Họ và tên: Lê Thị Huệ, PTP Giáo dục huyện Đông Sơn
I. MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài:
Môi trường giáo dục (MTGD) trong trường mầm non (MN) là tổ hợp
những điều kiện tự nhiên và xã hội cần thiết, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động
chăm sóc, giáo dục (CSGD) trẻ ở trường mầm non và hiệu quả của những hoạt
động này nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ CSGD trẻ.
Có thể nói, việc xây dựng MTGD trong trường MN là thực sự cần thiết và
quan trọng. Nó được ví như người giáo viên thứ hai trong công tác tổ chức,
hướng dẫn cho trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ, thông
qua đó, nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện.
Một môi trường sạch sẽ, an toàn, có sự bố trí khu vực chơi và học trong
lớp và ngoài trời phù hợp, thuận tiện có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát
triển thể chất của trẻ, mà còn thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của
trẻ, kích thích trẻ hoạt động tích cực, sáng tạo.
Môi trường giao tiếp cởi mở, thân thiện giữa cô với trẻ, giữa trẻ với trẻ và
giữa trẻ với môi trường xung quanh sẽ tạo cơ hội cho trẻ được chia sẻ, giãi bày
tâm sự, nguyện vọng, mong ước của trẻ với vô, với bạn bè, nhờ vậy mà cô hiểu
trẻ hơn, trẻ hiểu nhau hơn, hoạt động phối hợp nhịp nhàng hơn nên hiệu quả
hoạt động cũng cao hơn, trẻ yêu trường, yêu lớp, yêu cô giáo và bạn bè hơn.
Đối với nhà giáo dục, việc xây dựng MTGD phù hợp sẽ là phương tiện, là
điều kiện để họ phát triển phù hợp với từng trẻ và từng lứa tuổi.
Đối với phụ huynh và xã hội, quá trình xây dựng MTGD sẽ thu hút được
sự tham gia của các phụ huynh, sự đóng góp của cộng đồng xã hội để thỏa mãn
mong đợi của họ đối với sự phát triển của trẻ trong từng giai đoan, trong từng
thời kì.
Những năm gần đây, MTGD ở các trường mầm non đã được các cấp quản
lý giáo dục từ trung ương đến địa phương chú trọng chỉ đạo thực hiện, là nhiệm
vụ quan trọng trong việc chỉ đạo thực hiện chương trình CSGD trẻ MN, được
đưa vào nhiều chương trình bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho CBGV
- Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập.
4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để
xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm này có các phương pháp
cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
4.3. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý số liệu, thông tin thu được thông qua việc sử dụng các công
cụ toán học như: cộng, trừ, nhân, chia, trung bình cộng, tỷ lệ phần trăm…
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
1.1. Môi trường giáo dục:
Môi trường nói chung được hiểu là tổng thể các yếu tố tự nhiên và xã hội
tác động tương hỗ với nhau tạo nên một khung cảnh sống với những điều kiện
để con người tồn tại và phát triển
Từ khái niệm đó, chúng ta có thể hiểu: MTGD trong trường MN là tổ hợp
những điều kiện tự nhiên và xã hội cần thiết và trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt
động CSGD trẻ ở trường MN và hiệu quả của những hạt động này nhằm góp
phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ CSGD trẻ.
Có nhiều cách phân loại MTGD:
Có quan điểm cho rằng, MTGD mầm non bao gồm môi trường tự nhiên
(như các điều kiện không khí, ánh sáng, nguồn nước, câu xanh, địa điểm trường)
và môi trường xã hội (bao gồm: bầu không khí giao tiếp trong trường MN,
2
Trong giáo dục trẻ, chúng ta vẫn thường nhắc đến những phương châm
như: “lấy trẻ làm trung tâm”, “tất cả vì học sinh thân yêu”, “hãy dành tất cả
những gì tốt nhất cho trẻ”. Vì vậy, chúng ta dành cho trẻ rất nhiều thứ như đồ
chơi, sách vở, máy vi tính...Chúng ta cũng đòi hỏi trẻ phải học thật nhiều. Thậm
chí, có nhiều bà mẹ còn tìm kiếm những loại thuốc bổ, món ăn giàu chất dinh
dưỡng để giúp trẻ thông minh, học giỏi. Liệu rằng, sự quan tâm như vậy có giúp
trẻ mau chóng chiếm lĩnh được đỉnh cao tri thức của nhân loại không? Có thể
nói rằng, trong tất cả sự quan tâm chúng ta dành cho trẻ, trẻ cần nhất đó là môi
trường sống, vui chơi và học tập an toàn, tự do và giàu tình thương để trẻ có thể
phát huy được tối đa những năng lực và sở trường của mình.
Với trẻ lứa tuổi MG (3-6 tuổi), hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi vì
vậy cần sử dụng linh hoạt “học bằng chơi, chơi mà học” giúp trẻ tích cực, chủ
động lĩnh hội tri thức, kỹ năng sơ đẳng ban đầu, làm tiền đề cho các cấp học tiếp
theo. Để trẻ được học qua chơi với đa dạng các trò chơi cần phải có môi trường
3
chơi, MTGD phong phú (sân vườn, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị, sự hướng dẫn của
người lớn, bạn chơi…)
Để xây dựng được MTGD tốt, bản thân trẻ chưa thể tự làm được, trách
nhiệm đó thuộc về người lớn, của cả xã hội chúng ta.
2. Thực trạng việc xây dựng môi trường giáo dục ở các trường MN
huyện Đông Sơn:
Đông Sơn là một huyện đồng bằng, thuần nông, trước đây có 21 xã, thị
trấn, sau khi chuyển 5 xã, thị trấn về TP Thanh Hóa, sáp nhập xã Đông Xuân với
TT Rừng Thông, chỉ còn 15 xã, thị trấn với 21.047 hộ dân, dân số 75.696 người,
diện tích tự nhiên 8,2406 km2.
2.1. Thuận lợi:
- Nhà nước có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nâng cao chất lượng GD
và đội ngũ nhà giáo. Nghị định 49/2010/NĐ-CP; Quyết định số 60/2011/QĐTTg của Chính phủ… đã tạo đà phát triển cho GDMN;
4
- Hầu hết các trường thiếu NV kế toán, văn thư, y tế ... chủ yếu do GV
kiêm nhiệm, GV còn thiếu, đời sống còn khó khăn, phải kiêm nhiệm nhiều việc
nên khó chú tâm thực hiện tốt nhiệm vụ chính.
- Chất lượng thực, năng lực thực tiễn trong lãnh đạo quản lý và CSGD trẻ, ý thức
trách nhiệm nghề nghiệp của một bộ phận CBQL, GV, NV còn nhiều bất cập. Nhận thức
của một bộ phận cán bộ, giáo viên và phụ huynh... về xây dựng MTGD chưa đầy đủ,
các nguồn lực đầu tư vẫn còn hạn chế.
- MTGD ở các trường MN đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện song chưa đồng
đều ở tất cả các trường và một số trường còn nặng tính hình thức mà chưa mang lại hiệu
quả thiết thực trong giáo dục. Đặc biệt là khai thác sử dụng MTGD chưa linh hoạt, sáng
tạo, chưa thực sự phát huy được tính tích cực tham gia hoạt động của trẻ.
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng:
Kết quả khảo sát thực trạng vào thời điểm tháng 08/2015 ở 16 trường
MN, 30 lớp MG; 46 CBGV, NV (16QL, 30 GV) như sau:
* MTGD ngoài trời: Khảo sát 16 trường MN
TT
Số trường Tỉ lệ
Nội dung đánh giá
đạt YC
1
Trường có đủ diện tích sân chơi và các khu vực chơi theo
8
quy định
1.1 Có sân chơi cứng với ít nhất 5-6 loại đồ chơi ngoài trời
15
1
2
30
15
100
50.0
25
83.3
21
70.0
15
50.0
YC
3
4
5
Lớp có đủ các góc theo quy định (4 –6 góc)
Lớp có các góc đặt ở vị trí phù hợp với tính chất hoạt
83.3
cầu
8
Số lớp được đánh giá chung đạt YC
18
60.0
* Đối với trẻ: Khảo sát 100 trẻ MG qua việc trò chuyện, quan sát khi trẻ
tham gia các hoạt động
Số trẻ đạt
TT
Nội dung đánh giá
Tỉ lệ
YC
1
2
3
4
5
6
Hào hứng, thích thú tham gia chơi
Hiểu biết về nội dung chơi, cách chơi, cốt chuyện khi
chơi; Có kỹ năng sử dụng được đồ dùng, đồ chơi theo
chức năng.
Tự biết tổ chức các trò chơi và chơi theo nhóm, có kỹ
năng giao tiếp với bạn chơi, thể hiện sự tôn trọng, hợp
tác, chia sẻ …
Biết cùng nhau bàn bạc về chủ đề chơi chung và phối
hợp với nhau để tổ chức trò chơi một cách có tổ chức,
Số GV đạt Tỉ lệ
YC
1
2
3
Số giáo viên có trình độ chuẩn trở lên
30
100
Giáo viên nắm vững nguyên tắc XD MTGD cho trẻ MN
30
100
Giáo viên coi trọng XD MTGD theo hướng phát huy tính
17
56,7
tích cực của trẻ
4
Giáo viên có ý thức trong việc tự làm đồ dùng đồ chơi và
15
50
thường xuyên thay đổi cách trang trí, sắp xếp góc chơi để
tạo hứng thú cho trẻ.
5
Giáo viên có phương pháp hướng dẫn trẻ tham gia các
15
50
hoạt động linh hoạt, phù hợp, kích thích được tính tích
cực hoạt động và sự say mê, sáng tạo của trẻ trong khi
* Về nhận thức và phương pháp của giáo viên:
100% giáo viên có trình độ chuẩn trở lên, nắm vững các nguyên tắc cơ
bản về XD MTGD.
Tuy nhiên giáo viên chưa có nhiều đổi mới trong hình thức, nội dung,
phương pháp tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực của trẻ. Sự sáng tạo
trong việc trang trí sắp xếp và làm đồ dùng đồ chơi cho các góc của giáo viên
chưa cao, chưa thực sự linh hoạt, sáng tạo trong việc hướng dẫn trẻ chơi ở các
góc có lẽ vì vậy mà góc chơi chưa hấp dẫn trẻ, kỹ năng chơi của trẻ chưa phong
phú.
3. Một số biện pháp chỉ đạo xây dựng MTGD phát huy tính tích cực
hoạt động của trẻ ở các trường MN huyện Đông Sơn
Để chỉ đạo, thực hiện tốt việc xây dựng MTGD phát huy tính tích cực của
trẻ ở các trường MN huyện Đông Sơn, trong quản lý, chỉ đạo cần phải sử dụng
kết hợp rất nhiều biện pháp khác nhau, trong khuôn khổ của đề tài SKKN, tôi
chỉ đưa ra 05 nhóm biện pháp nhận thấy đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình
quản lý, chỉ đạo để trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp:
Biện pháp 1. Bồi dưỡng, tập huấn để CBGV nắm chắc nguyên tắc
chung của việc thiết kế xây dựng MTGD trẻ MN, từ đó chủ động trong việc
XD và khai thác hiệu quả MTGD phát huy tính tích cực tham gia hoạt động
của trẻ.
Tổ chức MTGD trong trường, lớp MN có vai trò quan trọng đối với sự
phát triển về thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, tình cảm- kỹ năng xã hội, khả năng thẩm
mỹ, sáng tạo của trẻ. Vì vậy, cần bồi dưỡng, tập huấn bằng nhiều hỉnh thức như:
thông qua các lớp tập trung tại huyện, thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn
theo tuần, tháng ở trường, thông qua dự giờ thăm lớp…..để CBGV hiểu và tuân
thủ các nguyên tắc khi thiết kế MTGD trong trường, lớp MN, đó là:
- Cần bố trí các khu vực chơi, hoạt động trong lớp và ngoài trời phù hợp,
thuận tiện cho việc sử dụng của cô và trẻ
7
nhau của trẻ;
+ Tận dụng các nguồn nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương để trẻ khám
phá, đặc biệt là nguồn nguyên liệu tự nhiên và phế liệu;
+ Phản ánh màu sắc văn hóa dân tộc bởi những đồ dùng, trang phục, các
phong tục tập quán...Cung cấp cho trẻ những hiểu biết về nền văn hóa địa
phương và của các dân tộc khác nhau;
+ Tạo môi trường có không gian phù hợp với cuộc sống thực hàng ngày
của trẻ;
+ Đảm bảo kết hợp các hoạt động tập thể, theo nhóm nhỏ và các nhân; các
hoạt động trong lớp và ngoài trời;
+ Tôn trọng nhu cầu, sở thích hoạt động và tính đến khả năng của mỗi trẻ;
- Trường MN phải là môi trường thuận lợi để hình thành các kỹ năng xã
hội cho trẻ:
+ Đảm bảo môi trường giao tiếp thân thiện, hòa đồng, ấm cúng, cởi mở
giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với môi trường xung quanh;
8
+ Quan hệ giữa cô và trẻ, người lớn, với trẻ phải thể hiện tình cảm yêu
thương, thái độ tôn trọng, tin tưởng trẻ, tạo cơ hội cho trẻ bộc lộ những suy nghĩ,
tâm tư nguyện vọng của mình. Tạo điều kiện cho trẻ giao tiếp và thể hiện sự
quan tâm của mình đối với mọi người, đối với sự vật hiện tượng gần gũi xung
quanh;
+ Mọi cử chỉ, lời nói, việc làm của cô giáo và người lớn phải luôn mẫu
mực để trẻ noi theo;
+ Mối quan hệ giữa trẻ với trẻ là quan hệ bạn bè cùng học cùng chơi, đoàn
kết, hợp tác, chia sẻ, đồng cảm, học hỏi lẫn nhau. Giáo viên cần nhạy cảm để tận
dụng các mối quan hệ giữa trẻ với trẻ để giáo dục trẻ;
+ Có sự thống nhất giữa trường MN, gia đình và cộng đồng xã hội trong
việc CSGD trẻ.
tô ghép từ vỏ hộp sữa, lon bia, bếp, khay đựng thực phẩm từ vỏ hộp bánh…
9
Ngoài ra còn mua dao, thớt , cốc, bát đĩa đảm bảo vệ sinh và các đồ dùng
khác phục vụ cho hoạt động thực hành của trẻ.
Các loại đồ dùng, đồ chơi trên đều được lưu ý đảm bảo vệ sinh và an toàn
cho trẻ trong khi chơi.
Sắp xếp các góc, trang trí góc chơi theo dạng động:
Cắt dán các hình ảnh trang trí phù hợp đặc điểm, tính chất từng góc chơi,
tạo cho góc chơi thêm hấp hẫn và nổi bật thu hút sự chú ý của trẻ.
VD: Góc nội trợ (nằm trong góc phân vai), góc nghệ thuật có thể bố trí
gần nguồn nước, rộng rãi thoáng mát, thụân tiện cho trẻ khi chơi nhưng không
làm ảnh hưởng tới các góc chơi khác.
Phương châm của chúng tôi là trang trí ít tốn kém nhưng phải mang lại
hiệu quả sử dụng cao, làm một lần- dùng được nhiều lần và có thể thay đổi với
nhiều mục đích sử dụng.
VD: Trang trí 1 đoàn tàu, 1dây hoa, 1 đĩa quả, hay một bảng cài trên
tường, đều có số thứ tự và các điểm để gắn hoặc giắt hình ảnh bổ sung (có thể
trang trí theo dãy hoặc không theo dãy nhưng có gắn số thứ tự). Ngoài giờ chơi
nó là hình ảnh trang trí nhưng khi chơi lại sử dụng nó như 1 đồ chơi có tính linh
hoạt cao: nếu 1 trẻ giắt lô tô hình ảnh cái cốc và 1 quả cam lên đầu tầu thì trẻ kia
phải biết được nhiệm vụ tiếp theo là phải giắt các thao tác pha nước cam vào các
toa tàu theo đúng thứ tự. Hoặc cũng là sử dụng đoàn tàu nhưng nếu giắt biểu
tượng của nhóm thực phẩm giàu chất đạm lên vị trí số 1 thì trẻ phải tìm tất cả
các thực phẩm cùng nhóm để giắt tiếp, trẻ phải gọi đúng tên thực phẩm và đếm
số thực phẩm đã tìm được v.v.. Làm như vậy sẽ tích hợp được nhiều nội dung
giáo dục như LQMTXQ, LQ Toán, LQ Văn học….
Tóm lại: Với nguồn kinh phí có hạn của các lớp MG khu vực nông thôn,
chúng tôi đã biết khai thác thế mạnh riêng của mình đó là: nguồn đồ chơi từ
phương, có thể huy động Hội cha mẹ trẻ hoặc Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên…
lấy từ các bờ ruộng, bãi cồn….mang về trồng;
Các loại tượng trong vườn cổ tích nên đắp bằng xi măng cốt thép, vừa rẻ,
chắc chắn, vừa đa dạng về kiểu dáng, kích thước, màu sắc….không rập khuôn
như các loại tượng mua sẵn. Ở nông thôn, kêu gọi tài trợ cả công trình này là rất
khó,vì vậy cần chia nhỏ các hạng mục trong công trình đề kêu gọi tài trợ như:
kêu gọi mỗi thôn, mỗi đoàn thể/cá nhân, doanh nghiệp ở địa phương tặng cho
nhà trường kinh phí đủ làm một/một số loại tượng trong công trình và gắn tên
đơn vị/ cá nhân tài trợ; Hoặc các hộ gia đình có thể tặng chum, vại cũ không cần
dùng nữa để tạo nên các tháp nước hoặc làm bình trồng hoa giấy, cây cảnh rất
đẹp….
Khi thống kê được số lượng hiện vật, kinh phí, danh mục đăng ký tài trợ,
cho tặng thì nhà trường sẽ làm việc với đơn vị nhận làm vườn để chỉ ra những
mục cụ thể sẽ hợp đồng, cách thức thanh toán….Thống nhất được mới chính
thức ký hợp đồng.
Làm như vậy sẽ giảm rất nhiều kinh phí đầu tư mà chất lượng công trình
vẫn đảm bảo, đơn vị đảm nhiệm làm vườn cổ tích chủ yếu lấy công thợ, còn đa
số nguyên vật liệu đã được cho tặng, ủng hộ…Hầu hết vườn cổ tích của các
trường MN ở Đông Sơn có giá rẻ chỉ bằng 1/2 hoặc 1/3 so với các đơn vị khoán
toàn bộ cho đơn vị nhận thầu.
+ Tạo cảnh quan, cây xanh bóng mát trong trường MN cũng là nhiệm vụ
quan trọng để công trình hoàn thiện khi được công nhận. Trước hết căn cứ vào
quy hoạch sân chơi đã được phê duyệt xem cần bao nhiêu cây, những loại cây
nào….. Với trường MN, cây xanh, cây cảnh…cũng là “sách giáo khoa” của trẻ,
cần tư vấn cho nhà trường trồng đa dạng các loại cây như cây ăn quả, cây bóng
mát, cây cảnh; trong mỗi loại lại có đa dạng các màu hoa, đa dạng các kiểu lá,
mùi hương….Những loại cây nên trồng như sấu, bằng lăng, hoa sữa, điệp vàng,
vú sữa, hoa giấy, hoa ngọc lan…. Khi danh mục cây được liệt kê đầy đủ theo sơ
đồ sẽ trồng thì tiến hành mua hoặc kêu gọi mỗi lãnh đạo địa phương, các cá
nhân hảo tâm… tặng cây xanh- cây cảnh theo thiết kế. Như vậy, việc mua/ cho
sưu tầm nhiều hình thức trang trí, sắp đặt để CBGV tham khảo, đảm bảo đổi mới
theo chủ đề, theo năm học và có màu sắc riêng của lớp, của trường, tránh rập
khuôn, đồng loạt, máy móc... Tổ chức kiểm tra chéo các cụm, giao bạn chéo các
cụm để tạo cơ hội cho CBGV học hỏi lẫn nhau. Vì vậy, ở Đông Sơn, CBGV biết
tự làm được mọi việc, ít phải thuê khoán, ít tốn kém.
Biện pháp 3. Chú trọng chỉ đạo khai thác sử dụng thật hiệu quả môi
trường đã có, trong quá trình khai thác sử dụng bổ sung thêm cho hoàn
thiện:
a. Chỉ đạo các trường thường xuyên bổ sung, hoàn thiện CSVC, thiết
bị, chống xuống cấp, khai thác sử dụng thật hiệu quả CSVC, thiết bị được
đầu tư để nâng cao chất lượng CSGD trẻ:
- Chỉ đạo khai thác, sử dụng, bảo quản hiệu quả CSVC, thiết bị đã được
đầu tư: Thường xuyên tập huấn, hướng dẫn cách sử dụng đúng cách, tránh hư
hỏng, sắp đặt đúng nơi quy định, đảm bảo nề nếp sinh hoạt , xóa bỏ những nếp
sinh hoạt cũ thiếu tính gọn gàng ngăn nắp. Để nhanh hình thành nếp, cần chú
trọng kiểm tra đột xuất nhiều lần, nhắc nhở, uốn nắn, hướng dẫn cách quản lý,
bảo quản, khai thác sử dụng hiệu quả, tạo thói quen tốt. Xử lý nghiêm những
CBGV vi phạm.
- Tiếp tục XD kế hoạch bổ sung, nâng cấp CSVC, thiết bị, khuôn viên,
cảnh quan môi trường, XD kế hoạch đầu tư chống xuống cấp: Hàng năm, chỉ
đạo các trường rà soát lại tất cả các hạng mục xem mục nào đã hoàn chỉnh, mục
nào cần bổ sung hoàn thiện ngay, mục nào đưa vào kế hoạch trong năm học
12
tới….Sau đó, từng bước tìm nguồn để bổ sung cho hoàn thiện. Mỗi năm phải
biết làm mới mình, phải đặt ra những chỉ tiêu hợp lý để phấn đấu. Khi hư hỏng
phải sửa ngay, không nên để dồn việc. Qua các kì kiểm tra, Phòng GD&ĐT có
thể tư vấn, định hướng cho các trường nên có kế hoạch đầu tư vào hạng mục nào
trong thời gian tới để các trường nhìn nhận khách quan hơn.
động, đặc biệt là các hoạt động vui chơi:
Có thể tổ chức cho trẻ chơi trò chơi ở nhiều góc chơi như:
Góc phân vai: Cửa hàng thực phẩm, Nhà hàng ăn uống, chơi gia đình,
Người đầu bếp tí hon …
Góc xây dựng: xây dựng trường MN, gia đình hoặc doanh trại bộ đội…
có bếp một chiều, có vườn rau theo ô dinh dưỡng, có mô hình VAC, có hệ thống
nước, nhà vệ sinh hợp lý, mô hình nhà ở nông thôn xanh -sạch -đẹp…
Góc học tập-sách: Nhà biên soạn sách tí hon, Thi chọn thực phẩm theo
yêu cầu, Người nội trợ thông thái…
13
Góc nghệ thuật: Cắm hoa, tỉa quả, , Bàn ăn của bé, vẽ, tô màu về các thực
phẩm theo nhóm chất dinh dưỡng, làm bưu thiếp về hoa, quả, con vật…
Góc thiên nhiên-cát -nước: Trồng cây, gieo hạt, in khuôn các loại con
giống theo các nhóm thực phẩm, tạo mô hình VAC trên cát
VD: Trò chơi “Nhà biên soạn sách tí hon”: Cô giáo cùng trẻ sưu tầm
nhiều loại sách báo có hình ảnh phong phú, giấy gam trắng hoặc tận dụng giấy
loại một mặt để đóng thành quyển.
Tuỳ theo ý tưởng cô và trẻ đưa ra như: làm sách về hướng dẫn chế biến 1
món ăn, giới thiệu các thực phẩm giàu chất béo có nguồn gốc từ thực vật, thức
ăn dành cho người gầy, thức ăn dành cho người béo, hướng dẫn và giới thiệu
một số kiểu cắm hoa, bày trang trí quả, trang trí bàn ăn hoặc một số kiểu sắp
xếp bếp ăn khoa học, đẹp mắt, hướng dẫn thứ tự 1 thao tác vệ sinh cá nhân, sách
giới thiệu những ngôi nhà có kiến trúc đẹp v.v…để trẻ tìm và cắt các hình ảnh ở
sách báo cho phù hợp và sau đó nhóm trẻ thảo luận tìm cách bố cục sách hay
nhất, dán tạo thành sách có trang trí bìa, cô giáo có thể giúp trẻ ghi tên sách, trẻ
có thể ghi số thứ tự các hình ảnh nếu cần theo ý định của trẻ. Sau đó trẻ trang trí
sách trên giá và cuối buổi chơi được trình bày, giới thiệu với các nhóm chơi
khác. Hoặc nhóm chơi gia đình, nhóm chơi Người nội trợ tí hon có thể đến mua
chơi với nhau, chia làm 2-3 đội chơi, cô hoặc một trẻ làm trọng tài điều khiển trò
chơi.
Có nhiều hộp đựng thực phẩm ở xung quanh, trọng tài đưa ra yêu cầu 3
đội chọn một loại thực phẩm nào đó, có thể nói tên thực phẩm, dùng câu đố hoặc
mô tả đặc điểm của thực phẩm đó, các đội có nhiệm vụ tìm các hộp để lấy thực
phẩm theo yêu cầu về đích đặt đúng vào rổ quy định đựng nhóm thực phẩm ấy
(ở đích có 4 rổ đựng 4 nhóm thực phẩm cho các đội), sau các lượt chơi đội nào
chọn đúng nhiều thực phẩm đội đó dành chiến thắng.
Hoặc có thể cho trẻ đi dích dắc qua các chướng ngại vật lên tìm thực
phẩm theo yêu cầu về đích bỏ vào rổ. Sử dụng 2-3 bảng cài gồm 2-4 dãy băng
để giắt lô tô, trẻ đi dích dắc lên xếp lô tô phân lọai theo 4 nhóm thực phẩm hoặc
gắn lô tô đúng thứ tự các thao tác làm 1 món ăn.v.v…( Bảng cài này không vẽ
hoặc dán cố định các hình ảnh mà sử dụng theo dạng động : có thể thay hình ảnh
theo mục đích sử dụng, như vậy với 2-4 bảng cài có thể sử dụng với nhiều trò
chơi, nhiều hoạt động của trẻ)
Những lần đầu cô hướng dẫn hoặc chơi cùng trẻ các lần sau cô để trẻ tự
chơi và khuyến khích trẻ sáng tạo sau các lần chơi, đưa ra những ý tưởng chơi
mới. Cô luôn tôn trọng ý tưởng chơi của trẻ và giúp trẻ thực hiện được ý tưởng
ấy trọn vẹn hơn, hay hơn.
Với cách tổ chức có kết hợp động- tĩnh như vậy đã gây được hứng thú cho
trẻ, nhiều trẻ thích chơi ở các góc, say mê sáng tạo ra nhiều trò chơi mới và qua
đó trẻ ngày càng có kiến thức sâu rộng và được rèn luyện kỹ năng thực hành tốt
hơn.
Cách làm trên cho thấy có thể gắn kết nhiều góc chơi với nhau, nhiều nội
dung chơi với nhau trong hoạt động góc, sự phân chia giữa các góc chơi, giữa
các nội dung chơi trong góc chỉ là tương đối đối với trẻ. Trẻ có thể độc lập sáng
tạo hoặc phối hợp với nhóm bạn khi hoạt động để tạo ra sản phẩm chơi có chất
lượng.
Biện pháp 4: Chỉ đạo các trường chú trong xây dựng môi trường giao
tiếp thân thiện, nhân văn trong nhà trường. Đặc biệt người lớn phải thực sự
Cần tích cực tuyên truyền bằng nhiều hình thức tới các bậc cha mẹ trẻ và
cộng đồng dân cư ở địa phương để đảm bảo sự thống nhất trong chăm sóc giáo
dục trẻ giữa trường MN, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc CSGD trẻ.
4. Hiệu quả đạt được:
Kết quả khảo sát cuối năm học vào thời điểm tháng 04/2016 ở 16 trường
MN, 30 lớp MG; 46 CBGV, NV (16QL, 30 GV) như sau:
* MTGD ngoài trời: Khảo sát 16 trường MN
TT
Số trường Tỉ lệ
Nội dung đánh giá
đạt YC
1
Trường có đủ diện tích sân chơi và các khu vực chơi theo
14
quy định
1.1 Có sân chơi cứng với ít nhất 5-6 loại đồ chơi ngoài trời
16
1.2 Có sân chơi mềm với ít nhất 5-6 loại đồ chơi, thiết bị
12
phát triển vận động
1.3 Có vườn cổ tích đảm bảo yêu cầu
14
1.4 Có vườn rau của bé đảm bảo yêu cầu
15
1.5 Các khu vực khác: khu chơi cát nước, dàn cây….
10
2
Các khu vực chơi đặt ở vị trí phù hợp, khoa học, thuận
động của từng góc. Sắp xếp khoa học, thuận tiện với trẻ
30
30
87.5
100
75.0
87.5
93.7
62.5
87.5
87.5
100
87.5
16
khi sử dụng.
3
Mỗi góc có 1-2 giá đồ chơi, tương đối phù hợp tính chất
28
93.3
hoạt động của góc.
4
Mỗi góc có ít nhất 10-15 loại đồ dùng đồ chơi phù hợp,
27
90.0
đủ cho trẻ chơi.
95.0
Hiểu biết về nội dung chơi, cách chơi, cốt chuyện khi
90
90.0
chơi; Có kỹ năng sử dụng được đồ dùng, đồ chơi theo
chức năng.
3
Tự biết tổ chức các trò chơi và chơi theo nhóm, có kỹ
82
82.0
năng giao tiếp với bạn chơi, thể hiện sự tôn trọng, hợp
tác, chia sẻ …
4
Biết cùng nhau bàn bạc về chủ đề chơi chung và phối
78
78.0
hợp với nhau để tổ chức trò chơi một cách có tổ chức,
chơi có sự sáng tạo…
5
Có tính tự lập, tính kỷ luật khi chơi và biết tự đánh giá.
76
76.0
6
Số trẻ được đánh giá chung đạt YC
82
82.0
* Năng lực, trình độ giáo viên khi hướng dẫn trẻ tham gia các hoạt
động: Khảo sát 30 giáo viên trực tiếp đứng lớp thông qua dự giờ, trao đổi phỏng
vấn, nghiên cứu hồ sơ sổ sách của giáo viên và quan sát môi trường hoạt động
trong lớp
100
100
100
30
100
26
86.6
25
83.3
17
chức hoạt động phát huy tính tích cực của trẻ .
7
Số giáo viên xếp loại chung đạt YC:
25
83.3
Qua khảo sát cuối năm học, tôi nhận thấy:
* Về tình hình CSVC, trang thiết bị phục vụ XD MTGD: Đồ dùng đồ
chơi tự làm và đồ dùng đồ chơi sử dụng từ thiên nhiên sẵn có ở địa phương đã
được các trường chỉ đạo giáo viên chú trọng khai thác sử dụng nhiều. Đa số các
góc chơi sắp xếp khoa học, thuận tiện hơn cho hoạt động của trẻ, vì vậy đã thu
hút được sự chú ý của trẻ. Hoạt động hướng dẫn trẻ thao tác, mô phỏng, trải
nghiệm hiểu biết đã được giáo viên chú ý và đã có sự sáng tạo.
Sau một năm chỉ đạo thực hiện XD MTGD phát huy tính tích cực của trẻ
ở huyện Đông Sơn cho thấy các biện pháp trên đã tác động mạnh mẽ, đem lại
hiệu quả cao, cần tiếp tục áp dụng các giải pháp này trong thời gian tới để tiếp
tục nâng cao chất lượng CSGD trẻ.
Từ thực tiễn triển khai thực hiện, bản thân đã rút ra một số bài học kinh
nghiệm trong chỉ đạo XD MTGD phát huy tính tích cực tham gia hoạt động của
trẻ ở các trường MN huyện Đông Sơn như sau:
1.1 Phải nắm vững thực trạng, chủ động tìm hiểu, xác định rõ nguyên
nhân, đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về công tác XD MTGD phát huy tính tích
cực của trẻ để có tư vấn chắc, đúng hướng cho các nhà trường.
1.2. Bồi dưỡng, tập huấn để CBGV nắm chắc nguyên tắc chung của việc
thiết kế xây dựng môi trường giáo dục trẻ mầm non, từ đó giúp họ chủ động hơn
trong việc tạo môi trường giáo dục và khai thác sử dụng môi trường giáo dục đã
tạo ra nhằm phát huy tính tích cực tham gia hoạt động của trẻ.
1.3. Trên cơ sở các nhà trường đã nắm vững nguyên tắc về xây dựng
MTGD phát huy tính tích cực của trẻ, lập kế hoạch chỉ đạo cho từng giai đoạn,
tập trung chỉ đạo, tư vấn, hướng dẫn các nhà trường có các giải pháp thực tiễn
cải tạo, bổ sung môi trường trong lớp, ngoài trời.
1.4. Chú trọng chỉ đạo khai thác sử dụng thật hiệu quả môi trường đã có,
trong quá trình khai thác sử dụng bổ sung thêm cho hoàn thiện. Tăng cường đổi
mới phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục phát huy tính tích cực của trẻ
và khơi dậy tính tự giác, sáng tạo của CBGV trong việc tạo MTGD trong
trường, lớp MN.
1.5. Chỉ đạo các trường chú trong xây dựng môi trường giao tiếp thân
thiện, nhân văn trong nhà trường. Đặc biệt người lớn phải thực sự là tấm gương
cho trẻ học tập.
2. Kiến nghị:
Để trẻ được tích cực tham gia các hoạt động để phát triển toàn diện, ngoài
việc phát huy nội lực của các nhà trường, rất cần sự quan tâm đúng mức của các
cấp, các ngành. Để thuận lợi hơn cho việc xây dựng môi trường phát huy tính
Chu Quang Phúc
Đông Sơn, ngày 10 tháng 04 năm 2016
(Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác)
NGƯỜI VIẾT
Lê Thị Huệ
20
PHỤ LỤC.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM
NON CỦA HUYỆN ĐÔNG SƠN
1.MÔI TRƯỜNG NGOÀI TRỜI.
2.MÔI TRƯỜNG TRONG LỚP
3.TỰ LÀM ĐỒ DÙNG ĐỒ CHƠI XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
21