Nâng cao hiệu quả dạy học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học trong chương trình hóa học 10 - Pdf 25

Trường THPT Nguyễn Diêu Năm học 2013-2014
A. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên. Như tên của nó, đôi khi chúng ta nghĩ đây là
bộ môn khô khan, khó tiếp thu đối với học sinh. Có lúc học sinh học lý thuyết trên sách
giáo khoa, còn thực tế hiện tượng hoá học xảy ra như thế nào thì không nhìn thấy được.
Học sinh chỉ học thuộc lòng phương trình và hiện tượng hoá học theo sách vở, điều này
làm cho các em mau quên và dễ chán. Cũng có lúc các em cảm thấy kiến thức hoá học
thật trừu tượng nên không hiểu bài trong lớp. Mà đã khó hiểu thì làm sao các em có thể
yêu thích?
Môn hóa học ở trường phổ thông nếu không có những bài giảng và phương pháp
hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm
nhận. Trước tình hình đó, hóa học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự
là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả
và tiến bộ là phát huy tính thực tế.
Có những vấn đề hóa học giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tự
nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hóa học
trong những câu ca dao – tục ngữ, mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực
tiễn đời sống thường ngày, chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm
chán, xa lạ, lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học.
Trong việc dạy môn hoá học ở trường trung học, người giáo viên phải có vốn
kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra được những
giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của học sinh.
Với những lý do trên tôi đã tìm tòi nghiên cứu, tham khảo tư liệu và áp dụng đề
tài: “Nâng cao hiệu quả dạy - học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực
tiễn có liên quan đến bài học trong chương trình hóa học 10”với mục đích góp phần sao
cho học sinh học hóa dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn học sinh khi
học… Để hoá học không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một “thuật ngữ khoa học”
qua đó từng bước hình thành ở các em lòng yêu thích bộ môn và niềm đam mê khoa học.
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này được thực hiện với mục đích giúp học sinh giải thích những hiện tượng

Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với tổ trưởng, tổ chuyên môn, và tham khảo ý kiến các
giáo viên dạy giỏi về các vấn đề có liên quan đến đề tài.
5.3. Phương pháp thống kê toán học
Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, cho học sinh
kiểm tra các kiến thức đã học so sánh, đối chiếu. Từ đó rút ra tỉ lệ phần trăm, nhằm đánh
giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả của của việc dạy học hoá học ở trường
THPT.
Sáng kiến kinh nghiệm 2
Trường THPT Nguyễn Diêu Năm học 2013-2014
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở pháp lý:
Sáng kiến kinh nghiệm thực hiện chủ yếu dựa trên sách giáo khoa (SGK) hoá học
10 cơ bản và nâng cao, vì vậy SGK là cơ sở pháp lý để xây dựng đề tài. Ngoài ra còn
tham khảo sách giáo viên, sách bài tập, các sách tham khảo và các tài liệu có liên quan là
cơ sở cho sáng kiến kinh nghiệm.
2. Cơ sở lý luận:
Môn hoá học giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí tuệ
của học sinh. Mục đích của môn hóa học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn
chỉnh; nâng cao những tri thức, hiểu biết về thế giới, về con người thông qua các bài học,
các giờ thực hành
Học hoá để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo
nguyên tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học.
Học hoá để biết, là góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến
đời sống, tinh thần của con người
Học hoá để làm, là khởi nguồn, là cơ sở để sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ
trong đời sống của con người.
Để đạt được mục đích của môn hoá học, ngoài việc phải tiếp thu đầy đủ những
kiến thức từ trên lớp, từ sách giáo khoa, từ các thầy cô, học sinh còn tự mình sưu tầm và
tìm hiểu những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Vận dụng những kiến

“Nâng cao hiệu quả dạy - học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng
thực tiễn có liên quan đến bài học trong chương trình hóa 10” bằng cách:
1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau khi đã kết thúc
bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học
tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy
nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới
tiếp theo.
2. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua các phương
trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập
nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải
thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh. Mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất
phổ thông.
3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới
thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một
câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nh-
ưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.
4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các bài
tập tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh
hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích. Vì muốn giải được bài toán hóa đó học sinh
phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải
quyết như thế nào?
5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua những
câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong
suốt tiết học. Hướng này có thể góp phần tạo không khí học tập thoải mái. Đó cũng là
cách kích thích niềm đam mê học hoá.
6. Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống
ngày thường ở địa phương, gia đình … sau khi đã học bài giảng. Cách nêu vấn đề này có
thể làm cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hay tự tái tạo
lại kiến thức qua các thí nghiệm hay những lúc bắt gặp hiện tượng, tình huống đó trong
cuộc sống. Giúp học sinh phát huy khả năng ứng dụng hoá học vào đời sống thực tiễn.

2
O → HClO + HCl
HClO có tính oxi hóa mạnh nên có khả năng diệt khuẩn. Trong nước vẫn còn
lượng nhỏ clo nên nước máy có mùi clo.
Khi dùng nước máy tưới cây cảnh thì trên lá cây xuất hiện những đóm
trắng và làm rụng lá vì chất diệp lục trên lá bị oxi hóa bởi lượng HClO trong nước
máy. Do vậy không dùng nước máy để tưới cây, hoa cảnh.
Khí clo đã được dùng làm vũ khí ở đâu và khi nào ?
Đó là xế chiều ngày 24 - 4 - 1915 (thế chiến thứ nhất 1914 - 1918) giữa 2 ngôi
làng có tên là Steenstraat và Poel Kappelle (nớc Bỉ) xuất hiện một đám khói màu vàng
lục xuất phát từ phòng tuyến của quân Đức bay là là cách mặt đất 1 mét theo chiều gió
tiến dần đến phòng tuyến quân Pháp. Đó là khói của 150 tấn clo chứa trong 5830 thùng
điều áp vừa được các binh sĩ của trung đoàn quân tiên phong 35 và 36 Đức thả vào không
khí. Mười lăm phút sau, bộ binh Đức được trang bị đặc biệt bám theo đám khói clo đó tấn
công thẳng vào cứ điểm Pháp. Sự tác động của khí độc thật vô cùng ghê gớm. Hàng trăm
binh sĩ Pháp hỗn loạn chạy ngược về phía sau tìm không khí để thở. Khi quân Đức tới nơi
họ trông thấy nhiều xác chết với gương mặt xanh nhợt nằm la liệt bên những người hấp
hối, cơ thể co giật dữ dội, miệng ứa ra một chất dịch màu vàng nhạt. Kết quả là tuyến
phòng thủ của quân Pháp bị phá vỡ và khí clo đã giết chết 3000 người và làm 7000 người
bị thương.
Áp dụng: Vấn đề này đang được sử dụng làm sạch nước hiện nay trong các nhà
máy nước… giúp học sinh hiểu được vai trò của hoá học trong sản xuất và đời sống. Giáo
viên có thể liên hệ trong khi dạy bài CLO.
Sáng kiến kinh nghiệm 5
Trường THPT Nguyễn Diêu Năm học 2013-2014
Vấn đề số 3: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn
(NaCl)?
Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1at là 100
o
C, nếu ta thêm NaCl thì lúc đó làm

càng đa dạng, phong phú. Vấn đề ăn uống ảnh hưởng dạ dày ngày càng tăng. Giáo viên
có thể đưa vấn đề này vào trong bài HIDRO CLORUA - AXIT CLOHIDRIC.
Vấn đề số 5: Vì sao muối thô dễ bị chảy nước?
Muối ăn có thành phần chính là NaCl, ngoài ra còn có các muối khác như MgCl
2
,
KCl, MgCl
2
là muối ưa nước, nên nó hấp thụ nước trong không khí và dễ tan trong
nước. Muối sản xuất càng thô sơ thì càng dễ bị chảy nước khi để ngoài không khí.
Vấn đề số 6: Muối ở biển có từ đâu? Em hãy tìm xem nguồn gốc của muối có
trong nước biển?
Biển cả là quê hương của muối, trong đó NaCl chiếm 85%. Trong quá trình lâu
dài hình thành đại dương ban đầu đã hoà tan tất cả các loại muối khoáng. Đồng thời
nham thạch trong quá trình phong hóa (nham thạch bị tác động lâu ngày của mưa, nắng,
gió bão và vi sinh vật) đã không ngừng bị phân giải và sản sinh ra các loại muối, sau đó
theo các dòng sông để ra đại dương. Vậy sông ngòi, nham thạch và các núi lửa dưới đáy
biển chính là nguồn gốc cung cấp chủ yếu các loại muối cho biển cả.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào phần muối của axit clohidric trong
bài HIDRO CLORUA - AXIT CLOHIDRIC.
Sáng kiến kinh nghiệm 6
Trường THPT Nguyễn Diêu Năm học 2013-2014
Vấn đề số 7: Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF?
Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc biệt là ăn mòn
thuỷ tinh. Do thành phần chủ yếu của thuỷ tinh là silic dioxit SiO
2
nên khi cho dung dịch
HF và thì có phản ứng xảy ra: SiO
2
+ 4HF → SiF

SO
4
đặc
vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc. Sau một thời gian, thủy tinh cũng sẽ bị ăn
mòn ở những nơi cạo sáp.
CaF
2
+ 2H
2
SO
4
→ CaSO
4
+ 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
Sau đó SiO
2
+ 4HF → SiF
4
↑ + 2H
2
O.
Áp dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang phát triển
ở nước ta. Sau bài học học sinh không những biết được phương pháp khắc thủy tinh mà
còn có thể giải thích được vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở cho việc học nghề, khơi gợi
niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí nghiệm này trong tiết thực hành. Giáo
viên có thể lồng vào bài FLO.
Vấn đề số 9: Em có biết vì sao “chảo không dính” khi chiên?
Nếu dùng chảo bằng gang, nhôm thường để chiên cá, trứng không khéo dễ bị dính
chảo. Nếu dùng chảo không dính thì thức ăn sẽ không dính chảo. Thực ra mặt trong của
chảo không dính người ta có trải một lớp hợp chất cao phân tử. Đó là Politetra floetilen

5
(PO
4
)
3
OH (1)
Quá trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnh sâu
răng.
Sau các bửa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại trên răng
tạo thành các axit hữu cơ như axit axetic và axit lactic. Thức ăn với hàm lượng đường cao
tạo điều kiện tốt cho việc sản sinh ra các axit đó.
Lượng axit trong miệng tăng làm cho pH giảm, làm cho phản ứng sau xảy ra:
H
+
+ OH
-
→ H
2
O
Khi nồng độ OH- giảm, theo nguyên lí Lơ-Sa-tơ-li-ê, cân bằng (1) chuyển dịch
theo chiều nghịch và men răng bị mòn, tạo điều kiện cho sâu răng phát triển.
Biện pháp tốt nhất phòng sâu răng là ăn thức ăn ít chua, ít đường và đánh răng sau
khi ăn.
Người ta thường trộn vào thuốc đánh răng NaF hay SnF
2
, vì ion F
-
tạo điều kiện
cho phản ứng sau xảy ra:
5Ca

2+
và OH
-
làm
cho cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận.
Áp dụng: Vấn đề sâu răng và phòng ngừa sâu răng được mọi người quan tâm.
Nhưng ít ai biết rằng vì sao răng bị sâu và cơ chế phòng ngừa như thế nào. Học sinh sẽ
rất tò mò về vấn đề này. Giáo viên có thể đề cập vấn đề này trong phần ứng dụng của
FLO nhằm giúp cho học sinh có thói quen bảo vệ răng bằng cách đánh răng sau các bữa
ăn.
Vấn đề số 11: Tại sao phải ăn muối iot?
Trong cơ thể con người có tồn tại một lượng iot tập trung ở tuyến giáp trạng. Ở
người trưởng thành lượng iot này khoảng 20-50mg.
Hàng ngày ta phải bổ sung lượng iot cần thiết cho cơ thể bằng cách ăn muối iot.
Iôt có trong muối ăn dạng KI và KIO3. Nếu lượng iot không cung cấp đủ thì sẽ dẫn đến
tuyến giáp trạng sưng to thành bướu cổ, nặng hơn là đần độn, vô sinh và các chứng bệnh
khác.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi kết thúc bài giảng IOT nhằm giúp
cho học sinh hiểu được ích lợi của việc ăn muối iot và tuyên truyền cho cộng đồng.
Vấn đề số 12: Làm thế nào để phân biệt muối iot và muối thường?
Muối iot ngoài thành phần chính là muối ăn (NaCl) còn có một lượng nhỏ NaI
(nhằm cung cấp iot cho cơ thể). Để phân biệt muối thường và muối iot ta vắt nước chanh
Sáng kiến kinh nghiệm 8
Trường THPT Nguyễn Diêu Năm học 2013-2014
vào muối, sau đó thêm vào một ít nước cơm. Nếu thấy màu xanh đậm xuất hiện chứng tỏ
muối đó là muối iot.
Giải thích: Nước chanh có môi trường axit. Trong môi trường axit, NaI không bền
bị phân hủy một phần thành I
2
. I

Vấn đề số 14: Vì sao sau những cơn giông, không khí trở nên trong lành, mát mẻ
hơn ?
Sau những cơn mưa, nếu dạo bước trên đường phố, đồng ruộng, người ta cảm
thấy không khí trong lành, sạch sẽ. Sở dĩ như vậy là có hai nguyên nhân:
• Nước mưa đã gột sạch bụi bẩn làm bầu không khí được trong sạch.
• Trong cơn giông đã xảy ra phản ứng tạo thành ozon từ oxi:
3O
2

UV
→
2O
3
Ozon sinh ra là chất khí màu xanh nhạt, mùi nồng, có tính oxi hóa mạnh. Ozon có
tác dụng tẩy trắng và diệt khuẩn mạnh. Khi nồng độ ozon nhỏ, người ta cảm giác trong
sạch, tươi mát.
Do vậy sau cơn mưa giông trong không khí có lẫn ít ozon làm cho không khí trong
sạch, tươi mát.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên không xa lạ với học sinh. Một số học
sinh cho rằng đây là điều hiển nhiên vì “ sau cơn mưa trời lại sáng”. Tuy nhiên nhìn dưới
Sáng kiến kinh nghiệm 9
Trường THPT Nguyễn Diêu Năm học 2013-2014
góc độ hóa học thì ta có thể giải thích được rõ ràng vấn đề này. Giáo viên có thể đề cập
trong phần ứng dụng của ozon hay đặt câu hỏi trên sau khi dạy xong bài giảng về OZON.
Vấn đề số 15: Tại sao sau những cơn mưa có sấm chớp, đường xá, khu phố,
rừng cây … bầu trời xanh cũng như sạch quang, mát mẻ, trong lành hơn?
Do trong không khí có 20% O
2
nên khi có sấm chớp tạo điều kiện:
3O

khó khăn hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác
dụng với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi.
Hg S HgS
+ → ↓
Quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài LƯU HUỲNH
Vấn đề số 17: Vì sao người ta hay dùng bạc để "đánh gió" khi bị cảm?
Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng khí H
2
S tương đối
cao. Chính lượng H
2
S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng Ag để đánh gió thì Ag sẽ
tác dụng với khí H
2
S. Do đó; lượng H
2
S trong cơ thể giảm và dần sẽ hết bệnh. Miếng Ag
sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám:
4Ag + 2H
2
S + O
2
→ 2Ag
2
S↓ + 2H
2
O (đen)
Áp dụng: Hiện tượng đánh gió được ông bà sử dụng từ xa xưa đến tận bây
giờ để trị cảm. Cách làm này có cơ sở khoa học mà mọi người cần được biết, vì

4
và HNO
3
tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của mưa
axit là H
2
SO
4
còn HNO
3
đóng vai trò thứ hai.
Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới.
Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các
tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến…….
Màn khói giết người đã xảy ra ở đâu ?
Ngày 5 tháng 12 năm 1952, nước Anh (nước được mệnh danh là xứ sở của sương
mù) tại Luân Đôn đã xảy ra sự kiện “màn khói giết người” làm chấn động thế giới. Việc
giám sát môi trường cho thấy hàm lượng khí SO
2
cao tới 3,8 mg/m
3
, gấp 6 lần và nồng độ
bụi khói lên tới 4,5mg/m
3
gấp 10 lần so với ngày thường. Dân trong thành phố thấy tức
ngực, khó thở và ho liên tục. Chỉ trong vòng 4, 5 ngày đã có hơn 4000 người chết trong
đó phần lớn là trẻ em và người già, hai tháng sau lại có trên 8000 người nữa chết.
Nguyên nhân của “màn khói giết người” ở thành phố Luân Đôn là do khói than
(SO
2

2
SO
4
khi
dạy phần tính chất vật lí của axit sunfuric đặc trong bài HỢP CHẤT CÓ OXI CỦA
LƯU HUỲNH.
Vấn đề số 20: Làm thế nào để phân kim vàng?
Phân kim vàng là phương pháp kỹ thuật giúp bạn thu hồi vàng nguyên chất từ các
loại vàng khác (hợp kim vàng).
Sáng kiến kinh nghiệm 11
Trường THPT Nguyễn Diêu Năm học 2013-2014
Hướng dẫn HS Phân kim được các loại vàng thấp tuổi lấy ra được vàng y nguyên
chất bằng một loại Acid: Vàng thấp tuổi (vàng lẫn tạp chất Cu, Ag…) cán mỏng, cắt nhỏ
cho vào H
2
SO
4
đặc, nóng (lưu ý trong thực tế người ta thường sử dụng HNO
3
). Tạp chất
sẽ tan trong H
2
SO
4
đặc, nóng, ta sẽ thu được vàng:
Cu + 2H
2
SO
4


Học sinh trở nên thích học hoá hơn, thích những giờ dạy của tôi nhiều hơn, thậm
chí có cả những học sinh đã về nhà tự quan sát và tái tạo lại hiện tượng thức tế, rồi lại đến
hỏi tôi.
Trong giờ học, tôi đã kết hợp hài hoà trong phong cách dạy của mình có thể làm
cho giờ học mang không khí rất thoải mái, nhưng khả năng tiếp thu bài cũng rất tốt. Như
tôi đã khẳng định: Thời gian giành cho vấn đề này là không nhiều nên cần phụ thuộc vào
người dạy cần phải linh hoạt và khéo léo. Bất cứ một vấn đề gì nếu chúng ta quá lạm
dụng thì đề không tối.Vì thế tôi vẫn luôn nghĩ: Dạy như thế nào cho tốt là một điều không
dễ.
2/ Kết quả đối chứng:
Thực tế giảng dạy cho thấy lớp không áp dụng so với lớp áp dụng giải thích
thường xuyên có sự khác nhau rõ rệt.
Lớp Mức độ
Kết quả
Giỏi Khá Trung bình Yếu – Kém
10A7 Thường xuyên áp dụng
02
(4,3%
)
12
(25,5%
)
28
(59,6%)
05
(10,6%)
10A5 Không áp dụng
00
(0,0%
)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status