SKKN nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học đối với hóa học 12 - Pdf 32

PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Qua thực tế giảng dạy và bồi dưỡng chuyên môn tôi nhận thấy
Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong môn học khó, nếu không có
những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho
học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận. Đã có hiện tượng một số bộ
phận học sinh không muốn học hoá học,ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn
của hoá học.
Giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra cho mình
nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách
dạy, một bày giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít. Do phương
pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ
tri thức một chiều. Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong
quá trình lĩnh hội tri thức hoá học.
Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát
triển như vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành
giáo dục vô cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh
mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa
mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng
hướng thiện khoa.
Trong khi đó, trong quá trình giảng dạy nếu giáo viên chỉ tập trung vào truyền
đạt kiến thức mà không gây hứng thú cho người học , thì người học dần cảm
thấy chán học và coi môn hóa học là môn “ cực khó”. Bên cạnh đó nếu giáo viên
định hướng tốt cho học sinh “ Học phải đi đôi với hành” thì học sinh bị cuốn
hút bởi bài học và vấn đề thực tế mà học sinh thấy khó hiểu thì qua bài học đã
được giải quyết. Từ đó khắc sâu kiến thức cho học sinh, chính vì vậy trong sáng
kiến kinh nghiệm tôi có đề cập đến một khía cạnh “Nâng cao hiệu quả dạy và
học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan
đến bài học đối với hóa học 12’’ ”với mục đích góp phần sao cho học sinh hóa
học dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn học sinh khi học… Để
hoá học không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một “thuật ngữ khoa học”.

dõn tc, mt quc gia phi nhỡn vo nn giỏo dc ca quc gia ú.
Nờu v tm quan trng ca giỏo dc cho th h tr nhõn ngy khai trng
u tiờn ca nc Vit Nam dõn ch cng hũa, Ch tch H Chớ Minh núi:Non
sụng Vit Nam cú tr nờn ti p hay khụng, dõn tc Vit Nam cú bc ti
i vinh quang sỏnh vai vi cỏc cng quc nm chõu c hay khụng,
chớnh l nh mt phn cụng ln cụng hc tp ca cỏc em.
Trc khi Ngi ra i, trong di chỳc ch tch H Chớ Minh cú dn: Phi
giỏo dc th h tr cho h tr thnh ngi va hng va chuyờn.
Trong iu kin hin nay, khi khoa hc k thut ca nhõn loi phỏt trin
nh v bóo, nn kinh t trớ thc cú tớnh ton cu thỡ nhim v ca ngnh giỏo
dc vụ cựng to ln: Giỏo dc khụng ch truyn t kin thc cho hc sinh m
cũn phi giỳp hc sinh vn dng kin thc khoa hc vo cuc sng, va mang
tớnh giỏo dc, va mang tớnh giỏo dng nhng cao hn l giỏo dng hng
thin khoa hc.
2. C s thc tin
Phõn mụn hoỏ hc trong trng trung hc ph thụng gi mt vai trũ quan
trng trong vic hỡnh thnh v phỏt trin trớ dc ca hc sinh. Mc ớch ca mụn
hc l giỳp cho hc sinh hiu ỳng n v hon chnh, nõng cao cho hc sinh
nhng tri thc, hiu bit v th gii, con ngi thụng qua cỏc bi hc, gi thc
hnh... ca hoỏ hc. Hc hoỏ hiu, gii thớch c cỏc vn thc tin thụng
qua c s cu to nguyờn t, phõn t, s chuyn hoỏ ca cỏc cht bng cỏc
phng trỡnh phn ng hoỏ hc... ng thi l khi ngun, l c s phỏt huy
-2 -


tớnh sỏng to ra nhng ng dng phc v trong i sng ca con ngi. Hoỏ hc
gúp phn gii ta, xoỏ b hiu bit sai lch lm phng hi n i sng, tinh
thn ca con ngi...

PHN II : NI DUNG

bit c nhng hin tng quanh ta cú li hay cú hi v v bin phỏp khc
phc.

Chng II. Ni dung vn nghiờn cu:
I. Thc trng ca vn nghiờn cu
Trc tỡnh hỡnh hc hoỏ hc phi i mi phng phỏp dy hc ó v
ang thc s l yu t quyt nh hiu qu gi dy. Mt trong nhng yu t
t gi dy cú hiu qu v tin b l phi phỏt huy tớnh thc t, giỏo dc v mụi
trng, v t tng va mang bn sc dõn tc m khụng mt i tớnh cng ng
-3 -


trên toàn thế giới, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có tính chất cập nhật
và mới mẽ, đảm bảo: tính khoa học – hiện đại, cơ bản; tính thực tiễn và giáo dục
kỹ thuật tổng hợp;tính hệ thống sư phạm.
Tuy nhiên mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả những
quan điểm nêu trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm dụng khi lượng kiến thức không đồng nhất .
* Thực tế giảng dạy cho thấy:
Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong môn học khó, nếu
không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ
làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận. Đã có hiện tượng một
số bộ phận học sinh không muốn học hoá học,ngày càng lạnh nhạt với giá trị
thực tiễn của hoá học.
Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra
cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng
một cách dạy, một bày giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít. Do
phương pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận,
truyền thụ tri thức một chiều. Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ
động trong quá trình lĩnh hội tri thức hoá học.
II. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên để việc giảng dạy môn hoá học

cho vấn đề này là không nhiều, “nó như thứ gia vị trong đời sống không thể thay
cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn uống ”.
1. Các giải pháp thực hiện vấn đề nghiên cứu
“Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học bằng việc giải thích các
hiện tượng thực tiễn có lên quan đến bài học đối với hóa học 12’’.bằng cách:
1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau khi đã
kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những
kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp
hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó?
Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo.
2. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua các
phương trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể
sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài
học.Giáo viên có thể giải thích để giải toả tính tò mò của học sinh. Mặc dù vấn
đề được giải thích có tính chất rất phổ thông.
3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho
lời giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất
ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng
ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá
trình học tập.
4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua
các bài tập tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi
làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được
bài toán hoá đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu
được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào?
5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua
những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ
-5 -




BÀI

NỘI DUNG

Glucozơ

Gương soi có lịch sử như thế nào? (Phản ứng
tráng gương)
Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt?

Tinh bột

Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây
xanh trong nhà?
Làm cá bớt tanh bằng phương pháp nào?

Amin

-6 -


AMINAMINOAXITPROTEIN
POLIME-VẬT
LIỆU POLIME

ĐẠI CƯƠNG VỀ
KIM LOẠI

Protein

CỦA
CANXI

Vì sao để bảo vệ vỏ tàu biển bằng thép,
người ta gắn các tấm kẽm vào phía ngoài vỏ
tàu ở phần chìm trong nước biển?
Tại sao khi nấu, xào thịt, đậu phụ không nên
cho muối ăn (chứa NaCl) vào quá sớm?

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Nước chảy đá
mòn”,câu này mang hàm ý của khoa học hoá
học như thế nào?
Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ với
những hình dạng phong phú đa dạng như thế
nào?
Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lại
có lớp cặn ở dưới đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn
này?
Vì sao phèn chua có thể làm trong nước?

NHÔM
VÀ HỢP
CHẤT

Nhôm lại được dùng làm dây dẫn điện cao
thế? Còn dây đồng lại được dùng làm dây
-7 -


dẫn điện trong nhà?

→ C12 H 22O11 
→ C6 H12O6
( C6 H10O5 ) n 
2

TB

2

Mantozo

Glucozo

Vì sao ban
đêm không Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành quá
nên để nhiều trình quang hợp, hấp thụ CO2 và giải phóng khí O2.
cây xanh
as
6nCO2 + 5nH 2O 
→(C6 H10O5 ) n + 6nO2 ↑
clorophin
trong nhà?
Nhưng ban đêm, do không có ánh sáng mặt trời, cây xanh không
quang hợp, chỉ có quá trình hô hấp nên cây hấp thụ khí O 2 và
thải ra khí CO2 làm cho phòng thiếu khí O 2 và quá nhiều khí
CO2.
CHƯƠNG III. AMIN – AMINOAXIT-PROTEIN
Khi nấu canh cá thì cho thêm chất chua (me, giấm,…) để làm
giảm mùi tanh của cá.
-8 -

thích hiện tượng thực tế này và học sinh có thể làm thí nghiệm
tại nhà.

CHƯƠNG IV: POLIME VÀ VẬT LIỆU POLIME
Teflon có tên thay thế là: Poli(tetrafloetilen)[(−CF2−CF2−)n]. Đó
là loại polime nhiệt dẻo, có tính bền cao với các dung môi và hóa
Teflon là
chất. Nó độ bền nhiệt cao, có độ bền kéo cao và có hệ số ma sát
chất gì?
rất nhỏ. Teflon bền với môi trường hơn cả Au và Pt, không dẫn
điện.
Do có các đặc tính quý đó, teflon được dùng để chế tạo những
chi tiết máy dễ bị mài mòn mà không phải bôi mỡ (vì độ ma sát
nhỏ),vỏ cách điện, tráng phủ lên chảo, nồi,… để chống dính.
Vải khác
Căn cứ vào bản chất của các chất liệu làm nên vải, ta có thể nhận
nhau có giá biết cách đơn giản sau:
trị khác nhau 1/ Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn
nên phân biệt lửa màu vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám đậm.
như thế nào? 2/ Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt sợi vải cháy chậm hơn
( Tơ)
vải sợi bông, có mùi khét như đốt tóc, sợi tơ co cục, màu nâu
đen, lấy tay bóp thì tan.
3/ Nếu vải làm bằng lông cừu (len lông cừu): Khi đốt bắt cháy
không nhanh, bốc khói, có mùi khét như đốt tóc và tạo thành
những bọt phồng, rồi vón cục có màu đen hơi óng ánh, giòn, bóp
tan ngay.
4/ Nếu vải làm bằng sợi viscozơ: Khi đốt sợi vải cháy nhanh,
-9 -


Vì sao dùng
đồ bằng bạc
đựng thức
ăn, thức ăn
lâu bị ôi?

Người bị cảm trong cơ thể thường sinh ra những hợp chất dạng
sunfua(S2−) vô cơ hay hữu cơ đều có tính độc. Khi đánh cảm
bằng bạc, do S có ái lực mạnh với Ag nên xảy ra phản ứng tạo
Bạc sunfua (Ag2S) kết tủa màu đen. Do đó loại được chất độc ra
khỏi cơ thể và cũng làm cho dây bạc chuyển thành màu đen.
Ag + − S − → Ag 2 S ↓

Trong nước tiểu có NH3, khi ngâm dây bạc vào thì sẽ xảy ra
phản ứng:
+

Ag 2 S + 4 NH 3 → 2  Ag ( NH 3 ) 2  + S 2−

Nên Ag2S bị hoà tan, bề mặt dây bạc lại trở nên sáng bóng.
Do bạc tác dụng với khí O2 và H2S có trong không khí tạo ra bạc
sunfua (Ag2S) màu đen.
4 Ag + O2 + 2 H 2 S → 2 Ag 2 S ↓ +2 H 2O

Khi bạc sunfua gặp nước sẽ có một lượng rất nhỏ đi vào nước
thành ion Ag+. Ion Ag+ có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh, chỉ cần
1/5 tỉ gam bạc trong 1 lít nước cũng đủ diệt vi khuẩn. Không cho
vi khuẩn phát triển nên giữ cho thức ăn lâu bị ôi thiu.
Áp dụng: Đây là những ứng dụng rất hay của kim loại bạc. giáo
viên có thể đưa những vấn đề này vào bài về kim loại

• Kim loại có trữ lượng lớn nhất: Nhôm (Al), chiếm 7% về
khối lượng vỏ trái đất.
Khi thép và kẽm cùng ở trong nước biển thì sẽ xuất hiện cặp pin
hóa học và có sự ăn mòn điện hóa.
Kẽm là cực âm, thép là cực dương vànước biển là dung dịch điện
li. Trong quá trình ăn mòn điện hóa thì kẽm sẽ bị ăn mòn. Do đó,
vỏ tàu biển được bảo vệ. Đây là phương pháp bảo vệ kim loại
bằng phương pháp điện hóa.

CHƯƠNG VI: KIM LOẠI KIỀM – KIM LOẠI KIỀM THỔ NHÔM VÀ HỢP CHẤT CỦA CHÚNG
Tại sao khi
nấu, xào thịt,
đậu
phụ
không nên
cho muối ăn
(chứa NaCl)
vào
quá
sớm?

Vì trong đậu, thịt chứa protein (protit), vốn có tính keo khi gặp
những chất điện ly mạnh, sẽ bị ngưng tụ thành những “óc đậu”
khi nấu, xào nếu như cho muối ăn vào sớm, gây khó khăn cho
thẩm thấu vào đậu, thịt và bị đông tụ cứng lại không có lợi cho
tiêu hoá…
Áp dụng: Giáo viên có thể xen vào bài giảng của phân về protit.
Đây cũng là vấn đề thiết thực bắt găp trong cuộc sống và phục vụ
thiết yếu trong việc chế biến thực phẩm


tục ngữ, làm cho hoá học trở nên gần gủi, có hồn văn hơn.Giáo
viên có thể xen vấn đề này trong khi dạy đến phần về muối
CaCO3
Trong đá thông thường chủ yếu là CaCO3, khi trời mưa, trong
không khí có CO2 tạo môi trường axit làm tan được đá vôi, những
giọt nước mưa rơi xuống như vô vàn mũi dao nhọn, sắc khắc vào
đá những đường nét khác nhau

Hiện tượng
tạo
hang
động

thạch
nhũ
CaCO3 + CO2 + H 2O → Ca ( HCO3 ) 2
với những
hình
dạng Và xuất hiện quá trình điện ly:
phong phú
Ca( HCO3 ) 2 → Ca 2+ + 2 HCO3−
đa dạng như
CaCO3 → Ca 2+ + CO32−
thế nào?
– Theo thời gian dần tạo ra các hang động khi nước có
Ca(HCO3)2ở đất đá do áp suất nhiệt độ đột nhiên thấp nên khi
giọt nước nhỏ từ từ có tồn tại phương trình:
Ca( HCO3 ) 2 ƒ

Tại sao khi

- 12 -


tẩy lớp cặn
này?

Áp dụng: Giáo viên có thể xen vào trong bài giảng về nước cứng.
Mục đích cung cấp mẹo vặt trong đời sống cũng góp phần cho
học sinh hiểu bản chất của vế đề có trong đời sống hàng ngày,
học sinh có thể ứng dụng trong đời gia đình mình, tạo sự hưng
phấn trong học tập. Đó là một thí nghiệm tự làm được.
Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể
Vì sao phèn ngậm nước: [K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O]
chua có thể Phèn chua không độc, có vị chua chát, ít tan trong nước lạnh
làm
trong nhưng tan nhiều trong nước nóng. Khi tan trong nước, phèn chua
nước?
sẽ bị thủy phân và tạo thành Al(OH)3 ở dạng kết tủa keo lơ lững
trong nước.
Al2 ( SO4 )3 → 2 Al 3+ + 3SO42−
Al 3+ + H 2O ƒ

AlOH 2 + + H +

AlOH 2+ + H 2O ƒ
Al ( OH ) 2 + H 2O ƒ
+

Al2 ( SO4 )3 + 3H 2O ƒ


phải tính đến việc xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực
của dây điện. Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế.Còn trong
nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn
lắm.Vì vậy ở trong nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng.

Chương III: Phương pháp nghiên cứu, kết quả thu được
I. Các phương pháp nghiên cứu.

- 13 -


- Phương pháp nghiêm cứu lí thuyết : Giáo viên đưa ra một số hiện tượng thực
tế có liên quan đến bài học và cách giải thích một số hiện tượng thực tế bằng
kiến thức hoá học.
- Phương pháp điều tra :
+ Điều tra cách giải thích hiện tượng thực tiễn liên quan đến bài học của học
sinh khối 12 qua bài kiểm tra.
+Thống kê kết quả của học sinh qua bài kiểm tra.
- Phương pháp thực nghiệm : Áp dụng, hướng dẫn cho học sinh lớp khối 12
cách giải th hiện tượng thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Rút ra các ưu điểm, nhược điểm của học
sinh trong việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học bằng
các kiến thức hoá học, từ đó có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục.
II. Kết quả thu được
1.Kết quả nghiên cứu:
Riêng bản thân tôi nhờ vận dụng phương pháp dạy “Nâng cao hiệu quả
dạy và học môn hóa học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có lên
quan đến bài học đối với hóa học 12’’ kết hợp với nhiều phương pháp khác, tôi
đã đạt được một số kết quả nhất định.
Học sinh trở nên thích học hoá hơn, thích những giờ dạy của tôi nhiều

01
10
10
05
- 14 -


12C

31

Ít áp dụng

00

05

15

17

PHẦN III : KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Để có những tiết học đạt hiệu quả cao nhất luôn là niềm trăn trở, suy nghĩ là
mục đích hướng tới của từng người giáo viên có lương tâm và trách nhiệm nghề
nghiệp, nhưng đây không phải là điều đạt được dễ dàng. Người giáo viên phải
nhận thức rõ vai trò là người “thắp sáng ngọn lửa” chủ động lĩnh hội tri thức
trong từng học sinh . Trong nội dung đề tài mình, tôi đã đề cập đến một số vấn
đề xung quanh cuộc sống và có ý nghĩa thực tiễn, thậm chí có thể gặp, tiếp xúc
hàng ngày.Tôi hi vọng đây là vấn đề gợi mở ra một quan niệm trong dạy − học



4. Tài liệu giáo khoa chuyên hoá học 12 (Tập 1,2 NXB GD)
5. Con người và những phát minh (Bách khoa thư chuyên đề – NXB GD
1998)
6. Báo hóa học và ứng dụng.
7. Từ điển hoá học phổ thông.

- 16 -


MỤC LỤC
Néi dung

STT
1

Trang

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
II. Muc đích nghiên cứu
IV. Đóng góp mặt thực tiễn , lí luận
1. Cơ sở lí luận
2. Cơ sở thực tiễn

2

PHẦN NỘI DUNG
Chương I. Tổng quan


- 18 -




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status