SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NHƯ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LỒNG GHÉP CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TIỄN VÀO
MỘT SỐ BÀI DẠY HÓA HỌC LỚP 12 NHẰM TẠO
HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
\
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Hóa học
1
MỤC LỤC
PHẦN A: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN B: PHẦN NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng
3. Các biện pháp và tổ chức thực hiện
4. Hiệu quả của SKKN
PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
Môn Hóa học ở trường THPT giữ một vai trò quan trọng trong việc hình
thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn học là giúp học sinh
hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về
thế giới con người thông qua các bài học, giờ thực hành của Hóa học. Tuy nhiên,
đối với môn Hoá học: Các khái niệm, định luật, hiện tượng, bản chất Hoá học
nhiều khi rất trừu tượng, khó hiểu, khô cứng làm học sinh khó tiếp thu, dễ nhàm
chán, đặc biệt với những học sinh có tư duy không tốt sẽ có xu hướng dẫn đến sợ
bộ môn này. Xuất phát từ thực tế đó và với kinh nghiệm giảng dạy bộ môn Hoá
học, Tôi nhận thấy để nâng cao hứng thú học bộ môn Hoá của Học sinh, từ đó
dần nâng cao chất lượng bộ môn Hoá ở trường phổ thông hiện nay, người giáo
viên ngoài việc phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác
thêm các hiện tượng hoá học thực tiễn trong đời sống đưa vào bài giảng bằng
nhiều hình thức khác nhau. Có những vấn đề hoá học có thể giúp học sinh giải
thích những hiện tượng trong tự nhiên và ứng dụng trong thực tiễn đời sống
thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán,
xa lạ, lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học;
làm cho hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc thù và phức tạp. Từ những lí do
đó tôi chọn đề tài “Lồng ghép các hiện tượng thực tiễn vào một số bài dạy
Hoá học lớp 12 nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lựa chọn đề tài “Lồng ghép các hiện tượng thực tiễn vào một
số bài dạy Hoá học lớp 12 nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh” và phương
pháp sử dụng chúng theo hướng dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực nhận
thức tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh, góp phần đổi mới phương pháp đạy
học ở trường phổ thông
3. Đối tượng nghiên cứu
Lồng ghép các hiện tượng thực tiễn vào một số bài dạy Hoá học lớp 12
nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình dạy học, dựa vào sự hướng dẫn của giáo viên học sinh
niệm, định luật… một cách máy móc. Học sinh chưa biết và vận dụng… chưa đi
sâu vào quá trình giải thích, giải quyết các vấn đề nên các em hay nhàm chán.
- Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong môn học khó, nếu không có
những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho
học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận.
- Nhà trường chưa có phòng thực hành bộ môn nên các tiết thực hành chỉ dừng
lại ở mức độ thí nghiệm biểu diễn của giáo viên vì vậy không tạo được mục tiêu
thúc đẩy ý thức học tập cũng như sự yêu thích bộ môn cho học sinh.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học gặp nhiều khó khăn, do đặc trưng của bộ
môn, đặc thù học sinh vùng miền.
- Phần lớn HS thiếu hụt kiến thức nền cơ bản của THCS.
Để xem Học sinh có thích học môn Hoá hay không, Tôi đặt ra câu hỏi: Em có
thích học môn Hoá không?
4
Bình
Không thích
họcTB
SL SL Điểm Rất thích
Điểm
Điểm
khá
Điểm giỏi
thường
học
học
sinh
học
51,2
13
23,5
12A9 39
6
15,4 23
59,0 10 25,6
12A11 33 33 3
9,0 1830,3 54,5 1511 45,5
33,3 8 1 24,2
3,2
10
3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện:
Trong dạy và học Hoá học, việc đưa các câu hỏi thực tiễn vào trong giờ
học sẽ giúp hoá học gần gũi với học sinh, tạo hứng thú đồng thời giúp các em
hiểu biết hơn về cuộc sống. Để thực hiện được, người giáo viên cần nghiên cứu
kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề
thực tế liên quan phù hợp với từng người học. Đôi lúc cần quan tâm đến tính
cách sở thích của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng phát huy
tính tích cực chủ động của học sinh, phải mang tính hợp lý và hài hoà; đôi lúc có
khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn hoá học. Tuy
nhiên, thời gian giành cho vấn đề này là không nhiều, “nó như thứ gia vị trong
đời sống không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn
uống”.
3.1. Các giải pháp
3.1.1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường lồng
ghép vào cuối bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào
những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt
gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng
đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo.
năng ứng dụng hoá học vào đời sống thực tiễn.
3.1.7. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó
liên hệ với nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật. Làm
cho học sinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập
theo tính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực
tiễn hàng ngày.
3.2. Các biện pháp để tổ chức thực hiện
Trong quá trình thực hiện tôi đã lựa chọn những nội dung, hiện tượng
trong thực tế có liên quan đến các bài học trong chương trình hóa học 12 CB và
phân bố chúng vào cụ thể từng bài học như sau:
Bài 2 : LIPIT
Ví dụ 1: Tại sao không nên tái sử dụng dầu mỡ đã qua rán ở nhiệt độ cao hoặc
khi mỡ, dầu không còn trong, đã sử dụng nhiều lần, có màu đen, mùi khét.
Giải thích: Khi đun ở nhiệt độ
không quá 1020C, lipit không có biến đổi
đáng kể ngoài hoá lỏng. Khi đun lâu ở
nhiệt độ cao, các axit béo không no sẽ bị
oxi hoá làm mất tác dụng có ích với cơ thể.
Các liên kết kép trong cấu trúc của chúng
bị bẻ gãy tạo thành sản phẩm trung gian
như peoxit, anđehit có hại. Vì vậy, cần lưu
ý cách sử dụng sao cho an toàn và hiệu
quả, nhất là không nên sử dụng dầu chiên
đi chiên lại nhiều lần. Bên cạnh hương vị
và sự hấp dẫn tiêu chí tốt cho sức khỏe
cũng rất quan trọng.
Ví dụ 2.
a) Chất béo nào dễ bị ôi hơn: dầu thực vật hay mỡ động vật? Vì sao?
b) Các dầu thực vật bán trên thị trường không bị ôi trong thời hạn bảo quản?
Vì sao?
dụng dầu mỡ đúng cách. Câu hỏi này giáo viên có thể đặt ra khi củng cố bài học.
Bài 5 : GLUCOZƠ
Ví dụ : Khi muối dưa, người ta thường chọn dưa già hoặc phơi héo và cho thêm
ít đường, nén dưa ngập trong nước. Hãy giải thích tại sao?
Giải thích: Người ta thường cho thêm đường, chọn rau già hoặc rau được
phơi héo sẽ có hàm lượng đường cao hơn, do đó quá trình làm dưa chua nhanh
hơn (đường chuyển hoá thành axit). Dưa được nén ngập trong nước vì quá trình
lên men làm chua dưa là loại vi khuẩn yếm khí.
Áp dụng : Đây là một câu hỏi có ý nghĩa thực tiễn, thấy rõ trong đời sống.
Vấn đề này giáo viên có thể xen vào sau khi dạy phần tính chất vật lý của
glucozơ.
Bài 6 : SACCAROZƠ – TINH BỘT – XENLULOZƠ
Ví dụ 1: Khi ăn sắn bị ngộ độc, người ta thường giải độc bằng nước đường.
Bằng kiến thức hoá học, hãy giải thích cách làm trên.
Giải thích : Khi ta uống nước đường (đường saccarorơ) vào dạ dày sẽ bị
thuỷ phân cho đường glucozơ. Sắn chứa axit HCN là chất gây độc. Khi HCN
gặp glucozơ sẽ có phản ứng xảy ra ở nhóm chức anđehit, sau đó tạo ra hợp chất
dễ thuỷ phân giải phóng NH3. Như vậy HCN đã chuyển sang hợp chất không
độc theo phương trình:
HOCH2 ( CHOH ) 4 CHO + HCN → HOCH2 ( CHOH ) 4 C − CN
OH
HOCH2 ( CHOH ) 4 C − CN + 2H2O → OHCH2 ( CHOH ) 5 COOH + NH3 ↑
OH
7
Áp dụng : Vấn đề này giáo viên sẽ đặt ra khi dạy xong phần saccarozơ.
Ví dụ 2: Nói về việc ăn cơm, các cụ xưa có câu: “Nhai kĩ no lâu”. Bằng những
hiểu biết của mình, em hãy giải thích câu nói trên?
của
cá.
RNH2 + HCl → RNH3Cl
Áp dụng : Giáo viên có thể đặt câu
hỏi này ở phần củng cố bài học.
Canh chua cá lóc
Bài 11: PEPTIT VÀ PROTEIN
8
Ví dụ 1: Sữa đậu nành rất bổ dưỡng
cho sức khoẻ nhưng cũng có thể trở
nên vô dụng, thậm chí gây độc nếu
dùng không đúng cách.
Những lưu ý khi sử dụng sữa đậu
nành:
a) Trước hoặc sau khi uống sữa đậu
nành 1 giờ không nên ăn cam, quýt.
b) Không nên uống sữa đậu nành khi
đói, tốt nhất là sau bữa sáng 1-2 giờ.
Hãy giải thích tại sao lại có những lưu
ý như vậy.
Giải thích: Trước khi uống sữa đậu nành 1 giờ không nên ăn cam, quýt vì
axit và vitamin trong cam, quýt tác dụng lên protein trong sữa đậu nành kết
thành khối ở ruột non làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu hoá gây đầy bụng, đau
bụng.
Ví dụ 2: a) Tại sao các ion kim loại nặng như Pb 2+, Hg2+… lại ảnh hưởng đến
là sự lão hoá polime.
Áp dụng : việc ngâm quần áo bằng len trong xà phòng làm quần áo nhanh
hỏng không phải ai cũng biết điều này. Với câu hỏi thực tế này sẽ làm cho các
em biết cách gìn giữ quần áo với chất liệu bằng len được tốt hơn. Câu hỏi này
giáo viên có thể đặt khi học xong phần tơ.
Bài 18: TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI - DÃY ĐIỆN HÓA KIM LOẠI
Ví dụ 1 : Tại sao nhôm lại được dùng làm dây dẫn điện cao thế ? Còn dây đồng
lại được dùng làm dây dẫn điện trong nhà.
Giải thích: Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng
riêng của nhôm là 2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 9,1).
Do đó, nếu như dùng dây đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc
xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện. Việc làm đó không có
lợi về mặt kinh tế. Còn trong nhà việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh
hưởng lớn lắm. Vì vậy, ở trong nhà thì ta dùng dây dẫn điện bằng đồng.
Áp dụng : Giải quyết những thắc mắc cho nhiểu em học sinh. Giáo viên có
thể đặt ra khi củng cố bài học.
Bài 20: ĂN MÒN KIM LOẠI
Ví dụ : Giải thích tại sao các cơ sở đóng tàu thường gắn một miếng kim loại
bằng Zn ở phía sau đuôi tàu ?
Giải thích: Thân tàu biển được chế tạo bằng gang, thép. Gang thép là hợp
kim của sắt, cacbon và một số nguyên tố khác. Đi lại trên biển thân tàu tiếp xúc
thường xuyên với nước biển và dung dịch chất điện ly nên sắt bị ăn mòn và bị hư
hỏng.
Để bảo vệ thân tàu thường áp dụng biện pháp là sơn để ngăn không cho
thân tàu tiếp xúc trực tiếp với nước biển. Nhưng ở phía đuôi tàu do tác động của
chân vịt nước bị khuấy động mãnh liệt nên biện pháp sơn là chưa đủ. Do đó phải
gắn tấm kẽm vào đuôi tàu.
Khi đó sẽ xảy ra quá trình ăn mòn điện hóa, kẽm là kim loại hoạt động sẽ
bị ăn mòn, lúc này sắt được bảo vệ.
Sau một thời gian miếng kẽm bị ăn mòn thì sẽ được thay thế theo định kỳ.
gây khó khăn cho việc thẩm thấu vào đậu thịt và bị đông cứng lại không tốt cho
đường tiêu hóa.
Áp dụng: Ví dụ 2 và ví dụ 3 có thể có học sinh biết nhưng có học sinh
không để ý và nếu được biết đến thì các em có thể tiến hành thí nghiệm ngay
trong mỗi buổi nấu ăn, góp phần tạo thêm kinh nghiệm cho học sinh, rất thiết
thực. Có thể đưa hiện tượng sau khi hoc xong bài nhưng hợp chất quan trọng của
natri.
Bài 26: KIM LOẠI KIỀM THỔ VÀ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA
KIM LOẠI KIỀM THỔ
Ví dụ 1 : Vì sao khi bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ?
Giải thích : Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic
(HCOOH). Vôi là chất bazo nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
2HCOOH + Ca(OH)2 → (HCOO)2Ca + 2H2O
Áp dụng :Câu hỏi này giáo viên sẽ hỏi sau khi học xong phần
canxihiđroxit
Ví dụ 2 : Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ ở vườn quốc gia Phong Nha Kẽ Bàng với những hình dạng phong phú đa dạng được hình thành như thế nào?
11
( Hang động và thạch nhũ ở phong nha kẻ bàng)
Giải thích: Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO 3. Khi trời
mưa trong không khí có CO 2 tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi.
Những giọt mưa rơi xuống sẽ bào mòn đá thành những hình dạng đa dạng:
CaCO3 + CO2 + H2O <-> Ca(HCO3)2
Theo thời gian tạo thành các hang động. Khi nước có chứa Ca(HCO 3)2 ở đá thay
đổi về nhiệt độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng:
Ca(HCO3)2 <-> CaCO3 + CO2 + H2O
Như vậy lớp CaCO3 dần dần lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành những hình
thù đa dạng.
Al2(SO4)3 + 3H2O → 2Al(OH)3 + 3H2SO4
Chính những hạt Al(OH)3 kết tủa dạng keo lơ lửng ở trong nước này đã
kết dính với các hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng
hơn và lắng xuống. Vì vậy, mà nước trở nên trong hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi dạy phần ứng dụng của
“Muối nhôm” (Tiết 51-52 lớp 12).Đây là một ứng dụng thông dụng của phèn
trong cuộc sống. Và cũng là câu trả lời cho câu ca dao
“Anh đứng bắc cầu làm cao
Phèn chua em đánh nước nào cũng trong”.
Bài 32 : HỢP CHẤT CỦA SẮT
Ví dụ : Tại sao những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và dần dần
đồ vật không dùng được ?
(Vật dụng bằng sắt bị gỉ)
Giải thích: Trong không khí có oxi, hơi nước và các chất khác. Do tác
dụng nhiệt độ cao của ánh nắng mặt trời, hơi nước, oxi và nước mưa (thường
hòa tan khí CO2 tạo môi trường axit yếu) có phản ứng với sắt tạo thành một số
hợp chất của sắt gọi là gỉ sắt. Gỉ sắt không còn tính cứng, ánh kim, dẻo của sắt
mà xốp, giòn nên làm đồ vật bị hỏng. Do đó để bảo vệ đồ dùng bằng sắt, người
13
ta thường phủ lên đồ vật bằng sắt một lớp sơn, kim loại khác để ngăn không cho
sắt tiếp xúc với nước, oxi không khí và một số chất khác trong môi trường.
Áp dụng : Giáo viên dùng câu hỏi trên để đặt vấn đề vào bài “ Sắt và hợp
chất của sắt”.
Bài 33 : HỢP KIM CỦA SẮT
Ví dụ : Chảo , môi, dao đều được làm từ sắt. Vì sao chảo lại giòn? môi lại dẻo?
còn dao lại sắc ?
Giải thích: Chảo xào rau, môi và dao đều làm từ sắt. Thế nhưng loại sắt để
đổi màu sắc của dụng cụ phân tích mà cảnh sát có thể thông báo cho tài xế biết
mức độ uống rượu của minh.
Áp dụng: Tai nạn giao thông luôn là nỗi ám ảnh của mọi người. Một trong
những nguyên nhân gây ra tai nạn chính là rượu. Nhằm giúp học sinh hiểu biết
về cách nhận biết rượu trong cơ thể một cách nhanh và chính xác của cảnh sát
giao thông, giáo viên nên đưa vấn đề này sau khi học xong phần “crom VI oxit”.
Bài 45: HÓA HỌC VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
Ví dụ 1 : Theo em tình trạng sử dụng túi nilon của chúng ta hiện nay như thế
nào ? Nếu sử dụng không hợp lý thì chúng có tác hại gì? chúng ta phải làm gì
để giảm tác hại của nó?
(Ô nhiễm môi trường do rác thải túi nilon gây ra)
Giải thích: Túi nilon gây tác hại ngay từ khâu sản xuất bởi vì việc sản
xuất túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, và các chất
phụ gia chủ yếu được sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại nặng, phẩm màu… là
những chất cực kỳ nguy hiểm tới sức khoẻ và môi trường sống của con người,
do đó trong quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính,
thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu.
Theo các nhà khoa học, túi nilon được làm từ những chất liệu khó phân
hủy, khi thải ra môi trường phải mất hàng trăm năm đến hàng nghìn năm mới có
thể phân hoàn toàn. Sự tồn tại của nó trong môi trường sẽ ảnh hưởng nghiêm
15
trọng tới đất và nước bởi túi nilon lẫn vào trong đất sẽ ngăn cản oxi đi qua đất,
gây xói mòn đất, làm cho đất bạc màu, không tơi xốp, kém chất dinh dưỡng, từ
đó làm cho cây trồng chậm tăng trưởng. Nghiêm trọng hơn các nhà khoa học còn
phát hiện ra rằng từ đất và nước bị ô nhiễm bởi túi nilon sẽ ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp tới sức khỏe con người. Thực tế nhiều loại túi nilon được làm từ dầu
mỏ nguyên chất khi chôn lấp chúng dưới đất sẽ ảnh hưởng tới môi trường đất và
SL SL
%
SL% % SLSL %% SLSL % %
12A6
35,1 121 46,0
2,7
12A6 37 37 2
75,4 2113,5 56,8 1815 40,5
12A9
25,6 9 1 23,5
2,56
12A9 39 39 3
87,74 2515,3 64,1 2210 51,2
12A11
3,0 1930,3 57,5 1511 45,5
33,3 6 2 24,2
6,1
12A11 33 33 1
12
So
sánh giữa hai kết quả này ta thấy số lượng học sinh thích học bộ môn tăng và
chất lượng học sinh cũng tăng lên. Như vậy, khi đưa hiện tượng thực tế vào bài
dạy khả năng tiếp thu và nhớ bài học của học sinh lâu hơn. Chất lượng một tiết
dạy được nâng lên, học sinh hứng thú hơn, việc vận dụng kiến thức vào để giải
các bài tập trở nên dễ dàng hơn.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Như vậy đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay là hướng tới học tập
chủ động, tích cực tự tìm tòi, chống thói quen học tập thụ động. Các phương
pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá, hoạt động nhận thức
Thanh Hóa,ngày 30 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do mình
viết, không sao chép của người khác.
Người viết
Nguyễn Thị Thúy
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. sách giáo khoa Hoá học 12, Nhà xuất bản Giáo Dục.
2. sách giáo viên hoá học 12, Nhà xuất bản Giáo dục.
3. Nguyễn Xuân Trường, 2006, 385 câu hỏi và đáp về hoá học với đời
sống, Nhà xuất bản giáo dục, 136 trang.
4. Từ Văn Mặc, Từ Thu Hằng, 2001, Bộ sách tri thức tuổi hoa niên thế
kỉ XXI hoá học, Nhà xuất bản văn hoá thông tin, 200 trang
5. Từ Văn Mặc, Trần Thị Ái, 2002, Chìa khóa vàng hoá học, Nhà xuất
bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, 196 trang.
6. Vũ Bội Tuyền, 2001, Hoá học thật diệu kỳ, Nhà xuất bản thanh niên,
121 trang.
18
19