Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
MỤC LỤC
Nội dung Trang
PHẦN A: MỞ ĐẦU 4
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
III/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4
IV/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
V/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
VI/ NỘI DUNG ĐỀ TÀI 5
PHẦN B: NỘI DUNG 6
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
I/ CƠ SỞ PHÁP LÝ 6
II/ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
III/ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
Chương II: THỰC TRẠNG CỦA NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
I/ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 7
II/ THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 8
III/ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU 8
Chương III: BIỆN PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỦ YẾU TRONG
NGHIÊN CỨU
8
I/ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN . 8
II/ CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 10
III/ TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 23
IV/ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ : 24
PHẦN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP 25
DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO 26
PHẦN A: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy bộ môn hóa học tôi thấy: môn
2
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trong quá trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu kiến thức này tôi tập trung giải
quyết các vấn đề sau:
- Một là nghiên cứu kĩ lý thuyết trong sách giáo khoa.
- Hai là nghiên cứu tình hình thực tiễn ở địa phương để đưa ra những câu hỏi sát với
thực tế giúp học sinh dễ nhận thấy và nắm được vấn đề.
- Ba là nghiên cứu khả năng tiếp thu của học sinh trường PT cấp 2-3 Xuân Phước để
có những cách trình bày thật dễ hiểu, phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Bốn là vận dụng phương pháp giải bài tập vào thực tiễn giảng dạy của mình, học tập
của học sinh, cũng như thu thập ý kiến phản hồi từ học sinh và đồng nghiệp, rút kinh
nghiệm sữa chữa, bổ sung, hoàn thiện hơn.
VI. NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
Trong bài sáng kiến này được chia làm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận liên quan đến nội dung bài viết.
Chương II: Thực trạng của đề tài nghiên cứu
Chương III: Biện pháp, phương pháp trong quá trình nêu và giải quyết vấn đề.
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
3
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
PHẦN B: NỘI DUNG
Chương I:
CƠ SỞ LÍ LUẬN
I. CƠ SỞ PHÁP LÍ.
• Dựa trên nội dung của bộ SGK 10, 11, 12 do bộ giáo dục phát hành.
• Dựa trên bài tập của bộ sách bài tập hóa học đang dùng trong trường.
• Dựa trên nội dung của các đề thi do bộ giáo dục ra.
Đó là 3 cơ sở pháp lí vững chắc để tôi chọn, nghiên cứu và viết sáng kiến kinh nghiệm
này.
phương pháp truyền đạt thu hút gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức hóa học của học
sinh. Đó là vấn đề cần quan tâm và nghiên cứu nghiêm túc. Trong sáng kiến kinh
nghiệm (SKKN) này tôi có đề cập một khía cạnh “ Nâng cao hiệu quả dạy - học môn
hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến
bài học” với mục đích góp phần sao cho học sinh hóa học dễ hiểu, thiết thực, gần gũi
với đời sống và lôi cuốn học sinh khi học… Để hóa học không còn mang tính đặc thù
khó hiểu như một “ thuật ngữ khoa học”.
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
5
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
Chương II
THỰC TRẠNG CỦA NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I/ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.
Việc nghiên cứu và viết sáng kiến kinh nghiệm này là dựa vào sách giáo khoa,
một vài sách tham khảo và tình hình học tập và nghiên cứu của học sinh trường cấp 2-
3 Xuân Phước nơi tôi đang công tác.
II/ THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Mặc dù bộ môn hoá học ở THPT đóng một vai trò rất quan trọng nhưng ở cấp
THPT các em thực sự không chú ý và xem đó như một môn phụ, đã có rất nhiều em
không thích học môn này (sau đây là số liệu điều tra đầu năm học 2008-2009 tại lớp
10A
2
khi ch a áp d ng t i n y v o gi ng d y).ư ụ đề à à à ả ạ
Số em không yêu
thích môn học
Số em xem đó
như một môn
phụ
Số em yêu thích
môn học
các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn
xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn
đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn
đề rất bình thường và hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm
của học sinh trong quá trình học tập.
4. “Nâng cao hiệu quả dạy- học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích
các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn
xung quanh đời sống ngày thường thông qua các bài tập tính toán. Cách nêu vấn đề
này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
7
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
đạt, giải thích. Vì muốn giải được toán hóa đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến
thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào?
5. “Nâng cao hiệu quả dạy- học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích
các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn
xung quanh đời sống ngày thường thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất
khôi hài, gây cười. Có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học. Hướng này
có thể góp phần tạo không khí học tập thoải mái. Đó cũng là cách kích thích niềm
đam mê học hóa.
6. “Nâng cao hiệu quả dạy- học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích
các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” bằng cách tiến hành tự làm thí
nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường ở địa phương,
gia đình…sau khi đã học bài giảng. Cách nêu vấn đề này có thể làm cho học sinh căn
cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hay tự tái tạo lại kiến thức qua các
thí nghiệm ở nhà hay những lúc gặp hiện tượng hay tình huống đó. Giúp học sinh phát
huy khả năng ứng dụng hóa học vào đời sống thực tiễn.
7. “Nâng cao hiệu quả dạy- học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích
các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học” bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn
xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với nội dung bài giảng để rút ra
Trong vòng 50 năm gần đây, lượng ozon bị mỏng đi 1%, có một số nơi tầng ozon bị
thủng và gây ra không it hiện tượng như bão, lũ lụt, cháy rừng, bệnh nan y…
Áp dụng:
Đây là vấn đề có liên quan đến giáo dục môi trường. Qua bài học học sinh hiểu
được tầm quan trọng của ozon, vừa có ý thức bảo vệ môi trường và kích thích sự tìm
hiểu vấn đề này… Giáo viên có thể đưa vào bài giảng phần ozon (tiết 49, 50 lớp
10CB, hoặc tiết 64 lớp 10 NC)
• Vấn đề 2: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn NaCl?
Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1 atm là 100
0
C, nếu cho thêm NaCl thì lúc đó
làm cho nhiệt độ của dung dịch NaCl loãng khi sôi > 100
0
C. Vì vậy rau mống sẽ
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
9
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
mềm hơn và xanh hơn, thời gian luộc rau không lâu làm rau ít mất vitamin và giữ
được nhiều chất dinh dưỡng.
Áp dụng:
Vấn đề này có thể có học sinh biết nhưng có học sinh không để ý, nhưng nếu
được biết đến thì các em có thể tiến hành thí nghiệm ngay trong một buổi nấu ăn,
góp phần tạo nên kinh nghiệm cho học sinh, rất thiết thực. Có thể chèn vào trong bài
giảng: tiết 5 lớp 11 hoặc tiết 41 lớp 12 CB. Thời gian đề cập vấn đề này khoảng 2
phút.
• Vấn đề 3: Vì sao cồn có khả năng sát khuẩn?
Cồn là dung dịch ancol etylic (C
2
H
5
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
10
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
Đây là vấn đề bắt buộc trong quá trình dạy về flo và tính chất của HF (tiết 44
lớp 10CB, tiết 56 lớp 10 NC), giúp học sinh giải đáp được bài tập mà trong thực tiễn
tránh đựng dung dịch HI trong bình thủy tinh.
• Vấn đề 5: Làm thế nào khắc được thủy tinh?
- Muốn khắc được thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào lớp sáp nóng chảy, nhấc
ra cho nguội, dùng vật nhọn tạo hình, chữ, vạch… vật cần khắc nhờ lớp sáp (nến)
mất đi, rồi nhỏ dung dịch HF vào, thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những nơi đã bị cạo đi
lớp sáp.
SiO
2
+ 4HF
→
SiF
4
↑
+ 2H
2
O
(dễ bay hơi)
- Nếu không có dung dịch HF thì có thể thay bằng dung dịch H
2
SO
4
đặc và bột CaF
2
4
↑
+ 2H
2
O
Áp dụng:
Đây là vấn đề thực tế, không những cung cấp cho học sinh phương pháp khắc
thủy tinh và còn giải thích hiện tượng đó. Giúp học sinh sẽ nhớ đến bài học khi gặp
vấn đề này. Thậm chí là cơ sở cho việc học nghề, khơi dậy niềm đam mê học tập và
khám phá, càng tốt hơn nếu học sinh được tiến hành thí nghiệm. Giáo viên có thể đề
cập đến trong bài flo (tiết 44 lớp 10CB, tiết 56 lớp 10NC)
• Vấn đề 6: Dùng kiếm giết yêu quái ra máu như thế nào?
Có một thầy cúng đến nhà có người bệnh, phán rằng: ốm là do ma quỷ, yêu quái
ám phạt, phải trừ ma tà và ông làm như sau: Lấy một hình người bằng rơm, khoác
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
11
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
lên đó áo giấy vàng rồi miệng đọc “thần chú”, rút kiếm “báu” ra và tưới lên kiếm
“nước tiên” rồi đâm vào hình người bằng rơm. Khi rút kiếm ra khỏi hình người bằng
rơm thì ngay lập tức ở chỗ kiếm rút ra có xuất hiện những vết đỏ tươi… như máu và
bảo ma đã bị trừ.
Thực chất, nước tiên là dung dịch Na
2
CO
3
, áo giấy vàng không phải giấy vàng
thường mà được nhuộm bằng chất màu thiên nhiên lấy ra từ củ cây nghệ.
Dung dịch Na
2
Hóa học như thế nào?
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
12
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
Trong đá thông thường có CaCO
3
. Trong nước tồn tại phương trình điện li sau:
CaCO
3
→
¬
Ca
2+
+ CO
2
3
−
Khi nước chảy cuốn theo các ion Ca
2+
và CO
2
3
−
. Theo nguyên lí chuyển dịch cân
bằng thì cân bằng trên chuyển dịch theo hướng chống lại sự giảm nồng độ Ca
2+
và
CO
2
2
→
¬
2NO
2NO +O
2
→
2NO
2
Khí NO
2
tan vào nước mưa: 4NO
2
+ O
2
+2H
2
O
→
4HNO
3
HNO
3
→
H
+
+ NO
3
+H
2
O
→
Ca(HCO
3
)
2
Ca(HCO
3
)
2
tan trong nước, chảy qua các khe đá vào trong hang động. Dần dần
Ca(HCO
3
)
2
lại chuyển hóa thành CaCO
3
rắn không tan.
Ca(HCO
3
)
2
→
CaCO
3
+ CO
2
Hiện nay clo đang được sử dụng để làm sạch nước trong các nhà máy nước để
cung cấp nước trong các thành phố, thị xã, thị trấn…Giúp học sinh hiểu và giải tỏa
thắc mắc, hiểu được vai trò của hóa học và học sinh có thể kiểm nghiệm qua thực tế.
Giáo viên có thể xen vấn đề này vào phần ứng dụng của clo trong chương trình hóa
học lớp 10.
• Vấn đề 12 : Tại sao sau những cơn mưa có sấm chớp thì đường xa, khu phố… trở
nên sạch quang, mát mẻ, trong lành.
Do không khí có
:
20% oxi nên khi có sấm chớp thì:
3O
2
→
¬
2O
3
O
3
→
O
2
+ O
Oxi nguyên tử có khả năng sát khuẩn. Nên ngoài những hạt mưa cuốn bụi thì O
3
là tác nhân làm môi trường sạch sẽ và cảm giác tươi mát.
Áp dụng:
Vấn đề này nên đề cập trong bài giảng về ozon, giúp học sinh kiểm nghiệm trong
đời sống mà đôi khi có nhiều học sinh không để ý đến. Đây là hiện tượng tự nhiên
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
Vấn đề này phải được đề cập trong bài giảng về photpho để giải thích hiện tượng
“ma trơi” trong đời sống tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống lành
mạnh.
• Vấn đề 14: Tại sao phải ăn muối có Iot?
Ăn muối để bổ sung hàm lượng iot có trong cơ thể, trong cơ thể một người
trưởng thành có chứa 20-50mg iot chủ yếu tập trung trong tuyến giáp trạng. Thiếu
iot trong tuyến này thì cơ thể sẽ bị một số bệnh như bướu cổ nặng hơn có thể gây
đần độn, phụ nữ thiếu iot có thể dẫn đến vô sinh, có biến chứng sau sinh. Mỗi ngày
phải đảm bảo cho cơ thể tiếp xúc với
:
150 microgam iot.
Áp dụng:
Điều này cần đề cập trong bài giảng về iot giúp học sinh hiểu được tại sao mọi
người phải ăn muối iot. Giúp các em tự nhận thấy tầm quan trọng của muối iot.
Cần lưu ý thêm với các em là hợp chất iot có thể bị phân hủy ở nhiệt độ cao. Vì
vậy phải nêm muối iot khi thực phẩm đã được nấu chín.
• Vấn đề 15: Tại sao khi nấu, xào thịt, đậu phụ không nên cho muối ăn vào quá sớm?
Vì trong thịt chứa protein vốn có tính keo, khi gặp những chất điện li mạnh sẽ bị
ngưng tụ thành những “óc đậu” khi nấu, xào nếu như cho NaCl vào sớm,gây khó
khăn cho việc thẩm thấu vào đậu, thịt và bị đông tụ cứng lại không có lợi cho tiêu
hóa.
Áp dụng:
Giáo viên có thể xen vào bài giảng của phần protein. Đây cũng là vấn đề thiết
thực bắt gặp trong cuộc sống và phục vụ thiết yếu trong chế biến thực phẩm.
• Vấn đề 16: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lại có lớp cặn ở dưới đáy ấm?
Cách tẩy lớp cặn này?
- Trong nước tự nhiên ở một số vùng là nước cứng tạm thời, tức là nước có chứa muối
Ca(HCO
3
↓
+CO
2
+H
2
O
CaCO
3
, MgCO
3
sinh ra đóng cặn.
- Cách tẩy cặn ở ấm: Cho vào ấm một lượng giấm (CH
3
COOH 15%) và rượu đun
sôi để nguội qua đêm thì tạo thành một lớp cháo đặc chỉ hớt ra và lau mạnh là sạch.
Áp dụng:
Giáo viên có thể xen vào trong bài giảng về nước cứng. Mục đích là cung cấp
mẹo vặt trong đời sống cũng góp phần cho học sinh hiểu bản chất của vấn đề có
trong đời sống hàng ngày,. Học sinh có thể ứng dụng trong đời sống gia đình mình
tạo sự hứng thú học tập. Đó là thí nghiệm tự làm được.
• Vấn đề 17: Vì sao nước biển lại mặn.
Các con sông, suối,…các dòng nước trên lục địa đều chảy về biển dương và hòa
tan mọi chất có thể hòa tan. Do quá trình bay hơi, các nguyên tố và hợp chất tụ tập
trong nước biển ngày càng nhiều theo thời gian. Vị mặn của nước biển chủ yếu do
NaCl gây nên. Trong nước biển có khoảng hơn 80 nguyên tố. Halogen có nhiều
trong nước biển, nguyên tố brom có trong nước biển tới 99% tổng lượng tồn tại và
chiếm 0,065% trong nước biển.
Áp dụng:
Điều này là hiển nhiên thấy trong đời sống, bất kể ai cũng có thể biết hiện tượng
này. Vấn đề nay có thể đưa vào bài dạy về halogen với mục đích giải thích vì sao
có vân tay đặt trên miệng ống nghiệm có đựng cồn iot dùng đèn cồn để đun nóng
phần đáy ống nghiệm. Đợi cho khí màu tím thoát ra (I
2
) từ ống nghiệm thì thấy dấu
vân tay dần hiện lên rõ nét (màu nâu) nếu bạn cất tờ giấy có vân tay đi mấy tháng
sau, làm tương tự cũng vẫn có hiện tượng như trên. Do đầu ngón tay có chất béo,
dầu khoáng, mồ hôi, khi ấn tay vào giấy sẽ lưu lại một phần trên giấy mặc dù mắt
thường không nhận ra. Các chất này khi gặp hơi iot cho màu nâu (chú ý hơi iot rất
độc không được ngửi).
Áp dụng:
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
18
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
Đây là câu chuyện nêu nên ứng dụng của hóa học trong đời sống giúp học sinh
hiểu biết nhiều hơn. Giáo viên có thể xen vào trong bài giảng về chất béo trong
chương trình lớp 12.
• Vấn đề 20: Lượng hóa chất trong cơ thể của con người như thế nào?
Các nhà khoa họa đã tính được rằng: lượng nước trong cơ thể mỗi người chúng
ta chỉ đủ giặt một chiếc áo sơ mi, còn lượng sắt chỉ đủ để làm một cái đinh 5 phân,
lượng đường chỉ đủ để làm nửa cái bánh ngọt nhỏ, vôi trong toàn bộ xương của cơ
thể đủ để xây một cái chuồng gà, còn lượng mỡ đủ nấu được 7 bánh xà phòng, phot
pho đủ sản xuất 2200 đầu que diêm, lưu huỳnh đủ để giết một con bọ chét, cộng cả
lại kể cả các nguyên tố khác như: Mg, Cu, K…Theo các nhà bác học tính ra thì với
một người nặng 65kg, giá trị của chúng chỉ đáng giá chưa tới 3 đô la Mỹ.
Áp dụng:
Đây là tình huống có tính chất khôi hài nhưng có thể giúp cho học sinh nắm được
cơ bản thành phần nguyên tố trong cơ thể con người. Giáo viên có thể đưa vào bài
giảng nhằm làm tăng thêm quan điểm duy vật.
• Vấn đề 21: Vì sao tay một người dính cồn iot,cầm bánh mì thì có chấm xanh trên
bánh?
O
6
trong cây xanh để tạo ra tinh bột được xảy ra như
sau:
6CO
2
+ 6H
2
O
→
C
6
H
12
O
6
+ 6O
2
Q = -2813KJ
a. Nếu mỗi ngày 1dm
2
lá xanh hấp thụ được 94,8mg CO
2
thì sẽ tạo ra bao nhiêu gam
C
6
H
12
O
6
6.44g 180g
94,8.10
-3
g x g
=> x = 64,36.10
-3
g
b. Tổng diện tích của 10 lá xanh là: 10.10 = 100cm
2
= 1dm
2
Tổng năng lượng mặt trời cung cấp mỗi phút cho 10 lá xanh:2,1 . 100=210 J
Trong đó chỉ có 210 . 10%=21 J tạo C
6
H
12
O
6
Theo phương trình: 6CO
2
+ 6H
2
O
→
C
6
H
12
O
6
• Vấn đề 24: Vì sao khi ăn cơm nhai kĩ sẽ thấy vị ngọt?
Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của con
người có các enzim. Khi nhai kĩ trộn đều tuyến nước bọt làm tăng cơ hội chuyển hóa
một lượng tinh bột theo phản ứng thủy phân thành mantozơ, glucozơ gây ngọt theo
sơ đồ:
Tinh bột
2
,amilaza H O
→
Đetrin
2
,amilaza H O
β
−
→
Mantozơ
2
,amilaza H O
→
glucozơ
Áp dụng:
Lĩnh vực này có thể áp dụng đến trong bài dạy về tinh bột, cung cấp cho học sinh
kiến thức cơ bản của sự chuyển hóa tinh bột trong khi ăn. Đó cũng là một hiện
tượng tự nhiên đều cảm nhận được trong các bữa cơm của chúng ta.
• Vấn đề 25: Giải bài toán.
Một nhà máy đường mỗi ngày xử lí 30 tấn mía. Cứ một tạ mía cho 65 lít nước
mía với nồng độ đường 7,5% và khối lượng riêng 1,103g/ml. Cô cạn dung dịch
đường này thành mật chứa 10% đường, từ đó chế ra đường thô. Để chuyển đường
thô thành đường kính người ta phải dùng vôi với liều lượng 2,0kg vôi sống cho
100kg đường thô. Xác định lượng nước bay hơi trong mỗi ngày sản xuất đường thô
biến đổi tính phi kim và kim loại trong một chu kì, phân nhóm chính.
Áp dụng:
Có thể áp dụng cách nêu vấn đề này hay một ví dụ có tính chất tương tự để xây
dựng quy luật về tính phi kim, kim loại trong một nguyên tố, tính axit bazơ của oxit,
hiđroxit của nguyên tố trong một chu kì, phân nhóm chính. Có thể giúp học sinh học
dễ nhớ hơn.
• Vấn đề 27: Khi dạy về bài ankan, giáo viên có thể cách ghi nhớ tên của 10 ankan
đầu dãy đồng đẳng bằng cách đưa ra dòng đọc vần điệu:
Me 1, e 2, bu 4, pro 3, pen 5, hex 6, 7 là heptan, thứ 8 là chú octan, nonan thứ 9, decan
thứ 10.
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
22
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
Hay: Mẹ em phải bón phân hóa học ở ngoài đồng.
Hay: Mê em phải bỏ phí học hành ơi người đẹp
Áp dụng:
Đây là cách giúp học sinh liên hệ được ngay giữa tên gọi với số nguyên cacbon
của từng công thức và áp dụng công thức tổng quát C
n
H
2n+2
để viết công thức phân
tử và ngược lại từ công thức phân tử có thể gọi được tên của chúng. Vì thực tế học
sinh mới học đến phần ankan nên rất khó khăn trong gọi tên và viết công thức phân
tử.
• Vấn đề 28: Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc (CO), hoặc nhiều khí thiên
nhiên (CH
4
…) không có khí oxi, để tránh khi xuống giếng bị ngạt?
Trong các giếng đào đặc biệt nhiều ở vùng đồng bằng thường có khí độc CO,
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước
RCHO + 2AgNO
3
+ 3NH
3
+ H
2
O
→
RCOONH
4
+ 2Ag
↓
+ 2NH
4
NO
3
Ag tạo ra bám chặt vào gương, người ta quét lên sau mặt gương một lớp sơn dầu
bảo vệ. Phích nước cũng được chế tạo theo kiểu này.
Áp dụng:
Giáo viên có thể nêu vấn đề này trong các tiết dạy về anđehit, glucozơ để học
sinh hiểu được phần nào về sự tạo gương, ruột phích mà hàng ngày ai cũng bắt gặp.
III. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN:
Việc nhìn được thực trạng của học sinh nơi tôi công tác nên tôi đã viết sáng kiến.
Tôi quyết tâm triển khai nội dung như sau:
+ Đầu tiên nêu tên đề tài nội dung nghiên cứu trước tổ nhận xét, góp ý.
+ Tiếp theo đưa đề tài đến học sinh thông qua các bài giảng, bài tập có liên quan đến
nội dung trong đề tài.
+ Lồng ghép các bài tập trong các bài kiểm tra.
Qua nghiên cứu và áp dụng cho học sinh Trường Cấp 2-3 Xuân Phước tôi thu
được hiệu quả nhất định, để học tập môn hóa học của các em có kết quả cao hơn và
kiến thức vững hơn. Tôi kiến nghị đồng nghiệp và hội đồng khoa học của trường PT
Cấp 2–3 Xuân Phước cũng như hội đồng khoa học của Sở Giáo Dục và Đào Tạo
Tỉnh Phú Yên góp ý kiến thêm để đề tài của tôi hoàn thiện hơn.
Trong khi chờ sự xem xét, nghiên cứu đánh giá của Hội đồng khoa học các cấp tôi
xin chân thành cảm ơn nhiều. Chúc hội đồng khoa học các cấp sức khỏe, hạnh phúc, thành
đạt.
Xuân Phước, ngày 09 tháng 03 năm 2010
Người viết
Ninh Thị Hồng Thảo
PHẦN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . .
GV: Ninh Thị Hồng Thảo Trang
25