MỤC LỤC
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Đối với giáo dục phổ thông hiện nay, mục tiêu không chỉ là tập trung phát
triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất năng lực công dân cho học sinh…
mà còn phải giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, liên hệ thực tế,
kết hợp học và hành với nhau để có thể phát triển khả năng sáng tạo, tự học,
khuyến khích học tập của học sinh.
Khác với nhiều môn học, việc cập nhật thông tin hay bổ sung tư liệu liên
quan đến nội dụng bài giảng và liên hệ thực tế… là một trong những yêu cầu cần
thiết đối với môn Địa lí ở trường phổ thông trung học. Trong đời sống xã hội
hiện nay, mỗi ngày có nhiều thay đổi, nhất là những vấn đề về kinh tế - xã hội,
nếu cứ tổ chức học tập cho các em theo các nội dung, các số liệu sách giáo khoa
đưa ra cách đây 10 năm thì chưa thể cập nhật hết các thông tin, tính thời sự của
vấn đề cần tiếp thu.
Qua thực tế nhiều năm đi dạy tôi nhận thấy: hiện nay có nhiều giáo viên
còn chưa quan tâm đến vấn đề cập nhật các kiến thức mới, kiến thức từ thực
tiễn, giảng dạy còn quá coi trọng, dập khuôn kiến thức từ sách giáo khoa (sgk).
Nhiều giáo viên khi tổ chức các hoạt động dạy - học còn thiên về cung cấp kiến
thức giáo khoa một cách thuần túy, giảng dạy chủ yếu theo lối “thông báo - tái
hiện” khiến cho tiết học trò nên nhàm chán. Đồng thời, việc tự tìm tòi, cập nhật
kiến thức mới của các em học sinh còn hạn chế, đặc biệt là đối với một trường
đóng ở địa bàn kinh tế khó khăn như trường THPT Thọ Xuân 4 chúng tôi. Phần
lớn các em đang còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, việc tìm tòi, khám
phá những kiến thức mới ngoài sách giáo khoa. Cho nên từ việc liên hệ thực tiễn
những vấn đề kinh tế - xã hội, những biến đổi của tự nhiên liên quan đến nội
dung bài giảng, giáo viên vừa khắc sâu kiến thức cho học sinh vừa tạo cơ hội và
về kinh tế của thế giới, của quốc gia, trong chương trình Địa lí 10 mà sách giáo
khoa chưa kịp cập nhật nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh, để học
sinh hiểu được sâu sắc hơn nội dung bài học.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu nội dung này, tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:
Phương pháp nghiên cứu xây dựng lí thuyết.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
Phương pháp quan sát.
Phương pháp thực nghiệm.
Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
1.5. Điểm mới của đề tài
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016 – 2017 được kế thừa và phát
triển trên cơ sở đề tài sáng kiến kinh nghiệm của hai năm học trước đó.
Năm học 2014 – 2015 tôi thực hiện SKKN: “Lồng ghép các hiện tượng
thực tiễn vào một số bài dạy Địa lí lớp 10 (phần tự nhiên) nhằm nâng cao hứng
thú học tập cho học sinh”.
Năm học 2015 – 2016 tôi thực hiện SKKN: “Vận dụng kiến thức thực tế
vào một số bài dạy Địa lí 11 (phần Địa lí khu vực và quốc gia) nhằm nâng cao
hứng thú học tập cho học sinh”
Năm học 2016 – 2017 tôi thực hiện SKKN: “Vận dụng kiến thức mới,
liên hệ thực tiễn vào một số bài dạy phần Địa lí Kinh tế - xã hội (Địa lí 10
THPT) nhằm nâng cao hiểu biết, tạo hứng thú học tập cho học sinh”.
Điểm kế thừa là ở phần cơ sở lí luận của đề tài
3
Điểm mới của đề tài năm nay:
- đã nêu ra được những số liệu mới, hình ảnh mới, video mới được cập nhật, tạo
ra sự hứng thú trong quá trình tìm hiểu bài học trong sgk.
- vận dụng kiến thức mới, liên hệ thực tiễn vào phần Địa lí kinh tế - xã hội lớp
kinh tế - xã hội chung – đây là một trong những nội dung khó, đại cương, là cơ
sở để hs học tốt kiến thức về kinh tế - xã hội trong chương trình Địa lí lớp 11 và
12. Tuy nhiên, nội dung chương trình sgk hiện nay chỉ cung cấp cho hs các kiến
thức cơ bản của các vấn đề, các số liệu trong sách giáo khoa có những nguồn
cách đây đã lâu không còn phù hợp với thực tế hiện nay, mà nhất là khi các vấn
đề về kinh tế đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Vì thế, để nâng cao hiệu quả
trong dạy học Địa lí Kinh tế - xã hội (Địa lí 10) cho hs, tôi đã vận dụng liên hệ
thực tế hiện nay qua các nguồn tư liệu (Internet, tivi, sách báo...) để cung cấp,
cập nhật những thông tin mới nhất cho học sinh, qua đó giúp các em hứng thú
hơn trong học tập và cũng nâng cao hiệu quả trong việc dạy học của bộ môn.
Đồng thời cũng giúp các em hs biết vận dụng các kiến thức của bài học với thực
tế cuộc sống, giúp các em áp dụng được kiến thức lý thuyết vào phục vụ đời
sống sinh hoạt hằng ngày của chính bản thân. Với cách này bài học sẽ trở nên
gần gũi, dễ hiểu với học sinh và tự nó sẽ trở nên hấp dẫn với học trò.
5
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
* Về phía giáo viên:
Hiện nay, nhiều giáo viên (Gv) đã và đang tích cực thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học mới như hoạt động
nhóm, kỹ thuật bể cá, kỹ thuật khăn trải bàn, KWL…. nhằm tạo hứng thú học
tập cho hs. Nhiều Gv cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy
học bằng cách sử dụng các video, các hình ảnh trực quan sinh động làm cho hs
thấy thích thú với tiết học hơn. Tuy nhiên nhiều gv chưa khéo léo khi sử dụng
giải pháp này dẫn đến tình trạng lạm dụng các thiết bị dạy học, biến tiết học trở
thành những giờ “xem phim” không mang lại hiệu quả giáo dục.
Vẫn còn nhiều gv chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng khi lên lớp.
Giáo án còn thiên về cung cấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi
trọng việc soạn và sử dụng bài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận
6
Thông thường khi bắt đầu dạy về phần địa lí kinh tế - xã hội lớp 10 tôi
thường làm các phiếu điều tra nhỏ đối với các lớp tôi dạy để nắm được trình độ
của từng hs, từng lớp, để từ đó có phương pháp dạy thích hợp. Kết quả khá bất
ngờ khi tôi điều tra về các loại cây trồng ở địa phương trước khi dạy về Địa lí
nông nghiệp. Nhiều em hs chỉ biết kể tên các loại cây, thậm chí còn không biết
phân biệt cây lương thực và cây hoa màu khác nhau ở điểm nào. Là 1 trường
đóng ở địa bàn nông thôn nên tôi thấy việc tiếp nhận kiến thức từ bên ngoài của
các em như vậy là rất hạn chế, nhất là kiến thức về phần Địa lí công nghiệp và
dịch vụ lại càng hạn chế hơn.
Khi được hỏi “Các em có thường hay xem tin tức thời sự không?” thì trên
95% các em HS được hỏi đều trả lời “không”, trong khi các em có thể bỏ nhiều
giờ đồng hồ để chơi game, lên facebook, zalo... thậm chí ngay cả việc nắm bắt
thông tin của địa phương các em cũng đang còn nhiều hạn chế.
Một số hs còn rất mơ hồ trong việc nắm bắt các kiến thức, việc nắm bắt
kiến thức bộ môn Địa lí của các em chỉ ở mức độ thấp đó là nắm các khái niệm,
quy luật, hiện tượng… một cách máy móc. Học sinh chưa biết vận dụng, chưa đi
sâu vào quá trình giải thích, giải quyết các vấn đề nên các em hay nhàm chán.
Các em mới chỉ hiểu và nắm được kiến thức SGK, còn phần mở rộng thì hạn chế
nhiều, đặc biệt là đối với những kiến thức kinh tế - xã hội lại liên tục thay đổi.
Đặc biệt, với các em hs lớp 10 là lớp học đầu cấp vì vậy đa số các em
chưa có định hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn
chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao hoặc thích gv nào
thì thích học môn đó. Mặt khác thực tế hiện nay tôi nhận thấy nhiều hs ở địa bàn
trường tôi đóng đang có biểu hiện mất đi động cơ học tập. Do sự nhận thức
không đầy đủ của bản thân học sinh và sự thiếu quan tâm của phụ huynh dẫn
đến tư tưởng chán học, bỏ học giữa chừng của một bộ phận không nhỏ hs đặc
biệt học sinh lớp 10 để vào Nam lập nghiệp hay đi làm công nhân.
10
25,0
10A3
46
12
26,1
22
47,8
12
26,1
10A4
41
10
24,4
20
48,8
11
26,8
10A5
43
8
18,6
19
44,2
16
37,2
10A6
48
9
18,8
giúp học sinh tiếp thu được những thông tin cần thiết về các vấn đề địa lí cần
học.
Bước 2. Xử lí thông tin: Thông qua một hệ thống câu hỏi, giáo viên hướng dẫn
học sinh căn cứ vào thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết.
Bước 3. Vận dụng, liên hệ: Dựa vào kết luận đã rút ra từ bài học, học sinh vận
dụng kiến thức mới, liên hệ kiến thức từ thực tiễn và vận dụng vào thực tiễn để
hiểu sâu bài hơn.
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu này tôi xin đưa ra một số giải pháp để
vận dụng kiến thức mới, liên hệ kiến thức thực tiễn trong quá trình giảng dạy
phần Địa lí kinh tế - xã hội, chương trình sgk 10 cơ bản.
* Phương pháp trần thuật:
Đây là phương pháp dùng lời. Sử dụng phương pháp này để mô tả sự vật,
hiện tượng của kinh tế, xã hội.
Ví dụ 1: Gv kể chuyện cho học sinh nghe về 1 số ấn tượng của giao thông vận
tải trên thế giới:
- Ở Hàn Quốc: Hệ thống taxi tại thủ đô Seoul có ba loại với màu: trắng, đen và
cam. Taxi bình dân có màu trắng và vàng nhưng những hãng taxi có màu vàng,
tài xế có khả năng nói tiếng Anh khá thành thạo, taxi màu đen là loại cao cấp,
chỗ ngồi rộng rãi, chất lượng phục vụ tốt. Người Hàn Quốc chờ xe bus bằng
cách xếp hàng trật tự. Khi xe tới, họ từ từ bước lên quẹt thẻ, trả phí rồi ngồi
đúng vị trí. Thanh niên luôn có ý thức nhường chỗ cho người già, trẻ em và đặc
biệt là phụ nữ mang thai.
- Ở Singapore: ấn tượng nhất ở đảo quốc sư tử cũng là hệ thống vận tải công
cộng với những ga tàu điện ngầm hiện đại, sạch sẽ, rộng mênh mông dưới lòng
đất.
- Ở Thái Lan: với điểm nổi bật hệ thống vận tải bằng xe tuk tuk. Ngoài ra, người
dân cũng có thể lựa chọn tàu điện, taxi, xe bus, xe ôm hoặc ôtô cá nhân. Điểm
đáng lưu ý ở thủ đô Bangkok và các thành phố lớn khác tại Thái Lan, taxi
thường sử dụng nhiên liệu là gas thay cho xăng nên chi phí đi lại khá rẻ.
8
Ví dụ 1: Tại sao nói Việt Nam đang trong thời kì cơ cấu “dân số vàng”?
Ví dụ 2: Tại sao Trung Quốc lại phải thay đổi chính sách dân số?
Ví dụ 3. Tại sao hầu hết các máy bay lại được sơn màu trắng
* Phương pháp động não:
Khái niệm: Động não là một kĩ thuật giúp cho người học trong một thời
gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề nào đó.
Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc nhóm.
Ví dụ 1: Tại sao hiện nay người ta chủ trương phát triển ngành công nghiệp
năng lượng sạch?
Ví dụ 2: Tại sao lại là Nhật Bản mà không phải Mỹ, hay một đất nước khác?
Yếu tố nào, kinh tế, chính trị hay điều gì đã đưa Nhật Bản trở thành cái tên gắn
liền với công nghệ điện tử tin học?
* Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan:
9
Các phương tiện trực quan như: Tranh ảnh, băng hình video, phim ảnh đó
là những phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy. Việc sử dụng các phương
tiện trực quan gây hứng thú và ấn tượng sâu sắc cho học sinh.
Ví dụ 1: khi dạy về ảnh hưởng của chính sách dân số tới tỉ suất sinh thô, gv cho
hs xem các ảnh sau và đặt câu hỏi: Hãy nêu suy nghĩa của em qua các hình ảnh
này?
Hình ảnh minh họa tình trạng mất cân bằng giới tính ở Việt Nam
Nguồn: Google.com
Một trong những vấn đề nan giải hiện nay của nước ta là tình trạng mất
cân bằng giới tính đáng báo động, đứng trước nguy cơ thừa hơn 4 triệu nam giới
vào năm 2050. Tình trạng này sẽ dẫn tới nhiều hệ lụy tiếp theo của xã hội, từ
đó tác động lên nhiều mặt của đời sống kinh tế.
Ví dụ 2. Gv cho hs xem video Đô thị hóa và những tác động (Video đính kèm)
Qua bảng số liệu hãy rút ra nhận xét về sự thay đổi dân cư Việt Nam trong giai
đoạn 1990 – 2016.
Ví dụ 2. Dân số Việt Nam tính đến ngày 31/12/2016 là 97,2 triệu người. Trong
đó dân số nam là 45,75 triệu người, dân số nữ là 46,95 triệu người. Hãy cho biết
tỉ số giới tính và tỉ lệ giới nam so với giới nữ lần lượt là
A. 49,4% và 87,4%
B. 49,4% và 97,4%
C. 50,6% và 87,4%
D. 50,6% và 97,4%
2.3.2. Các biện pháp để tổ chức thực hiện
a. Vận dụng kiến thức thực tiễn thay cho lời giới thiệu bài giảng mới.
Tiết học có gây sự chú của học sinh hay không nhờ vào người giáo viên
rất nhiều. Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta đặt ra một tình
10
huống thực tiễn và yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải thích qua bài học sẽ
cuốn hút được sự chú ý của học sinh trong tiết dạy.
Cách 1: Vận dụng kiến thức thực tiễn thay cho lời giới thiệu bài mới bằng
câu hỏi nêu vấn đề của GV
Ví dụ 1. Khi dạy về Địa lí ngành chăn nuôi, Gv vận dụng kiến thức mới đặt ra
câu hỏi: Em có biết, năm 2016 ở nước ta đã xảy ra hàng loạt các sự cố môi
trường, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành thủy sản của nước ta hay
không? Em hãy kể tên một số sự cố
môi
trường
đó.
Trả lời: Năm 2016 ở Việt Nam đã xảy
ra hàng loạt
các sự cố môi trường tiêu biểu như: sự
biến của
thủyngành
sản… thủy
đe dọa
Nguồn: Google.com
tiếp đến đời sống của người dân.
Ví dụ 2. Khi dạy về phần Địa lí các ngành công nghiệp, Gv vận dụng kiến thức
mới đặt ra câu hỏi: Công nghiệp điện của Việt Nam được sản xuất từ những
nguồn năng lượng nào?
Trả lời:
Ngoài thủy điện là ngành truyền thống, hiện nay Việt Nam đang rất thành
công trong việc khai thác điện từ than, dầu mỏ, khí tự nhiên, mới đây nước ta đã
đi vào hoạt động nhà mày điện chạy bằng gió (Bình Thuận, Bạc Liêu). Đặc biệt
từ đầu năm 2017, Việt Nam đã cho ra đời nhà máy điện rác (Hà Nội). Việt Nam
còn có các dự án xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Ninh Thuận, dự án điện
mặt trời ở Đắc Lăk. Ngoài ra, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm xây dựng
nhà máy điện sử dụng rơm rạ từ các nước In- đô – nê – xia, Thái Lan.
Cách 2: Vận dụng kiến thức thực tiễn thay cho lời giới thiệu bài mới bằng
tranh ảnh, video minh họa
Gv sử dụng các tranh ảnh, video thực tế để minh họa thay cho lời giới
thiệu bài học
Ví dụ 1. Khi dạy bài 32. Địa lí các ngành công nghiệp (tiết 2) GV giới thiệu bài
mới bằng cách đưa ra một số hình ảnh và nêu câu hỏi: Những hình ảnh này cho
ta biết đến các ngành công nghiệp nào?
11
Nguồn: Google.com
Ví dụ 2. Gv cho hs xem hình ảnh về lịch sử phát triển ngành giao thông vận tải
Gv: Thiệt hại trong năm 2016 đã làm cho 258,3 nghìn ha lúa, 113,2 nghìn ha hoa
màu và 49,8 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 52,1 nghìn con
gia súc, 1.679,5 nghìn gia cầm và hơn 1 nghìn tấn thủy sản các loại bị chết.
Không chỉ thiên tai mà còn có nhiều nhân tố có ảnh hưởng tới phát triển và phân
bố nông nghiệp cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực.
c. Vận dụng kiến thức mới, liên hệ các vấn đề thực tiễn trong quá trình dạy học
bài mới
Đây là biện pháp tổ chức quan trọng nhất, cần được áp dụng thường
xuyên liên tục trong thực tiễn dạy học. Bằng việc sử dụng các phương pháp và
hình thức dạy học tích cực, GV vận dụng liên hệ các vấn đề kinh tế vào trong
nội dung bài học mà chương trình SGK chưa kịp cập nhật. Thông qua việc liên
hệ giúp HS hiểu được những biến động về tình hình kinh tế, các vấn đề nóng,
quan trọng của thế giới, từ đó các em có thể vận dụng vào tình hình kinh tế của
Việt Nam cũng như của địa phương.
Ví dụ 1. Trong bài 23. Cơ cấu dân số, sau khi dạy về các kiểu tháp dân số cơ
bản, Hv cho hs xem các hình ảnh sau:
Nguồn: Google.com
Gv: Tháp dân số của Việt Nam năm 1989 và 2009 thuộc kiểu tháp dân số nào?
Đến năm 2016 tháp dân số của Việt Nam thuộc kiểu tháp nào?
Trả lời:
- Năm 1989 tháp dân số nước ta thuộc kiểu mở rộng
- Năm 2009, tháp dân số nước ta thuộc kiểu thu hẹp, đến năm 2016 tháp tiếp tục
thu hẹp hơn. Với tốc độ như vậy, tháp dân số của Việt Nam nhanh chóng tiến tới
tháp ổn định.
Ví dụ 2. khi nói về ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế - xã hội tới sự phát triển
và phân bố công nghiệp trong bài 27. Vai trò và đặc điểm, các nhân tố ảnh
hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp. Gv đưa ra câu hỏi: Tại sao các
loại nông sản của nước ta thường xuyên xảy ra tình trạng “ được mùa thì mất
Cụ thể, đến năm 2025, ngành công nghiệp
Nguồn: Google.com
môi trường sẽ trở thành một ngành
kinh tế có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, cơ bản đáp ứng nhu cầu về
bảo vệ môi trường trong nước; từng bước tiến tới xuất khẩu các công nghệ, thiết
bị, dịch vụ và sản phẩm bảo vệ môi trường có lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra còn
nhiều ngành công nghiệp khác được ưu tiên phát triển như ngành công nghiệp
văn hóa, công nghiệp điện tử linhh kiện…
Ví dụ 4. Trong bài 32. Địa lí các ngành công nghiệp, khi dạy về vai trò của dầu
mỏ, Gv đặt câu hỏi: “Ở nước ta, dầu mỏ được khai thác chủ yếu làm gì?”
Hs có thể trả lời: - dầu mỏ là “vàng đen” của nhiều quốc gia, ở nước ta dầu mỏ
chủ yếu dùng để sản xuất dầu hỏa, diezen và xăng nhiên liệu.
Gv: Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại,
dùng để sản xuất điện và vận hành tất cả các phương tiện giao thông vận tải.
Ngoài ra, dầu cũng được sử dụng trong công nghiệp hóa dầu để sản xuất
các chất dẻo và nhiều sản phẩm khác như dược phẩm, mỹ phẩm... Gv cho hs
xem một số hình ảnh về ứng dụng của dầu mỏ
14
Thuốc Aspirin
Sáp màu
Kẹo cao su
Quần áo chống nhăn
Các tấm pin mặt trời
Mĩ phẩm
cập nhật kiến thức mới cho Hs về xu hướng phát mới của ngành thương mại.
Hoạt động buôn bán ngày nay không nhất thiết phải đi ra chợ, ra cửa hàng mà
chỉ cần 1 chiếc điện thoại hoặc chiếc máy tính được kết nối Internet cũng có thể
mua bán được hàng hóa, người ta gọi đây là loại hình thương mại điện tử.
Nguồn: Google.com
d. Vận dụng kiến thức thực tế thông qua các bài tập kĩ năng
16
Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại
lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích. Thông qua các bài tập tính toán,
vẽ và nhận xét biểu đồ hs có thể lĩnh hội dược những kiến thức mới, những số
liệu về kinh tế - xã hội của thế giới mà SGK chưa kịp cập nhật. Việc vận dụng
này không chỉ được áp dụng trong mỗi bài học mà còn có thể thực hiện khi cho
Hs ôn tập hoặc khi làm các bài kiểm tra.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 29. Địa lí ngành chăn nuôi , Gv cho bảng số liệu sau:
ĐÀN TRÂU, BÒ VÀ LỢN CỦA NƯỚC TA, GIAI ĐOẠN 1995 – 2016
Đơn vị: Triệu con
Năm
1995
2005
2010
2013
2016
Trâu
2,96
2,92
2,87
2,55
giai đoạn 2006 – 2016.
Nguồn: Tổng cục hải quan.
17
Qua biểu đồ đã cho em hãy lựa chọn đáp án đúng nhất thể hiện kim ngạch xuất
nhập khẩu hàng hóa của nước ta giai đoạn trên
A. Giá trị xuất khẩu và nhập khẩu tăng nhanh liên tục, cán cân thương mại luôn
luôn dương.
B. Giá trị xuất khẩu tăng nhanh hơn giá trị nhập khẩu, cán cân thương mại luôn
luôn âm.
C. Giá trị nhập khẩu tăng nhanh hơn giá trị xuất khẩu, cán cân thương mại luôn
luôn âm.
D. Giá trị xuất khẩu và nhập khẩu tăng nhanh nhưng không liên tục, xuất khẩu
tăng nhanh hơn giá trị nhập khẩu.
e. Vận dụng liên hệ các kiến thức thực tiễn sau khi kết thúc bài học
Để khắc sâu kiến thức hoặc đánh giá được khả năng tiếp thu bài học cũng
như mức độ hiểu bài của học sinh tới đâu thì giáo viên thường dành một lượng
thời gian nhất định để “củng cố”, có thể là “củng cố” từng phần hoặc “củng cố”
toàn bài. Có rất nhiều cách khác nhau (sơ đồ phân nhánh, sơ đồ tư duy, câu hỏi
trắc nghiệm, trò chơi ô chữ…) giúp giáo viên làm được việc này, trong đó giải
pháp sử dụng các câu hỏi vận dụng kiến thức được học vào thực tế đời sống để
“củng cố” cho bài học là một giải pháp hay, lôi cuốn được sự tập trung suy nghĩ
của học sinh, qua đó giáo viên sẽ khắc sâu được kiến thức bài học đồng thời
nắm bắt được khả năng nhận thức của học sinh.
Ví dụ 1. Gv cho hs chơi trò chơi ô chữ để củng cố bài học, vừa tạo sự hứng thú,
hấp dẫn cho hs, vừa có thể cập nhật kiến thức mới, liên hệ thực tiễn cho hs. Trò
chơi của tôi được xây dựng dựa trên trò chơi vượt chướng ngại vật của chương
trình Đường lên đỉnh Ôlympia. Tôi chia lớp thành 3 đội cùng trả lời 7 câu hỏi
phải làm gì?
gợi ý trả lời: Việt Nam cần phải nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản
xuất nông nghiệp, trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, sử dụng hợp lý
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ
môi trường sinh thái, nhằm thỏa mãn các nhu cầu về lương thực, thực phẩm,
nguyên liệu cho sản xuất của xã hội, cả trong hiện tại và tương lai.
Ví dụ 3. Sau khi học xong bài 33. Một số hình thức chủ yếu của tổ chức lãnh
thổ công nghiệp, gv đặt ra câu hỏi trắc nghiệm: Đến hết năm 2016 Việt Nam
chúng ta có bao nhiêu khu công nghiệp tập trung?
A. 323 khu công nghiệp.
B. 324 khu công nghiệp.
C. 325 khu công nghiệp.
D. 326 khu công nghiệp.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Các giải pháp mà tôi đưa ra có tính thực tế cao, dễ thực hiện, không chỉ áp
dụng cho học sinh khối 10 khi dạy về phần Địa lí Kinh tế - xã hội mà có thể thực
hiện cho toàn chương trình Địa lí lớp 10, tiến tới thực hiện đồng bộ cho học sinh
khối 11 và 12.
Thực tế từ nhận xét, đánh giá của các đồng nghiệp sau khi dự giờ các tiết
dạy của tôi nhận thấy: bài học lôi cuốn, sống động, kết hợp thực tiễn sinh động,
mới, gần gũi nhưng vẫn giữ được các kiến thức, kĩ năng cơ bản của sgk. Đa số
các em đều hiểu bài, hứng thú trong quá trình học tập và ý thức được tầm quan
trọng của việc vận dụng kiến thức bài học vào giải thích các sự vật, hiện tượng ở
19
cuộc sống hàng ngày, qua đó học sinh dễ dàng tiếp thu bài học và ghi nhớ kiến
thức được lâu hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian ôn tập góp phần nâng cao chất
lượng môn học.
19,5
(TN)
10A5
43
12
27,9 17 39,5
8
18,6
6
14,0
(ĐC)
TN: Thực nghiệm ĐC: Đối chứng
Như vậy qua bảng số liệu trên ta thấy: chất lượng bộ môn Địa lí ở lớp 10
A4 và lớp 10A5 có sự khác biệt rõ rệt. Cụ thể như sau:
- Tỉ lệ học sinh có trung bình môn từ trung bình trở lên ở lớp 10A4 cao hơn lớp
10A5: 92,7% so với 72,1%, chênh lệch càng thể hiện rõ hơn ở tỉ lệ học sinh khá,
giỏi.
- Tỉ lệ học sinh có trung bình môn đạt dưới điểm trung bình ở lớp 10A4 ít hơn
rất nhiều so với lớp 10A5: 7,2% so với 27,9%.
Như vậy, khi đưa các vấn đề từ thực tế vào bài dạy thì khả năng tiếp thu và nhớ
bài học của học sinh lâu hơn. Chất lượng một tiết dạy được nâng lên, học sinh
hứng thú hơn, việc vận dụng kiến thức vào để giải các bài tập trở nên dễ dàng
hơn. Ngoài mục đích giúp các em học sinh nắm bắt được nội dung học tập còn
rèn luyện cho các em kĩ năng tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, kĩ năng vận dụng,
kĩ năng làm toán, kĩ năng liên hệ thực tế.
Đồng thời sáng kiến đã góp phần nâng cao chất lượng của bộ môn Địa lí
nói riêng và chất lượng toàn diện của nhà trường nói chung, thúc đẩy sự tiến bộ
của học sinh và sự phát triển bền vững của nhà trường.
20
các em bước vào mỗi tiết học cảm thấy nhẹ nhàng, các em cảm thấy việc tự
mình làm chủ, lĩnh hội kiến thức là việc rất tự nhiên thì khi đó bài học mới có
hiệu quả. Đồng thới, mỗi giáo viên phải kiên trì, đầu tư nhiều tâm, sức để tìm
hiểu các vấn đề sinh học, vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học, để có bài
giảng thu hút được học sinh.
Khi đánh giá kết quả và thành tích học tập của học sinh, khâu liên hệ thực
tiễn những vấn đề tự nhiên và kinh tế - xã hội tuy chưa phải là khâu tối ưu trong
phương pháp giảng dạy nhưng lại là khâu rất cần thiết giúp giáo viên đánh giá
chính xác hơn ưu điểm của từng học sinh, khắc phục lối học tủ, học vẹt làm
giảm vai trò tích cực, chủ động và tự luận của học sinh trong quá trình học tập.
Từ đó giúp giáo viên nắm được mức độ phân hóa về trình độ học lực của học
sinh trong lớp giúp giáo viên tự điều chỉnh và hoàn thiện phương pháp truyền
giảng sao cho phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh nhằm nâng cao khả
năng tái hiện và vận dụng kiến thức của các em học sinh sau mỗi bài học. Kiến
thức thực tiễn không chỉ được vận dụng trong mỗi tiết học của gv mà còn là bài
tập về nhà, câu hỏi kiểm tra bài cũ giành cho hs.
Để phục vụ tốt hơn cho việc dạy học và đồng bộ về kiến thức, số liệu mới
thì mỗi nhà trường, Sở GD & ĐT cần trang bị cho thêm cho giáo viên những tài
22
liệu tham khảo cần thiết để bổ sung, hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình giảng
dạy.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Thanh Hóa, Ngày 15 tháng 05 năm 2017
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác
Người viết sáng kiến
Năm học đánh
Tên
đề
tài
SKKN
xếp
loại
TT
(Phòng, Sở,
giá xếp loại
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
1.
Lồng ghép các hiện tượng thực SỞ GD&ĐT
C
2014 - 2015
tiễn vào một số bài dạy Địa lí
lớp 10 (phần tự nhiên) nhằm
nâng cao hứng thú học tập cho
học sinh
2.
Vận dụng kiến thức thực tế vào SỞ GD&ĐT
một số bài dạy Địa lí 11 (phần
Địa lí khu vực và quốc gia)
nhằm nâng cao hứng thú học
tập cho học sinh