skkn một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 6 tuổi ở trường MN định tường - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, nó
góp phần không nhỏ trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Mục
tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, giúp trẻ “học làm
người” và chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ bước vào học lớp một. Với đặc thù của trẻ
lứa tuổi mầm non là đang làm quen với thế giới tự nhiên và xã hội, trẻ bước vào
cuộc sống xã hội với mọi thứ đều mới mẻ, cho nên đồng hành với việc dạy kiến
thức cho trẻ, phải dạy cả các kỹ năng sống cơ bản: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
bảo vệ, kỹ năng tự phục vụ bản thân... nhằm giúp trẻ phát triển một số giá trị, nét
tính cách, phẩm chất cần thiết phù hợp với lứa tuổi như: mạnh dạn, tự tin, độc
lập, sáng tạo, linh hoạt, tự giác, dễ hòa nhập, dễ chia sẻ... hình thành nếp sống
văn minh, có hành vi ứng xử, giao tiếp theo qui tắc, chuẩn mực phù hợp... không
những vậy, kỹ năng sống còn rèn luyện cho trẻ biết cách xử lý tình huống trong
từng hoàn cảnh cụ thể, bày tỏ tình cảm phù hợp, đúng lúc, biết tránh những vật,
những nơi không an toàn, gây nguy hiểm đến tính mạng và cách phòng tránh, tự
lập trong các tình huống quen thuộc, có một số kỹ năng tự phục vụ, hợp tác, có
trách nhiệm với bản thân và cộng đồng.
Đối với trẻ mầm non việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là quan trọng và rất
cần thiết. Bởi trẻ đang chập chững bước những bước đầu tiên vào đời, đang từng
bước hình thành cơ sở ban đầu của hành vi, tính cách và nhân cách. Nếu các kỹ
năng sớm được hình thành thì trẻ sẽ có nhân cách phát triển toàn diện và bền
vững. Nhiều công trình khoa học đã chứng minh rằng: “Giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ từ lúc đầu đời là chìa khoá thành công cho tương lai của mỗi đứa trẻ”.
Do đó nếu gia đình và nhà trường có biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
phù hợp thì sẽ hình thành ở trẻ tính tự tin, mạnh dạn, tự lực, dễ hòa nhập, dễ chia
sẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị tốt cho việc
học tập ở trường tiểu học và ở các cấp học sau.
Theo quan niệm của UNESCO, 8 tuổi đã là quá trễ để giáo dục kỹ năng sống.
Vì đến độ tuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các giá trị; trừ khi có sự

định được tầm quan trọng của việc "Giáo dục kỹ năng sống" cho trẻ có tác động
lớn đến sự giáo dục đạo đức đến sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ hiện tại
và sau này. Vì thế tôi quyết định chọn đề tài “Một số kinh nghiệm giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Định Tường, năm học 2015 2016”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nhằm tìm ra một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non Định
Tường.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, so sánh, khái quát hóa các tài
liệu cần thiết có liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, đánh giá, phương pháp theo
dõi bằng phiếu; phương pháp quan sát.

2


B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Khái niệm kỹ năng sống.
Kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao
tiếp được vận dụng trong các tình huống hằng ngày để tương tác có hiệu quả với
người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc
sống hàng ngày.
Không những thế nội dung giáo dục kỹ năng sống đã chỉ ra rất rõ đó là những
giá trị sống và kỹ năng sống tương ứng mà nhà giáo dục cần hình thành cho trẻ ý
thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó với
thay đổi.

3


năng sống để trẻ có thể tự bảo vệ mình và ứng phó với cuộc sống. Từ đó trẻ có
thể học tiếp cận và xử lí thông tin một cách nhanh chóng. Nếu chúng ta làm tốt
công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thì càng tạo nền tảng vững chắc cho khả
năng học tập của trẻ bước vào lớp một.
II. THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ
5 – 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON ĐỊNH TƯỜNG.
1. Thực trạng:
Năm học 2015 - 2016 tôi được phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó
khăn sau:
a. Thuận lợi:
- Đối với trẻ: Trẻ rất hiếu động, thích khám phá thế giới xung quanh, tích cực
tham gia các hoạt động trong ngày do cô tổ chức.
- Đối với bản thân: Là giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp huyện, bản thân
luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, năng động và sáng tạo trong giảng dạy. Vì vậy,
việc dạy học của cô và trẻ đã đạt được kết quả nhất định. Trong đó “Giáo dục kỹ
năng sống”cho trẻ cũng đạt được kết quả khả quan.
- Đối với nhà trường: Là trường chuẩn Quốc gia nên có đầy đủ cơ sở vật chất
phục vụ cho quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Đặc biệt là sự quan tâm của Ban
giám hiệu nhà trường và sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi thực hiện tốt công việc nghiên cứu đề tài của mình.
- Đối với phụ huynh: Phụ huynh luôn quan tâm, tạo điều kiện trong việc giáo
dục trẻ.
b. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi đó, trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ bản thân
tôi thấy bộc lộ một số tồn tại sau:
- Bản thân tôi và một số giáo viên trong trường chưa hiểu sâu và cụ thể về

2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên.
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành khảo sát trẻ về kỹ năng sống ở lớp tôi
như sau:
Tổng số trẻ: 42
Đối tượng: 5 – 6 tuổi
Tổng
Kết quả
số trẻ Đạt Tỷ CĐ Tỷ lệ
TT
Nội dung
khảo
lệ
sát
1 Thể hiện ý thức về bản thân.
42
35 83.3 7 16.7
2 Thể hiện sự tự tin, tự lực.
42
30 71.4 12 28.6
Nhận biết và thể hiện cảm xúc, tình
3 cảm với con người, sự vật, hiện tượng
42
28 66.7 14 33.3
xung quanh.
4 Có hành vi và thực hiện quy tắc ứng xử
42
29
69 13
31
xã hội

biện pháp giáo dục phù hợp như: Trò chuyện, tìm hiểu về gia đình trẻ, tổ chức
các hoạt động văn nghệ, câu lạc bộ thơ ca... có liên quan đến giáo dục tình cảm
gia đình, tạo tình huống có vấn đề để trẻ thể hiện cảm xúc, ứng xử phù hợp...
Sau khi xây dựng được kế hoạch, tôi đã tìm tòi các hình thức tổ chức phù hợp
thông qua việc tạo cơ hội cho trẻ được chơi, được giao lưu, tiếp xúc với nhiều
đối tượng, được trải nghiệm thông qua các hoạt động tập thể vui tươi lành mạnh,
khuyến khích trẻ vận dụng kiến thức và kỹ năng mới vào cuộc sống. Đồng thời,
luôn lắng nghe để hiểu, tôn trọng và tin tưởng trẻ, động viên, khen ngợi kịp thời
những trẻ có kỹ năng sống tốt. Trong quá trình đó, tôi luôn chú ý theo dõi, ghi
chép và đánh giá vào cuối chủ đề để có biện pháp điều chỉnh (nếu cần) ở những
chủ đề sau.
Chính nhờ việc xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống một cách chặt chẽ,
sát với tình hình thực tế của trẻ nên kỹ năng sống của trẻ được nâng lên rõ rệt.
2. Biện pháp 2: Tạo môi trường vật chất phong phú và tinh thần lành
mạnh để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ; Động viên khen thưởng kịp thời
những trẻ có kỹ năng sống tốt.
* Cô giáo là tấm gương sáng để trẻ noi theo
Để giáo dục "kỹ năng sống" cho trẻ có hiệu quả, trước hết cô giáo phải là tấm
gương sáng về mọi mặt cho trẻ noi theo, cần nắm vững các nhiệm vụ giáo dục
đối với trẻ, tạo không khí thân ái giữa hai giáo viên trong lớp và các giáo viên
trong trường luôn tôn trọng lẫn nhau, quan tâm đến nhau. Bởi vì trẻ thường hay
bắt chước, trẻ thấy thích được làm theo, nói theo, trẻ chưa hiểu hết thế nào là
hành vi đúng, sai, tốt, xấu, trẻ quen được mọi người phục vụ, điều đó nếu cô
không giáo dục đúng mực sẽ dẫn đến những thói quen, hành vi xấu như thiếu lễ
phép, trông chờ, ỷ lại...
Ví dụ: Cháu Thanh Nga về nhà bắt chước cô dạy học, có thể trẻ chơi một mình
hay chơi với ông bà, bố mẹ làm học sinh và trẻ thể hiện giống như cô ở lớp: Các
con ngồi ngoan nghe cô đọc thơ nhé. Cô vừa đọc bài thơ gì? Bài thơ do ai sáng
tác. Cô mời cả lớp đọc thơ cùng cô nào. Cô mời tổ chim non... hoặc trẻ thường
bắt chước cô điểm danh, trẻ cũng tìm một tờ giấy hay quyển vở và cái bút giả vờ

phát âm cô nhẹ nhàng động viên trẻ: Con nói sắp đúng rồi con nói lại cô nghe nào,
luyện như thế cho trẻ nhiều lần trẻ sẽ quen, đến giờ trẻ tương đối nói rõ ràng, nói
đúng từ đúng câu, đây là cách luyện phát âm cho trẻ rất quan trọng, như vậy dần
dần ngôn ngữ của trẻ được phát triển hoàn thiện.
Khi trẻ gặp thất vọng cô nên kiên nhẫn với trẻ, tránh thúc ép, căng thẳng khi
luyện tập các kỹ năng cho trẻ, cô cần phải chờ đợi, tôn trọng ý kiến cá nhân của trẻ
như khi dạy trẻ phát biểu ý kiến tránh áp đặt. Từ đó hình thành cho trẻ thói quen
suy nghĩ một cách độc lập, không định kiến với trẻ, chỉ cấm đoán những việc
không an toàn, hạn chế mệnh lệnh đối với trẻ, tăng cường khích lệ trẻ, cô không
nên nói "không được làm thế này" mà nói "con nên làm thế này cô thấy thích hơn"
hay như "con nên nói nhẹ nhàng" thay vì "không được la hét" hoặc "đi từ từ" thay
cho "không được xô đẩy"... Cô còn là người bạn thân tình của trẻ để trẻ sẵn sàng
chia sẻ những vui buồn của mình.
Ví dụ: Hôm nay thấy cháu Hải Yến buồn cô hỏi? "Vì sao con buồn thế ?" Trẻ sẵn
sàng chia sẽ cùng cô "Vì mẹ không mua quà cho con" những lúc thế này cô cần có
lời nói như người bạn với nhau "Cô cũng có đòi mẹ mua quà đâu, mình lớn rồi mà,
nên sẽ không đòi mẹ mua quà, như thế mới là bé ngoan đúng không nào". Có nhiều
lúc trẻ coi cô là bạn không còn ranh giới là cô và trò nữa thật vui biết bao với những
phút giây như thế, tôi thấy mình như trẻ lại, mình cũng như là đứa trẻ Mầm non.
Qua những lời tâm sự nhẹ nhàng, gần gũi, yêu thương của cô đã làm cho trẻ tự
tin, đây là một trong những kỹ năng đầu tiên mà người giáo viên cần chú ý, chú tâm
để phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Có nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được
mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Trẻ
được thỏa mãn và cũng coi cô như người mẹ của mình, trẻ lại yên tâm tiếp tục ra
chơi. Kỹ năng xã hội này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi
nơi.
Ví dụ: Cháu Ngân Khánh, đầu năm học cơ thể của cháu rất yếu, lớp 5 tuổi mà có
14.6kg, giờ ăn cháu ăn rất chậm, ăn ít nhưng nếu cô thúc dục cháu thì sẽ bị nôn và
cháu sẽ không ăn, ngậm cơm. Vì thế trong giờ ăn, tôi xới cho cháu ít hơn và động
viên cháu ăn và xúc miếng nhỏ, ăn nhiều để cơ thể khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, xinh

Bên cạnh đó, tôi đã trang trí, gắn các nội dung cần phối hợp với phụ huynh
vào góc trao đổi với phụ huynh ngoài hành lang để họ có thể đọc, quan sát, theo
dõi dễ dàng những nội dung, biện pháp và mức độ phát triển kỹ năng sống của
con em mình và ngược lại, phụ huynh có thể ghi chép những yêu cầu, đề nghị,
thông tin cần trao đổi với giáo viên.
Ngoài ra trong năm học, tôi đã tích cực tham mưu với ban giám hiệu trang trí
sân trường bằng các khẩu hiệu nhắc nhở giáo viên, người lớn phải gương mẫu,
yêu thương tôn trọng trẻ, giữ lời hứa với trẻ... bổ sung giá góc, đồ dùng đồ chơi
cho các góc đặc biệt là góc phân vai và góc sách để trẻ có cơ hội, có môi trường
trải nghiệm thực tế cuộc sống xã hội thu nhỏ, qua đó trẻ học được những kỹ
năng sống cần thiết và tự nhiên. Đồng thời, tham mưu với ban giám hiệu bổ
sung đồ chơi ngoài trời, quy hoạch vườn hoa, cây cảnh, sân vận động, sân khấu
ngoài trời... để trẻ hoạt động trải nghiệm và phối hợp cùng bạn bè trong quá
trình chơi.
Việc xây dựng môi trường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là điều kiện quan
trọng có tính chất quyết định đến sự hình thành và phát triển kỹ năng sống cho
trẻ ở trường mầm non.
* Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua hoạt động nêu gương:
Là giáo viên mầm non tôi đã nắm được tâm lý của trẻ thích được khen hơn là
chê, lúc nào cũng muốn được khen và khen nhiều. Hằng ngày vào giờ nêu
gương cuối ngày trước khi cắm cờ, tôi cho trẻ tự nhận xét về mình trong ngày

9


đó, bạn nào ngoan có hành vi tốt, lời nói hay tôi nêu gương ra cho cả lớp và tặng
trẻ một bông hoa.
Ví dụ: Giờ ngủ bạn Tùng Lâm ngủ rất ngoan, không nói chuyện riêng tôi đưa
ra để động viên trẻ kịp thời. Hay giờ ăn bạn Ân Duy ăn nhanh, xúc cơm ăn gọn
gàng không làm rơi vãi thức ăn…thì trẻ rất phấn khởi, vui mừng được nhận hoa

Để giáo dục những điều tốt cho trẻ, có ích cho trẻ thì bất cứ lúc nào, hoạt
động nào dù lớn hay bé chúng ta cũng có thể giáo dục trẻ được, như giờ đón trẻ
khi ông bà, bố mẹ trẻ ra về cô ân cần vui vẻ chào đón, nhắc nhở trẻ chào cô,
chào bố mẹ khi đến lớp, khi về tự giác chào cô, chào bạn, xếp ghế, xếp dép, cất
và lấy đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định ... Trẻ làm tốt cô động viên khen ngợi,
trẻ chưa chào còn nhỏng nhẽo, khóc, đòi quà… cô cần giải thích nhắc nhở giúp
trẻ biết được đến trường các con ngoan ngoãn chào bố mẹ, chào cô giáo, chào
bạn là ngoan, còn khóc nhè, không chào, đòi quà là chưa ngoan. Cô thường
10


xuyên uốn nắn nhắc nhở để trẻ biết thực hiện đúng, biết “Chào bố mẹ, ông bà…
con đi học; chào cô giáo, chào các bạn mình về..."Cô giải thích cho trẻ hiểu: Bố
mẹ là người sinh thành ra con nên các con phải ngoan, vâng lời bố mẹ, đừng làm
bố mẹ phải buồn vì các con... Nếu được thực hiện liên tục thì trẻ sẽ trở thành
một thói quen, hành vi tốt, còn không chú ý dạy dỗ thích thì trẻ chào, không
thích thì thôi, đi học cứ khóc, cứ vòi quấy… sẽ trở thành thói quen xấu.
Ví dụ: Cháu Ngọc Bách đến lớp lúc nào cháu cũng chào cô, chào bố mẹ vào lớp
nhưng ra về cháu không chào, tôi thường xuyên gần gũi, tâm sự, theo dõi cháu để
tìm ra nguyên nhân đó là cháu đang thích chơi ở lớp chưa muốn về bởi vì mẹ đón
sớm. Biết được nguyên nhân như vậy tôi trực tiếp gặp phụ huynh trao đổi về giờ
giấc đón trả trẻ, nội dung học của cháu, thói quen, nề nếp của trẻ và tâm lý của trẻ
đang thích ở lớp để phụ huynh biết đồng thời giáo dục trẻ ra về chào cô, chào các
bạn mình về, cất ghế, chào ông bà, bố mẹ mới được về. Khi đã tìm được nguyên
nhân và kết hợp giáo dục trẻ đến giờ cháu tự giác chào hỏi lễ phép tiến bộ rõ rệt.
3.2. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động học có chủ định:
Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các môn học ở
các lĩnh vực theo từng chủ đề có nhiều ưu thế, nhằm hình thành cho trẻ những thói
quen và hành vi tốt đối với thiên nhiên, đối với loài vật và lòng vị tha đối với con
người.

cây hoa cho đẹp trường và cho các con quan sát. Dạy trẻ biết chăm sóc cây, bỏ
rác vào đúng nơi quy định và khi được người lớn đưa đi chơi công viên, hay
chơi ở sân trường không được xô đẩy nhau, đồng thời giáo dục trẻ có ý thức giữ
gìn bảo vệ cây cảnh không bẻ cành ngắt lá, hái hoa…
Khi chơi với các đồ chơi ngoài trời phải có ý thức giữ gìn và bảo vệ, không
xô đẩy nhau, nhường nhịn và biết chờ đến lượt mình để cùng chơi đoàn kết...
3.4. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua hoạt động vui chơi:
Như chúng ta đã biết, lứa tuổi này trẻ "học mà chơi, chơi mà học", trong giờ
chơi trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau trong cuộc sống của
người lớn, trẻ được tập làm người lớn như: Làm bố, mẹ, anh, chị, em, cô giáo, bác
sỹ, chú công nhân, người bán hàng ... trẻ thể hiện tình thương yêu, quan tâm và thái
độ đúng đắn với người lớn, sẵn sàng giúp đỡ nhường nhịn bạn, em bé, thích chơi
chung với bạn. Vì thế ở trường vai trò và biện pháp của cô cũng rất quan trọng, đặc
biệt ở hoạt động góc trẻ hay tranh dành đồ chơi và đánh nhau, chẳng ai muốn
nhường ai, khi đó cô phải là người khéo léo phân xử công bằng khi các tình huống
xảy ra.
Ví dụ: Khi trẻ chơi gia đình có cháu Thùy Dung đóng vai chị, cháu Yến Nhi
đóng vai em, 2 chị em giành nhau bạn búp bê. Cô giáo ứng xử: Chợ xa Yến Nhi
không đi được đâu, em Yến Nhi ở nhà giúp mẹ trông em kẻo em bé ngã, còn chị
Thùy Dung lớn hơn chị đi chợ. Thế là Thùy Dung không dành búp bê nữa. Qua
đó giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ biết giúp mẹ, nhường bạn...
Trò chơi bán hàng: Người bán hàng phải vui vẻ, niềm nở, lịch sự nhẹ nhàng với
khách hàng, đáp ứng với nhu cầu của người mua. Người mua hàng phải trật tự,
không xô đẩy chen lẫn nhau và khi mua thì phải trả tiền, không được tự do lấy hàng
mang về.
Như vậy trong khi chơi cô thường đặt ra các câu hỏi về các tình huống để xử sự
và kịp thời uốn nắn, sữa chữa kết hợp nhắc nhở động viên khen ngợi trẻ. Qua hoạt
động chơi giúp trẻ hình thành những thói quen, hành vi ứng xử chuẩn mực, biết
được công việc vất vả của người lớn, biết các mối quan hệ giữa trẻ với người thân
trong gia đình, giữa trẻ với cô giáo, giữa trẻ với bạn bè, đồng thời giáo dục trẻ biết

trong trường, lớp mầm non để dần dần trẻ có ý thức thực hiện trong cuộc sống,
nhằm tránh những thói hư tật xấu, giúp trẻ ý thức được những việc làm, những
hành vi đúng, hành vi sai, để từ đó trẻ biết thực hiện những việc làm đúng, tự
làm để phục vụ bản thân, hoặc có ý thức trẻ tự giúp cô làm những việc nhỏ.
Chằng hạn: Cháu Phương Thảo, thời gian đầu mới đi học lúc nào cũng đái ra
quần, không đi đúng nơi đúng chỗ. Hàng ngày đến giờ cho trẻ đi vệ sinh, tôi
nhắc nhở cháu vào nhà vệ sinh hướng dẫn cho cháu đi vào bồn cầu, không đi ra
quần và giải thích cho trẻ hiểu nếu làm như vậy thì không đẹp, không ngoan, tôi
hướng dẫn giải thích cho cháu như thế trong một thời gian liên tục cháu đã có nề
nếp, thói quen và biết tự phục vụ như biết đi vệ sinh khi có nhu cầu.
Hay cháu Quang Hưng hay quẹt mũi ngang má tôi giải thích cho trẻ hiểu con
quẹt mũi như thế bẩn, xấu trai, mọi người không yêu, khi nào có mũi con lấy
giấy lau sạch bỏ vào thùng rác hoặc lấy khăn lau đó mới là bé ngoan. Qua nhiều
lần cô vừa hướng dẫn vừa giúp trẻ, trẻ đã hiểu được đó là hành vi đúng dần trẻ
có thói quen nhất định và đến giờ những động tác xấu đó không còn nữa.
Như vậy giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua hoạt động vệ sinh đã giúp trẻ
hiểu được thế nào là hành vi đúng, thế nào là hành vi sai từ đó trẻ biết vâng lời
cô, mọi người thực hiện vệ sinh đầy đủ, trẻ tự giác thực hiện kể cả ở trường cũng
như ở nhà, có thể trẻ tự làm hoặc bố mẹ, cô giáo nhắc là trẻ thực hiện chứ không
phải quát mắng bắt buộc trẻ mới thực hiện như trước đây, những việc đó được
làm thường xuyên thì sẽ trở thành thói quen hàng ngày của trẻ.
3.6. Thông qua giờ ăn.
Giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ qua giờ ăn là một việc làm rất cần thiết và có
ý nghĩa lớn đối với trẻ, đặc biệt đối với trẻ 5- 6 tuổi, giờ ăn có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Trước giờ ăn tôi giới thiệu tên món ăn cho trẻ đồng thời cho trẻ biết
tác dụng của các loại thức ăn cung cấp các chất dinh dưỡng vào cơ thể tôi gợi
13


hỏi trẻ: Chúng mình đã ăn món này chưa? Ăn vào cơ thể sẽ thế nào? Cô dạy trẻ

lấy gối, chăn lên gường nằm ngủ còn khi ngủ dậy thì cất gối, cất chăn, xếp chiếu
gọn gàng như vậy dần dần trẻ có nề nếp thói quen.
Đối với lứa tuổi mầm non ở nhà do bố mẹ cưng chiều, không có phương
pháp giáo dục nghiêm túc, nếu đến giờ ngủ trẻ thích thì ngủ, chưa thích thì thôi,
giấc ngủ của trẻ không theo giờ giấc, bố mẹ phải chăm ẵm, dỗ dành thậm chí
quát mắng chưa chắc trẻ đã chịu ngủ nhưng đến trường với sự chăm sóc giáo
dục của cô trẻ biết tuân thủ theo giờ giấc quy định của lớp.
Ví dụ: Cháu Như Nam, đầu năm đến lớp cháu không ngủ trưa có ngủ thì
cũng rất khó khăn, trưa nào tôi cũng cho cháu nằm cạnh, đầu tiên có thể trẻ ngủ
muộn hơn nhưng dàn dần trẻ đã quen với môi trường, ngủ đúng giờ lên giường
nằm là ngủ ngay.

14


Hay có một số trẻ khi ngủ thường hay tè dầm ra quần, nắm bắt được đặc
điểm của trẻ tôi nhắc trẻ đi vệ sinh trước khi đi ngủ và cho trẻ nằm cạnh để tiện
cho việc nhắc trẻ đi tiểu tiện không làm ảnh hưởng đến bạn khác.
Ví dụ: Cháu Phương Thảo thường hay đái dầm, thời gian đầu cứ 30-35 phút
tôi cho cháu đi một lần sau tôi tăng dần thời gian lên thì đến giờ cháu đã đi một
thời gian nhất định.
Trường mầm non là môi trường thuận lợi để hình thành các kỹ năng sống cho
trẻ: Đảm bảo môi trường giao tiếp thân thiện, hòa đồng, ấm cúng, cởi mở giữa
cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với môi trường xung quanh. Quan hệ giữa cô
và trẻ, người lớn với trẻ phải thể hiện tình cảm yêu thương, thái độ tôn trọng, tin
tưởng trẻ, tạo cơ hội cho trẻ bộc lộ những suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng của
mình. Tạo điều kiện cho trẻ giao tiếp và thể hiện sự quan tâm của mình đối với
mọi người, đối với sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh. Mối quan hệ giữa trẻ
với trẻ là quan hệ bạn bè cùng học cùng chơi, đoàn kết, hợp tác, chia sẻ, đồng
cảm, học hỏi lẫn nhau. Giáo viên cần nhạy cảm để tận dụng các mối quan hệ


lại truyền thống của dân tộc để giáo dục trẻ lòng tự hào dân tộc, biết kính trọng
những người đã hy sinh cho lợi ích dân tộc, lợi ích trồng người. Nhằm hình
thành cho trẻ lòng tự hào, kính yêu đối với người lớn tuổi, thông qua đó khuyến
khích trẻ học tập và phấn đấu thành con người có ích cho xã hội.
Qua các buổi tham quan như vậy trẻ rất phấn khởi vì được cùng nhau giao
lưu với bên ngoài phạm vi trường mầm non. Trên đường đi trẻ biết đi theo hàng
lối và đi sát lề đường bên phải để bảo vệ an toàn cho bản thân, biết chào hỏi mọi
người trẻ gặp. Được đi nhiều lần trẻ trở nên mạnh dạn, tự tin hơn. Trẻ được
luyện kỹ năng giao tiếp xã hội, chào hỏi lễ phép, được rèn khả năng quan sát
nhận biết các sự vật hiện tượng ở trên đường đi và ở nơi mà trẻ đến tham quan.
Qua đó kiến thức mà trẻ thu được về chủ đề sẽ được mở rộng và khắc sâu hơn.
Bên cạnh đó, tôi còn tổ chức các hoạt động tập thể như: Chơi trò chơi dân gian,
giao lưu hỏi đáp về nội dung các câu chuyện đã được làm quen và bồi dưỡng, tham
gia hội thi cấp trường đạt kết quả cao như: Hội thi “Bé khỏe, bé khéo tay”, “Hội
khỏe bé mầm non”...
Chính trong quá trình tham gia vào các ngày lễ, hội các hoạt động tập thể mà
dần dần trẻ trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát, giao tiếp và ứng xử trước các tình huống,
các mối quan hệ một cách linh hoạt, phù hợp, tự tin, tự lực tham gia vào các hoạt
động trải nghiệm.
5. Biện pháp 5: Phối hợp với các bậc phụ huynh để giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ.
Đây là hình thức thường làm và đạt hiệu quả rất cao trong các hoạt động.
Việc trao đổi với phụ huynh vào giờ đón trả trẻ giúp giáo viên dễ dàng nắm bắt
tình hình của trẻ, hiểu được tính cách, hoàn cảnh sống của trẻ từ đó đề ra các
biện pháp phù hợp cũng như cách tác động, phối hợp với phụ huynh trong việc
rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ theo khoa học.
Nhận thức được tầm quan trọng của biện pháp này, tôi thường trao đổi, tuyên
truyền phụ huynh hiểu những việc nên và không nên đối với trẻ để giúp trẻ có
kỹ năng sống tốt. Bởi giáo dục chỉ đạt kết quả tốt khi nhà trường và gia đình kết

này mà giáo dục “kỹ năng sống” cho trẻ ngày càng có chất lượng.
Tôi cũng tuyên truyền với phụ huynh quan sát những biểu hiện của trẻ trong
điều kiện và tình huống tự nhiên hàng ngày như quan sát xem trẻ có tự tin và tự
nhiên khi giao tiếp với mọi người hay không? Trẻ có thích tham gia dã ngoại
hay tham gia các nhóm sinh hoạt không? Trẻ có tự nhiên sáng tạo khi chơi với
đồ chơi không? Trẻ có lễ phép trong cách nói năng với người lớn hay không?…
để từ đó có biện pháp rèn luyện và giáo dục trẻ thêm.
Nhờ có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên với cha mẹ trẻ mà tôi thấy trẻ
lớp tôi rất mạnh dạn, tự tin và hầu hết trẻ có kỹ năng sống cần thiết theo độ tuổi.
IV. Kết quả đạt được sau khi áp dụng một số biện pháp đề xuất.
Sau khi áp dụng một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, tôi tiến
hành khảo sát trẻ kết quả đạt được như sau:

TT

Nội dung

1
2

Thể hiện ý thức về bản thân.
Thể hiện sự tự tin, tự lực.
Nhận biết và thể hiện cảm xúc, tình
cảm với con người, sự vật, hiện tượng
xung quanh.
Có hành vi và thực hiện quy tắc ứng
xử xã hội
Quan tâm đến môi trường
Kết quả chung


95

2

5

40

95

2

5

39
40

92.9
95

3
2

7.1
5

Qua bảng khảo sát cuối năm cho thấy: Phần lớn trẻ thể hiện được ý thức
về bản thân như nói được tên, tuổi, giới tính của bản thân và người xung quanh;
nói được điều trẻ thích và không thích; biết phân biệt điểm giống và khác nhau
17

điều kiện giao tiếp, nhằm giúp trẻ từng bước hình thành nhân cách tốt.
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em 5 tuổi là một nhiệm vụ quan trọng và lâu
dài; có tính chất quyết định đến chất lượng chăm sóc giáo dục của đơn vị. Vì
thế, cần có sự chung tay góp sức của tất cả mọi lực lượng xã hội tham gia vào
công tác này nhằm tạo nền tảng vững chắc để phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, góp phần thực hiện thành công một trong ba khâu đột phá trong
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020. Chăm lo giáo dục
cho toàn dân, xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các
đoàn thể, của mọi gia đình và toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh huy động mọi
nguồn lực cho giáo dục, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, mở rộng giáo dục mầm non, hoàn thành mục tiêu cho trẻ
5 tuổi, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
cho đất nước.
* Từ kết quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tôi rút ra một số kinh
nghiệm sau:
- Để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi người giáo viên cần phải có
năng lực và trình độ chuyên môn, có kiến thức về kỹ năng sống để làm tốt
nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ. Ngoài ra cần phải có lòng yêu nghề mến trẻ.
- Giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Từ đó đề ra mục
tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
- Cô giáo phải là tấm gương cho trẻ về cách giao tiếp, các hành vi văn
minh trước mặt trẻ, tôn trọng trẻ, đối xử công bằng với trẻ.
- Nên tận dụng cơ hội ở mọi lúc mọi nơi để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
như: Giờ đón trả trẻ, hoạt động có chủ định, hoạt động vui chơi, hoạt động vệ
sinh ăn ngủ, hoạt động chiều….. và đánh giá thường xuyên các hoạt động đó.
- Xây dựng môi trường giáo dục sinh động, phù hợp để trẻ được trải
nghiệm, khám phá.
- Luôn kết hợp giữa gia đình và nhà trường để giúp trẻ tiếp cận và lĩnh hội
các kỹ năng cơ bản một cách tốt nhất, đồng bộ và hiệu quả nhất.
- Học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, nghiên cứu tài liệu để từ

DỤCVÀ
VÀĐÀO
ĐÀOTẠO
TẠOYÊN
YÊN
ĐỊNH
PHÒNG
ĐỊNH
TRƯỜNG MẦM
ĐỊNH
TƯỜNG
TRƯỜNG
MẦMNON
NON
ĐỊNH
TƯỜNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON ĐỊNH TƯỜNG

Người thực hiện: Lê Thị Xuân

MỘT SỐ BIỆNChức
PHÁP
vụ: NÂNG
Giáo viênCAO HIỆU QUẢ GIỜ KỂ
vị công

2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống...............................
II. Thực trạng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường
mầm non Định Tường............................................................................
1.
Thực
trạng...........................................................................................
a. Thuận lợi.............................................................................................
b. Khó khăn............................................................................................
2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên.................................................
III. Các giải pháp thực hiện....................................................................
1. Biện pháp 1: Nghiên cứu tài liệu, mục tiêu chương trình và nắm bắt
đặc điểm, khả năng của trẻ trong lớp để xây dựng kế hoạch giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ...............................................................................
2. Biện pháp 2: Tạo môi trường vật chất phong phú và tinh thần lành
mạnh để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ; Động viên khen thưởng kịp
thời những trẻ có kỹ năng sống tốt........……..................................…...
3. Biện pháp 3: Tận dụng mọi cơ hội, mọi thời điểm thích hợp trong
ngày để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, tăng cường tiếp cận giáo dục
trẻ theo nhóm nhỏ hoặc cá nhân.............................................................
3.1. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua hoạt động đón trả trẻ..............
3.2. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động học có chủ
định.........................................................................................................
3.3. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua hoạt động ngoài trời.....................
3.4. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua hoạt động vui chơi.......................
3.5. Thông qua hoạt động giáo dục vệ sinh............................................
3.6. Thông qua giờ ăn.............................................................................
3.7. Thông qua giờ ngủ...........................................................................
4. Biện pháp 4: Tạo cơ hội cho trẻ đượctham gia ngày hội, ngày lễ,
các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh……………………………
5. Biện pháp 5: Phối hợp với các bậc phụ huynh để giáo dục kỹ năng

17
19

22


IV. Kết quả đạt được sau khi áp dụng một số biện pháp đề xuất: ….....
C.
KẾT
LUẬN,
KIẾN
NGHỊ..............................................................
I. Kết luận .............................................................................................
II. Ý kiến đề xuất...................................................................................

19
19

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status