xuất xử lý vi phạm ở Việt Nam” của Vũ Thu Giang, năm 2010, Trƣờng Đại học
Ngoại thƣơng Hà Nội;

CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG
NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử
dụng nhãn hiệu
1.1.1. Khái quát về nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Nhãn hiệu là yếu tố đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong nền kinh tế thị trƣờng, ở
một nhãn hiệu có sự gắn liền giữa lĩnh vực thƣơng mại và lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Mặc dù có nhiều thuật ngữ đƣợc đƣợc sử dụng rộng rãi không chỉ trong kinh tế,
thƣơng mại mà cả trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng và đời sống thƣờng nhật
nhƣ “nhãn hiệu”, “thƣơng hiệu”, “biểu tƣợng” hay “logo”, tuy nhiên chỉ có nhãn
hiệu là khái niệm đƣợc nhắc đến trong pháp luật sở hữu trí tuệ. Theo pháp luật sở
hữu trí tuệ Việt Nam, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ
của các tổ chức, cá nhân khác nhau” [13, Điều 4, Khoản 16].
Về khái niệm cạnh tranh, theo Từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh là “cố gắng
giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động
nhằm những lợi ích như nhau” [32, tr. 129]. Với khái niệm này, cạnh tranh đƣợc
xem xét ở góc độ chung nhất của đời sống xã hội.
Theo C. Mác: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà
tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng
hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [5, tr. 556].
Theo Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh đƣợc định
nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm
tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba” [13, tr.12].
Dƣới góc độ sản xuất, kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trƣờng, có
thể hiểu khái niệm cạnh tranh nhƣ sau: “Cạnh tranh được coi là hành vi của các

5


chủ thể trong khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị

6


Theo pháp luật của Cộng đồng châu Âu: Với nỗ lực để thống nhất các quy
định về CTKLM giữa các quốc gia thành viên trong khuôn khổ chƣơng trình hài
hoà hoá pháp luật chung (Legal Harmonisation), Cộng đồng châu Âu đã phát
triển các quy định chung áp dụng cho Cộng đồng theo nhiều hình thức, cấp độ.
Đặc biệt, Chỉ thị số 2005/29/EC hƣớng dẫn các hành vi thƣơng mại không lành
mạnh đã thay thế cho một loạt các luật lệ thông thƣờng đang tồn tại ở các quốc
gia thành viên [27]. Từ khi Chỉ thị số 2005/29/EC ra đời, các hành vi thƣơng mại
trên khắp Châu Âu đƣợc đánh giá theo một tiêu chuẩn chung. Điều 5 của Chỉ thị
quy định một hành vi thƣơng mại bị coi là không lành mạnh nếu:
- Đi ngƣợc lại với các yêu cầu về sự cần mẫn nghề nghiệp; hoặc
- Bóp méo một cách nghiêm trọng hoặc có khả năng bóp méo nghiêm trọng
ứng xử kinh tế trong mối liên hệ với sản phẩm của ngƣời tiêu dùng trung bình (hay
ngƣời tiêu dùng phổ thông) [27].
“Ngƣời tiêu dùng trung bình” – theo định nghĩa của Toà án công lý liên minh
châu Âu, “là người có đầy đủ thông tin ở mức vừa phải, tinh ý ở mức vừa phải và thận
trọng ở mức độ vừa phải, khi tính đến các yếu tố xã hội, văn hóa và ngôn ngữ” [17].
Theo quy định của Chỉ thị số 2005/29/EC thì trong thực tiễn để xác định một
hành vi thƣơng mại là không lành mạnh đều dựa trên tác động của hành vi đó hoặc
tác động có khả năng xảy ra của hành vi đó đối với ngƣời tiêu dùng trung bình hay
còn gọi là ngƣời tiêu dùng phổ thông. Với sự ra đời của Chỉ thị số 2005/29/EC, các
hành vi thƣơng mại trên khắp Châu Âu đã đƣợc đánh giá theo một tiêu chuẩn chung
nhất, mật thiết hơn, thay thế cho một loạt các luật lệ thông thƣờng về hành vi
thƣơng mại không lành mạnh đang tồn tại phân tán ở các quốc gia thành viên EU và
góp phần xoá bỏ các rào cản vốn tồn tại trên thị trƣờng chung những năm trƣớc đó.
Theo pháp luật Việt Nam: Luật cạnh tranh 2004 đƣa ra định nghĩa về CTKLM tại
Khoản 4 Điều 3 nhƣ sau:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của

dụ, gièm pha đối thủ cạnh tranh); hoặc hành vi tạo ra ƣu thế cạnh tranh giả tạo (ví
dụ, quảng cáo gian dối).
- Xét theo lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, hành vi CTKLM có thể gồm nhiều
loại: CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng, CTKLM trong lĩnh vực bảo hiểm, CTKLM
trong lĩnh vực viễn thông, CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, v.v…

8


- Xét theo đối tượng bị xâm hại, hành vi CTKLM bao gồm: hành vi xâm hại
tới lợi ích của đối thủ cạnh tranh, hành vi xâm hại tới lợi ích của ngƣời tiêu dùng,
hành vi can thiệp vào môi trƣờng cạnh tranh nói chung.
1.1.2. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu
Việc sử dụng quyền chống CTKLM trong các vụ việc có liên quan đến lĩnh
vực sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng đã đƣợc biết đến từ lâu trên thế
giới. Công ƣớc Paris đƣợc coi là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên quy định về hành
vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, trong đó có việc sử dụng nhãn hiệu.
Theo Công ƣớc Paris, các nƣớc thành viên của Liên minh có trách nhiệm bảo đảm
cho công dân của các nƣớc thành viên đó sự bảo hộ có hiệu quả chống lại hành vi
CTKLM. Công ƣớc Paris đã trải qua rất nhiều lần sửa đổi, điều chỉnh nhằm ngày
một hoàn thiện hơn. Các hành vi CTKLM liên quan đến sở hữu công nghiệp đƣợc
quy định tại Điều 10bis của Công ƣớc. Trong đó, việc thực hiện những hành vi “có
khả năng gây nhầm lẫn dƣới bất cứ hình thức nào đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt
động sản xuất, kinh doanh của ngƣời cạnh tranh” và hành vi sử dụng những chỉ dẫn
“gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích
hợp để sử dụng hoặc số lƣợng của hàng hoá” đƣợc xem là liên quan trực tiếp đến
việc sử dụng nhãn hiệu.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề xác định khả năng gây nhầm lẫn của
việc sử dụng nhãn hiệu đƣợc xác định và tổng kết thông qua khảo sát thị trƣờng.
Việc xác định hành vi sử dụng nhãn hiệu có khả năng gây nhầm lẫn hay không

1.1.2.2. Tính chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử
dụng nhãn hiệu là tính đối lập, trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh
Tính chất của hành vi không lành mạnh là trái với với các chuẩn mực thông
thƣờng về đạo đức kinh doanh. Mặc dù chƣa có một định nghĩa chính thức nào về
“đạo đức kinh doanh” song có thể hiểu đó là là những quy tắc xử sự chung giữa các
chủ thể kinh doanh đã đƣợc chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh
doanh trên thị trƣờng.
Thực tiễn pháp lý hiện nay xác định “các chuẩn mực thông thƣờng về đạo
đức kinh doanh” dựa trên hai căn cứ:
- Các quy định của pháp luật: Pháp luật quy định một số dạng hành vi nhất

10


định là hành vi CTKLM, ví dụ nhƣ: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh
doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh nghiệp khác; v.v… Theo đó,
hành vi CTKLM có thể là hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm các quy
định của pháp luật, bao gồm không chỉ các quy định của pháp luật cạnh tranh mà
còn của các văn bản pháp luật khác nhƣ pháp luật thƣơng mại, pháp luật về giá,
pháp luật về sở hữu trí tuệ, v.v…
- Các tập quán kinh doanh thông thường đã được thừa nhận rộng rãi: Căn
cứ này là biện pháp dự phòng để áp dụng cho những trƣờng hợp mà pháp luật chƣa
quy định về một hành vi cụ thể là hành vi CTKLM, nhƣng hành vi này khi đƣợc
thực hiện sẽ có tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
kinh doanh khác và trái với tập quán kinh doanh. Căn cứ này đã mở rộng khả năng
điều chỉnh và khắc phục đƣợc tình trạng thiếu bao quát của pháp luật cạnh tranh.
1.1.2.3. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu gây
thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho nhiều đối tượng khác nhau trên thị trường
Hành vi CTKLM gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho nhiều

không phải là dễ dàng, nhƣng đây là điều hết sức quan trọng, nhằm tránh dẫn đến
trƣờng hợp một hành vi vi phạm có thể bị xử lý hai lần bởi các quy định pháp luật
về CTKLM và về xâm phạm nhãn hiệu, hoặc tránh việc không xác định chính xác
bản chất hành vi, dẫn đến việc không kết luận và xử lý đƣợc hành vi vi phạm.
Nhƣ đã phân tích ở phần trên, bản chất của hành vi CTKLM là hành vi trái
với các chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể
gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác, cho ngƣời tiêu dùng và cả Nhà nƣớc. Theo
pháp luật hiện hành, hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu chịu sự điều
chỉnh của cả pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.
Trong khi đó, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là một dạng hành vi
xâm phạm quyền sở hữu. Quyền sở hữu đối với một tài sản dù là tài sản hữu hình
hay vô hình đều đem lại cho chủ sở hữu những quyền năng nhất định. Khi một chủ
thể đƣợc cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tức là quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối
với nhãn hiệu thuộc sở hữu của mình đƣợc bảo vệ bởi pháp luật trƣớc những hành
vi mà pháp luật quy định là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu và CTKLM trong
việc sử dụng nhãn hiệu đều là các hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt

12


hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu, tuy vậy sự khác nhau giữa hai loại hành vi này xuất
phát từ chính bản chất pháp lý của mỗi loại hành vi, cho dù về bề ngoài thì hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và CTKLM có thể có rất nhiều điểm giống nhau. Đó
chính là sự khác nhau về căn cứ áp dụng, yếu tố chủ thể và yếu tố lỗi [15].
- Thứ nhất, căn cứ áp dụng: Việc xác định một hành vi là xâm phạm quyền
đối với nhãn hiệu chỉ đặt ra khi quyền đối với một nhãn hiệu đang đƣợc bảo hộ bị
xâm phạm. Một nhãn hiệu không đƣợc đăng ký bảo hộ thì không thể căn cứ vào
pháp luật sở hữu trí tuệ để bảo vệ khi bị xâm phạm. Tuy nhiên, trƣờng hợp này lại
hoàn toàn có thể áp dụng pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh, theo đó hành vi sử

1.2. Pháp luật điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử
dụng nhãn hiệu ở Việt Nam
1.2.1. Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng
nhãn hiệu ở Việt Nam
1.2.1.1. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
“Chỉ dẫn gây nhầm lẫn” là một trong 10 hành vi CTKLM đƣợc quy định tại
Điều 39 Luật cạnh tranh 2004. Luật sở hữu trí tuệ 2013 cũng quy định hành vi sử
dụng “chỉ dẫn thƣơng mại gây nhầm lẫn” là một trong các hành vi CTKLM, cụ thể
theo Khoản 1 Điều 130 về hành vi CTKLM thì các hành vi sử dụng chỉ dẫn thƣơng
mại gây nhầm lẫn sau đây bị coi là hành vi CTKLM:
- Thứ nhất, sử dụng chỉ dẫn thƣơng mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh,
hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thƣơng mại của hàng hoá, dịch vụ;
- Thứ hai, sử dụng chỉ dẫn thƣơng mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản
xuất, tính năng, chất lƣợng, số lƣợng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ;
về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ [23, Điều 130].
Một hành vi sử dụng chỉ dẫn thƣơng mại đã “gây nhầm lẫn” có thể đƣợc xác
định dƣới nhiều góc độ: Nhầm lẫn rằng hai sản phẩm do cùng từ một nhà sản xuất,
cung cấp; hoặc nhầm lẫn rằng hai sản phẩm đến từ hai nhà sản xuất, cung cấp có
quan hệ, liên kết với nhau; hoặc nhầm lẫn rằng hai sản phẩm có công dụng, tính
năng, chất lƣợng nhƣ nhau.
Theo Luật sở hữu trí tuệ 2013, nhãn hiệu đƣợc xác định là một trong các chỉ
dẫn thƣơng mại, việc một chủ thể sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn về chủ thể kinh
doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thƣơng mại của hàng hoá, dịch vụ hoặc
gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lƣợng, số lƣợng hoặc các
đặc điểm khác của hàng hoá, hoặc về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ sẽ đƣợc
coi là thực hiện hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu.

14



15


kinh doanh, nguồn gốc thƣơng mại của hàng hoá, dịch vụ hoặc về xuất xứ, cách sản
xuất, tính năng, chất lƣợng, số lƣợng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ, về
điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ sẽ bị coi là thực hiện hành vi CTKLM trong
việc sử dụng nhãn hiệu theo Luật sở hữu trí tuệ 2013.
- Thứ ba, về mục đích của hành vi: Luật cạnh tranh 2004 quy định mục
đích của hành vi phải là “nhằm mục đích cạnh tranh”. Tức là, việc thực hiện hành
vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn phải là nhằm gây nên sự nhầm lẫn của khách
hàng giữa hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng hoá,
dịch vụ của doanh nghiệp mình. Nhƣ vậy, hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn
gây nhầm lẫn phải cùng trong một thị trƣờng với hàng hoá, dịch vụ của đối thủ
cạnh tranh hoặc cùng trên thị trƣờng liên quan. Mặc dù theo Luật sở hữu trí tuệ
2013, mục đích của hành vi không đƣợc quy định, tuy nhiên để xác định một hành
vi là CTKLM thì việc xác định và chứng minh mục đích cạnh tranh của chủ thể
thực hiện hành vi là điều tất yếu.
Do có sự khác biệt trong cách quy định về chủ thể thực hiện hành vi, đối
tƣợng hay mục đích của hành vi, trên thực tế sẽ dẫn đến một số trƣờng hợp hành vi
cạnh tranh thoả mãn các dấu hiệu của hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” nhƣng lại
đƣợc thực hiện bởi chủ thể không thuộc đối tƣợng áp dụng của Luật cạnh tranh
2004, do đó, sẽ không đƣợc hiểu là hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” theo quy định
tại Điều 130 Luật cạnh tranh 2004. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, hành vi đó sẽ
không đƣợc xử lý theo quy định của Luật cạnh tranh 2004 mà phải áp dụng Luật sở
hữu trí tuệ 2013.
1.2.1.2. Hành vi của người đại diện hay đại lý sử dụng nhãn hiệu được bảo
hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện
hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là
thành viên
Việt Nam đã tham gia nhiều Điều ƣớc quốc tế quan trọng trong lĩnh vực sở

tại một nƣớc là thành viên của điều ƣớc quốc tế có quy định cấm ngƣời đại diện
hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu ngƣời sử dụng là ngƣời đại diện hoặc đại lý
của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không đƣợc sự đồng ý của chủ sở hữu
nhãn hiệu và không có lý do chính đáng, là một trong các hành vi CTKLM.

17


Nhƣ vậy, mặc dù Công ƣớc Paris không chỉ rõ đây là hành vi CTKLM, thì
pháp Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã nhìn nhận hành vi này dƣới góc độ cứng
rắn hơn khi việc sử dụng này đƣợc xem là một hành vi CTKLM.
Để xác định một chủ thể sử dụng nhãn hiệu có bị coi là đã thực hiện hành vi
CTKLM thuộc trƣờng hợp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 130 Luật sở hữu trí
tuệ 2013 hay không, cần xem xét các yếu tố sau:
- Thứ nhất, về chủ thể thực hiện hành vi: Là “ngƣời đại diện” hoặc “đại
lý” của chủ sở hữu nhãn hiệu. Ngƣời đại diện là ngƣời nhân danh và vì lợi ích
của chủ sở hữu nhãn hiệu xác lập và thực hiện các giao dịch trong phạm vi đƣợc
đại diện. Quan hệ đại diện đƣợc xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.
Trong khi ngƣời đại diện theo pháp luật đƣợc xác định trên cơ sở các quy định
tại các Điều 136 và Điều 137 Bộ luật dân sự 2015 thì đại diện theo ủy quyền thì
đƣợc xác định trên cơ sở văn bản ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong đó đã
giới hạn phạm vi đƣợc ủy quyền.
“Đại lý” theo quy định tại Luật thƣơng mại là từ chỉ một hoạt động thƣơng
mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh
chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên
giao đại lý cho khách hàng để hƣởng thù lao [24, Điều 166]. Trong trƣờng hợp đang
xét tại Điểm c Khoản 1 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ 2013, “đại lý” đƣợc hiểu là bên
đại lý, còn chủ sở hữu nhãn hiệu là bên giao đại lý. Đại lý là chủ thể đƣợc chủ sở
hữu nhãn hiệu giao hàng hoá để bán, hoặc giao tiền để mua hàng hoá, hoặc uỷ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status