1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Địa lí là môn học được đưa vào giảng dạy
ở các trường phổ thông nhằm mục đích trang bị cho học sinh những kiến thức cơ
bản về khoa học địa lí, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống để
biết cách ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Đồng thời đáp ứng
với yêu cầu phát triển của đất nước. Bài giảng môn Địa lí không chỉ là một bài học
về kiến thức cơ bản về rèn luyện kỹ năng, về giáo dục tư tưởng mà còn là một bài
học về đời sống nữa. Một bài giảng Địa lí chứa đựng một thực tế nhất định của đời
sống. Để giúp học sinh khắc sâu kiến thức, phát huy tính chủ động tích cực tư duy
của từng em, phải lồng vào mỗi bài học “chất nóng” của thực tế sinh động và từ đó
giúp học sinh hiểu ra chân lý cuộc sống.
Khác với nhiều môn học, việc cập nhật thông tin hay bổ sung tư liệu liên
quan đến nội dụng bài giảng và liên hệ thực tế… là một trong những yêu cầu cần
thiết đối với môn Địa lý ở trường phổ thông trung học. Trong đời sống xã hội hiện
nay, mỗi ngày có nhiều thay đổi, nếu cứ tổ chức học tập cho các em theo các nội
dung, các số liệu sách giáo khoa thì chưa thể cập nhật hết các thông tin, tính thời sự
của vấn đề cần tiếp thu.
Qua thực tế nhiều năm đi dạy tôi nhận thấy: việc tự tìm hiểu kiến thức của
các em học sinh còn hạn chế, đặc biệt là đối với một trường đóng ở địa bàn kinh tế
khó khăn như trường THPT Thọ Xuân 4 chúng tôi. Phần lớn các em đang còn thụ
động trong việc tiếp thu kiến thức, việc tìm tòi, khám phá những kiến thức mới
ngoài sách giáo khoa. Cho nên từ việc liên hệ thực tế những vấn đề kinh tế - xã hội,
những biến đổi của tự nhiên liên quan đến nội dung bài giảng, giáo viên vừa khắc
sâu kiến thức cho học sinh vừa tạo cơ hội và điều kiện cho các em được tham gia
một cách tích cực, chủ động vào quá trình khám phá, phát hiện, đề xuất và lĩnh hội
kiến thức, tự trình bày vốn hiểu biết đã có của mình để xây dựng bài học với tinh
thần và thái độ học tập tốt.
Qua việc gắn kết thực tế học sinh hiểu được quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của một nước từ trong quá khứ, hiện tại, tương lai, những thuận lợi cần phát
huy, những khó khăn cần khắc phục. Việc liên hệ thực tế sẽ giúp học sinh có cái
Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của của sáng kiến:
Một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục phổ thông hiện nay là
“vận dụng kiến thức vào thực tiễn” nhằm “phát triển khả năng sáng tạo, tự học ,
khuyến khích học tập của học sinh”. Địa lí là một môn học quan trọng trong chương
trình giáo dục quốc dân, nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về
khoa học Địa lí, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống để biết cách
ứng xử với môi trường tự nhiên, đồng thời đáp ứng với yêu cầu phát triển của đất
nước, của xu thế thời đại.
Việc liên hệ các hiện tượng, vấn đề thực tế vào trong quá trình dạy và học,
trước hết tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế, tạo cho học sinh
sự hứng thú, hăng say trong học tập.
Liên hệ các hiện tượng, vấn đề thực tế vào trong quá trình dạy và học góp
phần xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực,
sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến
thức vào cuộc sống. Đồng thời giúp cho học sinh có được những hiểu biết về các
vấn đề kinh tế - xã hội của thế giới, của một số quốc gia và khu vực. Học sinh nắm
được những ảnh hưởng của những hoạt động của con người lên hệ tự nhiên. Từ đó,
học sinh ý thức được hoạt động của bản thân trong cuộc sống, đặc biệt là đối với
vấn đề môi trường. Bên cạnh đó còn góp phần xây dựng cho học sinh những kĩ
năng quan sát, thu nhập thông tin và phân tích thông tin. Ngoài ra còn góp phần
phát triển kĩ năng nghiên cứu thực tiễn và kĩ năng tư duy để giải thích các hiện
tượng thực tiễn, luôn chủ động trong cuộc sống.
Việc dạy học địa lí 11 có liên quan thực tế hiện nay trong cuộc sống, nội dung
chương trình phản ánh về tình hình tự nhiên, kinh tế xã hội, đổi mới kinh tế của đất
pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri
thức một chiều. Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá
trình lĩnh hội tri thức Địa lí.
Đa số giáo viên bỏ qua phần liên hệ thực tế là do một trong các lý do sau:
thời gian không còn đủ, phần liên hệ được coi là phần phụ, giáo viên ít có kỹ năng
thực tế, việc truy cập các số liệu mới còn hạn chế...
* Về phía học sinh
Khi được hỏi “Các em có thường hay xem tin tức thời sự không?” thì trên 95%
các em HS được hỏi đều trả lời “không”, ngay cả việc nắm bắt thông tin của địa
phương các em cũng đang còn nhiều hạn chế.
Một số học sinh còn rất mơ hồ trong việc nắm bắt các kiến thức, việc nắm bắt
kiến thức bộ môn Địa lí của các em chỉ ở mức độ thấp đó là nắm các khái niệm, quy
luật, hiện tượng… một cách máy móc. Học sinh chưa biết và vận dụng… chưa đi
sâu vào quá trình giải thích, giải quyết các vấn đề nên các em hay nhàm chán. Các
em mới chỉ hiểu và nắm được kiến thức SGK, còn phần mở rộng thì hạn chế nhiều,
đặc biệt là đối với những kiến thức kinh tế - xã hội lại liên tục thay đổi.
Qua quá trình điều tra khảo sát HS lớp 11 trường THPT Thọ Xuân 4 trong
học kỳ I năm học 2015 - 2016 tôi thu được kết quả như sau:
Lớp
11A1
11A2
11A3
11A4
11A5
11A6
Tổng
SL
học sinh
46
20
25
18
19
124
%
47,8
55,6
65,8
44,5
42,8
47,5
48,2
Không thích
học
SL
%
12
26,1
10
27,7
15
21,0
18
33,3
16
38,1
15
Bước 1. Thu thập thông tin: Giáo viên và học sinh sưu tầm tư liệu thực tế qua sách
báo, tranh ảnh, chọn lọc thông tin qua mạng ôn lại những kiến thức đã học, giúp học
sinh tiếp thu được những thông tin cần thiết về các vấn đề địa lí cần học.
Bước 2. Xử lí thông tin: Thông qua một hệ thống câu hỏi, giáo viên hướng dẫn học
sinh căn cứ vào thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết.
Bước 3. Vận dụng: Dựa vào kết luận đã rút ra từ bài học, học sinh vận dụng vào
thực tiễn để hiểu sâu bài hơn.
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu này tôi xin đưa ra một số giải pháp để vận
dụng liên hệ kiến thức thực tế trong quá trình giảng dạy phần Địa lí Khu vực và
quốc gia, chương trình sgk 11 cơ bản
* Phương pháp trần thuật:
Đây là phương pháp dùng lời. Sử dụng phương pháp này để mô tả sự vật,
hiện tượng của tự nhiên, kinh tế, xã hội.
Ví dụ: Gv kể chuyện cho học sinh về 1 số chính sách dân số kì quặc trên thế giới:
- Năm 2012, Đài Loan công bố kế hoạch mà theo đó, chính quyền sẽ trợ cấp
cho các công ty lớn để họ tổ chức “ngày hẹn hò” cho nhân viên.
5
- Đầu năm 2014, chính phủ Nhật Bản quyết định chi 30 triệu USD vào
chương trình hẹn hò và ghép đôi cho thanh niên. Kết quả, họ bơm hàng tỷ yên vào
các sáng kiến như konkatsu, chương trình do chính phủ tổ chức để giới trẻ gặp gỡ
vì mục đích kết hôn và sinh con. Một số chính quyền địa phương thành lập cơ quan
hẹn hò. Tỉnh Ibaraki thậm chí còn khuyến khích những người độc thân tự nguyện
đăng ký thông tin cá nhân vào kho dữ liệu chung để nhân viên chính phủ giúp họ
tìm bạn đời thích hợp.
- Gần đây, chính phủ Singapore chi 1,5 tỷ USD vào các biện pháp nhằm cải
thiện tỷ lệ sinh thông qua mọi phương tiện cần thiết. Họ đầu tư một phần ngân sách
vào các phim hoạt hình giáo dục cung cấp lời khuyên về cách tán tỉnh và tránh tình
huống khó xử khi hẹn hò. Chính quyền địa phương cũng phát “sổ tay hẹn hò” cho
báo cáo chính thức từ Eu, khoảng 1 triệu người đã vượt biển để tới châu Âu trong
năm 2015. Số người không thể hoàn tất cuộc hành trình và bỏ mạng trên biển chưa
được thống kê.
7
* Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề:
Giáo viên đưa ra một vấn đề và yêu cầu cả lớp giải quyết hoặc học sinh tự
nêu ra vấn đề và cả lớp cùng giải quyết.
Ví dụ: Tại sao người nhập cư lại đổ xô tới châu Âu? Hoặc Tại sao người ta gọi
Châu Âu là “miền đất hứa”?
* Phương pháp động não:
Khái niệm: Động não là một kĩ thuật giúp cho người học trong một thời gian
ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề nào đó.
Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc nhóm.
Ví dụ: Tại sao lại là Nhật Bản mà không phải Mỹ, hay một đất nước khác? Yếu tố
nào, kinh tế, chính trị hay điều gì đã đưa Nhật Bản trở thành cái tên gắn liền với
công nghệ điện tử?
* Phương pháp giao cho học sinh làm các bài tập thực hành
Các bài tập giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức đó học vào thực tế
Ví dụ: Cho bảng số liệu sau
TÌNH HÌNH DÂN SỐ NHẬT BẢN, THỜI KÌ 1960 – 2014
Đơn vị: Triệu người
Năm
1960
1970
1980
1990
2000
2005
ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương. Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực
thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996, năm 1996 tham gia sáng lập Diễn
đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn
đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Đặc biệt, tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam
chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11
tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này.
Ví dụ 3: Khi giới thiệu về Kinh tế của khu vực Đông Nam Á (bài 11. Tiết 2)
gv đặt câu hỏi: Năm 2015, khu vực Đông Nam Á có những sự kiện lớn nào về kinh
tế, tài chính?
Trả lời: Năm 2015, trong khu vực có 3 sự kiện lớn về kinh tế, tài chính: đó là
việc kí kết thành công Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình
Dương (TPP), sự ra đời của Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) và
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Nhưng AEC được coi là sự kiện nổi bật nhất, vì
đây là thị trường có quy mô dân số lớn thứ 3 trên thế giới (630 triệu), và đứng thứ 7
thế giới về GDP (3 nghìn tỷ USD).
Hoặc gv có thể cho hs xem tranh ảnh, video thay cho lời giới thiệu mở bài:
Những hình ảnh trên cho ta biết đến quốc gia nào?
b. Vận dụng liên hệ các vấn đề thực tiễn trong quá trình dạy học bài mới
Bằng việc sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học tích cực, GV vận
dụng liên hệ các vấn đề kinh tế - xã hội vào trong nội dung bài học mà chương trình
sgk chưa kịp cập nhật. Thông qua việc liên hệ giúp HS hiểu được những biến động
9
về tình hình kinh tế, văn hóa, dân cư cuả thế giới, từ đó các em có thể vận dụng vào
+ Kết cấu giới tính nam nhiều hơn nữ đã dẫn đến một loạt các hệ lụy khác như: tuổi
kết hôn muộn, nhiều nam giới đến tuổi nhưng không kiếm được bạn đời để kết
hôn…
+ ảnh hưởng lâu dài đến nguồn lao động: thiếu đi nguồn lao động trong tương lai,
một số ngành kinh tế sẽ ít lao động nữa
+ các vấn đề xã hội như nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em…
Ví dụ 4: khi dạy về Liên minh châu Âu (EU) gv đề cập đến tác động tiêu cực của
cuộc khủng hoảng di cư hiện nay đối với EU?
Trả lời:
10
- đe dọa nguyên tắc tự do đi lại
- đặt ra mối lo ngại về kinh tế
- sự lai tạp về văn hóa
- nguy cơ khủng bố từ dòng người di cư..
-> bất đồng trong giải quyết vấn đề này gữa các nước thành viên EU ngày
càng sâu sắc.
Ví dụ 5: Việc ra đời Cộng đồng kinh tế ASEAN (31 – 12 - 2015), đặt ra
những thời cơ và thách thức gì cho Việt Nam?
Trả lời:
- Đón nhận thời cơ: Đối với Việt Nam việc AEC vận hành hứa hẹn sẽ mang lại
nhiều lợi ích về thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư dựa trên lợi thế không gian của
một thị trường thống nhất, mở và nâng cao tính cạnh tranh, Việt Nam có cơ hội dễ
dàng tiếp cận thị trường trong và ngoài khu vực, qua đó mở rộng thị trường, đa
dạng hóa mặt hàng xuất khẩu; ổn định nguồn nhập khẩu và hạ giá đầu vào, qua đó
góp phần cải cách quản lý, dịch chuyển cơ cấu kinh tế và thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh...
- Vượt qua thách thức: Đó là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các thành
viên, năng lực cạnh tranh của các nước ASEAN cũng không đồng đều (Việt Nam
830
999
- 169
1.287
694
593
1.618
831
787
1.903
855
1047
1.728
820
907
2015
(Sơ bộ)
1.439
746
693
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)
11
mạnh làm cho kim ngạch buôn bán 2 chiều giữa Việt Nam và Nga tiếp tục giảm
sâu, giảm 14,2% so với năm 2014 và chỉ đạt 2,18 tỷ USD.
Về cán cân thương mại:
Kể từ năm 2010 trở về trước, Việt Nam luôn nhập siêu từ thị trường Nga. Từ
năm 2011 đến nay,cán cân thương mại giữa hai thị trường đã đổi chiều. Việt Nam
xuất siêu sang thị trường Nga, nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu nhanh hơn và giảm thì giảm chậm hơn tốc độ tăng nhập khẩu. Tính chung từ
năm 2011 đến năm 2015, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân
đạt 11,6%/năm, trong khi nhập khẩu giảm bình quân 5,7% /năm. Năm 2015, cán
cân thương mại Việt Nam với Nga thặng dự gần 700 triệu USD.
Ví dụ 2: Khi dạy về Kinh tế của Trung Quốc ở Bài 10. Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa, gv đưa ra biểu đồ sau và yêu cầu học sinh rút ra nhận xét về biến động
của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới hiện nay.
%
Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc, giai đoạn
1990 – 2015
*Nhận xét
Từ năm 1990 – 1992, tốc độ GDP của Trung Quốc tăng trưởng nhanh, từ 3,8% tăng
lên 14,3%, tăng 10,5%.
Từ năm 1992 – 1999, tốc độ GDP của Trung Quốc tăng trưởng chậm lại và có xu
hướng giảm, từ 14,3% còn 7,6%, giảm 6,7%.
Từ năm 2000 – 2007, tốc độ GDP của Trung Quốc tăng trưởng nhanh, từ 8,4% tăng
lên 14,2%, tăng 5,8%
Từ năm 2007 – 2009, tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc có xu hướng giảm
từ 14,2% xuống còn 9,2%, giảm 5%
Từ năm 2009 – 2010, tốc độ GDP của Trung Quốc tăng 1,4%.
13
Câu 1: Hòn đảo lớn nhất nằm ở phía Bắc của Nhật Bản?
-> HÔCAIĐÔ
14
Câu 2: Hòn đảo lớn nhất của Nhật Bản?
-> HÔNSU
Câu 3: Bộ trang phục truyền thống của người dân Nhật Bản?
-> KIMÔNÔ
Câu 4: Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu nào?
-> GIÓ MÙA
Câu 5: phần lớn diện tích của Nhật Bản là gì?
-> ĐÔI NÚI
-> Ô chìa khóa: ASIMÔ – Đây là niềm tự hào về công nghệ cao của Nhật
Bản
Đối tượng tiếp thu bài học Địa lý là lớp học sinh trung học phổ thông, đang
lớn lên và hiếu động. Các em đã có nhiều cảm nhận và am hiểu những vấn đề thời
sự trong nước và trên thế giới. Tuy hàng ngày truy cập thông tin trên mạng nhưng
rất có thể những thôn tin cần thiết và mức độ chính xác của nhiều luồng thông tin
được lưu giữ trong bộ nhớ của từng học sinh không nhiều. Vì vậy khi giáo viên yêu
cầu học sinh liên hệ thực tế cũng là khâu kiểm tra quá trình thu nhập thông tin,
đánh giá tính chuyên cần và thái độ học tập của học sinh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường
Khi chưa áp dụng đề tài này thì tỉ lệ học sinh yêu thích học môn Địa lí rất ít,
từ đó dẫn đến kết quả học tập của học sinh rất thấp. Tôi đã áp dụng phương pháp
này vào lớp 11A1 (lớp thực nghiệm), sau khi tôi áp dụng phương pháp dạy học tích
vận dụng liên hệ thực tế vào bài giảng thì tỉ lệ học sinh thích học môn Địa lí tăng
lên rõ rệt. Ở các tiết học rất sôi nổi, học sinh hăng hái phát biểu và khắc sâu kiến
thức hơn, từ đó các em tự biết ứng dụng vào đời sống hàng ngày. So với lớp 11A3
SL
%
46
4
8,7
20
43,5
13
28,2
9
19,6
45
12
26,7
18
phần kiến thức khó, đa dạng của môn Địa lí Trung học phổ thông giúp cho học sinh
để rèn luyện các khả năng tự lực, nhạy bén trong cuộc sống như: khả năng liên hệ
thực tế các vấn đề học tập vào cuộc sống, khả năng tự học, khả năng tổ chức các
hoạt động học tập của học sinh, tăng cường học tập cá nhân phối hợp với học tập
hợp tác... đồng thời khắc phục được tính tản mạn trong kiến thức của học sinh.
Việc giảng dạy vận dụng liên hệ thực tế thông qua bộ môn Địa lí là điều cần
thiết đối với nhận thức của học sinh. Tuy nhiên cách thức tổ chức giảng dạy và vận
dụng một cách nhẹ nhàng là điều cần thiết. Tránh tình trạng liên hệ một cách miễn
cưỡng sẽ làm cho nội dung bài dạy trở nên nặng nề. Áp dụng các vấn đề thực tế
phải biết lựa chọn đúng nội dung bài, thời gian hợp lí trong giờ học mới cuốn hút
sự chú ý, tập trung của học sinh tạo không khí thoải mái trong tiết học, mới tạo
được ý thức học tập và yêu thích bộ môn.
Vì thế sáng kiến kinh nghiệm ra đời mang lại hiệu quả học tập tốt hơn cho
học sinh trong quá trình học tập góp một phần vào đổi mới phương pháp dạy học
của ngành giáo dục đồng thời đáp ứng nhu cầu tìm tòi sáng tạo của người giáo viên
để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ giảng dạy trong công tác dạy học.
2. Kiến nghị, đề xuất
Do đặc điểm của học sinh ở nông thôn đa phần các em đều nhút nhát, ngại nói
ra ý kiến của mình nên các em ngày càng thụ động, giáo viên buộc phải làm việc
quá nhiều. Vì vậy trước hết giáo viên phải tạo được tâm lý thoải mái cho học sinh,
làm cho các em bước vào mỗi tiết học cảm thấy nhẹ nhàng, các em cảm thấy việc
tự mình làm chủ, lĩnh hội kiến thức là việc rất tự nhiên thì khi đó bài học mới có
hiệu quả.
Khi đánh giá kết quả và thành tích học tập của học sinh, khâu liên hệ thực
tiễn những vấn đề tự nhiên và kinh tế - xã hội tuy chưa phải là khâu tối ưu trong
phương pháp giảng dạy nhưng lại là khâu rất cần thiết giúp giáo viên đánh giá
chính xác hơn ưu điểm của từng học sinh, khắc phục lối học tủ, học vẹt làm giảm
vai trò tích cực, chủ động và tự luận của học sinh trong quá trình học tập. Từ đó
giúp giáo viên nắm được mức độ phân hóa về trình độ học lực của học sinh trong
lớp giúp giáo viên tự điều chỉnh và hoàn thiện phương pháp truyền giảng sao cho
6. www.google.com.vn
7. www.customs.gov.vn
19
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU.........................................................................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài.....................................................................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu:...........................................................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu:.....................................................................................................................2
2.1. Cơ sở lí luận của của sáng kiến:.............................................................................................................3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm..............................................................3
2.3.1. Các giải pháp...................................................................................................................................5
2.3.2. Các biện pháp để tổ chức thực hiện...............................................................................................8
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................................................19
20