Một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục địa lí địa phương huyện tĩnh gia nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy địa lí THPT tại trường THPT tĩnh gia 3 - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP
GIÁO DỤC ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG HUYỆN TĨNH GIA NHẰM
KINH
NGHIỆM
GHÉP
NÂNGMỘT
CAOSỐ
HIỆU
QUẢ
GIẢNGLỒNG
DẠY ĐỊA
LÝ THPT
GIÁO DỤC ĐỊATẠI
LÝTRƯỜNG
ĐỊA PHƯƠNG
HUYỆN
TĨNH
THPT TĨNH GIA 3 GIA NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ THPT
TẠI TRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3

THPT Tĩnh Gia 3 ...........................................................................................
2.3.1. Lồng ghép kiến thức Địa lí địa phương trong từng bài giảng phù hợp
với mục tiêu bài học .......................................................................................
2.3.2. Lồng ghép kiến thức Địa lí Địa phương Tĩnh Gia qua việc ra bài tập
về nhà để học sinh tự nghiên cứu và tìm hướng giải quyết ...........................
2.3.3. Lồng ghép kiến thức Địa lí Địa phương Tĩnh Gia qua việc yêu cầu
HS sưu tầm các tư liệu Địa lí liên quan đến kiến thức trong bài học .............
2.4. Hiệu quả của đề tài...................................................................................
3. Kết luận, khuyến nghị ...........................................................................
Tài liệu tham khảo .......................................................................................

Tran
g
1
2
2
2
2
3
3
4
5
5
9
11
14
17
19



xong chương trình THPT nhưng kiến thức về địa phương rất hạn chế. Ngoài các tiết
dạy Địa lý địa phương theo quy định, thầy (cô) giáo chưa thường xuyên đưa kiến
thức Địa lý địa phương vào bài giảng , hoặc nếu có cũng chỉ dừng lại ở mức dùng
kiến thức Địa lí địa phương minh họa cho những kiến thức trong bài dạy. Vì vậy
học sinh chỉ nhìn thấy các hiện tượng địa lí như: ở địa phương mình có khoáng sản
gì? Có ngành công nghiệp gì, có cây trồng, vật nuôi gì…trong khi đó học sinh
không có cơ hội để tìm hiểu sâu hơn một cách có hệ thống. Do đó, kiến thức Địa lý


địa phương của học sinh thường nghèo nàn, việc cung cấp và bổ sung kiến thức Địa
lý địa phương cho học sinh còn nhiều hạn chế.
Một số lí do trên đang cản trở con đường tiếp cận, sáng tạo tri thức của Thầy
và Trò trong môn Địa lí. Nhận thấy tính cấp thiết đó, những năm học qua tôi đã thử
nghiệm phương pháp lồng ghép một số nội dung Địa lí địa phương huyện Tĩnh Gia
vào các bài học Địa lí THPT mà chủ yếu là cho khối 10 và khối 12. Đó cũng là lí
do Tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục Địa lí địa
phương huyện Tĩnh Gia nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy Địa lí THPT tại trường
THPT Tĩnh Gia 3”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “ Một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục Địa lí địa
phương huyện Tĩnh Gia nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy Địa lí THPT tại trường
THPT Tĩnh Gia 3” với mục đích:
Giúp học sinh có thể nắm rõ và hiểu được các hiện tượng địa lí tự nhiên,
kinh tế - xã hội và các vấn đề môi trường qua các hiện tượng địa lí cụ thể của
huyện Tĩnh Gia.
Rèn luyện các kĩ năng xác định vị trí, thu thập, xử lí và phân tích bản đồ,
biểu đồ và các thông tin qua các hiện tượng địa lí thực tiễn tại địa phương nơi các
em sinh sống, từ đó dần hình thành cho học sinh tính chủ động tìm tòi, sáng tạo, tự
học.
Khơi gợi và vun đắp ở học sinh lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất

gây ô nhiễm không khí, nước, thực vật và đất; hướng dẫn học sinh chụp ảnh, quay
phim thu thập chứng cứ huỷ hoại nguồn tài nguyên nhân văn, các danh thắng của
quê hương và đất nước. Rõ ràng là mục tiêu của Giáo viên không chỉ giới hạn ở
chỗ chỉ nghiên cứu một không gian quen thuộc. Hiểu biết địa lí địa phương chỉ là
giai đoạn đầu của quá trình nhận thức mà qua hiểu biết địa lí địa phương và quốc
gia có thể nói khái quát hơn là địa lí khu vực (geographic regionale) sẽ đi tới hiểu
biết thế giới”.
Điạ lý địa phương - cơ sở của kiến thức địa lí. Ngày nay, thực tế mọi người
đều công nhận rằng dạy học địa lí địa phương phải bắt đầu bằng những sự kiện có
thực trong không gian bao quanh trường, trong làng xóm quê hương mà học sinh
có thể quan sát được. Đó là yêu cầu một mặt do chính bản thân khoa học địa lí, một
trong những khoa học dựa trên phương pháp quan sát, mặt khác do tâm lí học sinh
thiên về tính cụ thể, thích khám phá và hướng về hành động đòi hỏi phải như vậy.
Ưu tiên nghiên cứu môi trường địa phương trong giảng dạy địa lí, ít nhất là về mặt
thời gian là công nhận một phương pháp giảng dạy có tính trực giác và cụ thể, tức
là tôn trọng nguyên tắc lấy hiện thực làm nền tảng cho giảng dạy. Theo quan niệm
hiện đại về việc học “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó
chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình,
bằng cách thu nhận xử lí thông tin, lấy từ môi trường sống chung quanh”. Nguyên
tắc mà địa lí tuân thủ một cách đặc biệt chính là xuất phát từ chỗ những khái niệm
tiếp thu sau phải dựa trên những khái niệm đã tiếp thu từ trước và lấy thực tiễn làm
trực quan sinh động.
Như đã nói ở trên, Địa lí địa phương phải tạo điều kiện để học sinh có thể
học trên lớp, nghiên cứu khảo sát ngoài thực địa, phân tích, tổng hợp, trình bày
quan điểm cá nhân một cách khoa học. Để làm được điều đó, bản thân mỗi giáo


viên ngoài việc cần dành nhiều thời gian cho phần liên hệ thực tế thì còn phải
thường xuyên đưa ra những yêu cầu để học sinh về nhà tìm hiểu những hiện tượng
địa lí tại địa phương mình có liên quan đến bài học trên lớp, suy nghĩ và giải thích

động áp dụng và đưa các phương pháp dạy học tích cực trở thành phương pháp
dạy học chính thức.
Kinh phí đầu tư cho tiết học khảo sát thực địa không có đã hạn chế vai trò
của giáo dục địa phương đối với việc lĩnh hội kiến thức của học sinh.
Kết quả xếp loại học lực môn Địa lí trường THPT Tĩnh Gia 3 năm học 2015
– 2016 như sau: Tổng số: 1202 học sinh
Xếp loại
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém


Số lượng( Học sinh)
30
640
434
89
6
Tỉ lệ (%)
2,5
53,3
36,3
7,4
0,5
Phân tích kết quả của môn học như trên cho thấy: tỉ lệ học sinh xếp loại bộ
môn Địa lí từ trung bình trở xuống là khá cao (chiếm hơn 40%), đặc biệt là nhóm
học sinh yếu, kém mà nguyên nhân đã được nêu ở trên, như vậy cần thiết phải hình
thành cho học sinh cách thức học tập để tiếp cận với môn học nhanh, đơn giản và

nội dung kiến thức của bài đó, từ đó mới đi tìm và lựa chọn các kiến thức phù hợp
với nội dung của bài học.
Các kiến thức đưa vào bài phải có hệ thống, tránh sự trùng lặp, phải thích
hợp với trình độ của học sinh, không gây quá tải đối với nhận thức của các em


trong việc lĩnh hội nội dung chính của bài học. Theo nguyên tắc này, những kiến
thức đưa vào bài cần được sắp xếp đúng chỗ, hợp lý, làm cho kiến thức môn học
thêm phong phú, sát với thực tiễn và logic của môn học, bài học không bị phá vỡ,
học sinh hứng thú học tập vì luôn được cung cấp những kiến thức mới.
Sau đây là một số ví dụ dẫn chứng của đề tài:
Ví dụ 1:
Khi dạy bài 8 – Địa lí 10 “ Tác động của nội lực đến địa hình bề mặt đất”,
mục tiêu đặt ra cần phải giúp học sinh hiểu rõ nội lực có vai trò rất quan trọng làm
thay đổi địa hình bề mặt Trái đất thông qua các vận động địa chất. Để giúp học sinh
hiểu được tác động của nội lực theo phương nằm ngang qua hiện tượng uốn nếp,
giáo viên đặt câu hỏi: Dựa vào vận động uốn nếp địa hình, Em hãy mô tả những
đặc điểm hình dạng của vùng núi đá vôi tại xã Trường Lâm, Tân Trường. Sau đó
học sinh có thể mô tả: vùng núi đá vôi gồm nhiều ngọn núi đá nằm liền kề với kích
thước lớn bé khác nhau, có màu trắng đục hoặc màu hỗn hợp của đá trầm tích. Nếu
có lát dọc sẽ thấy những đường vân uốn thành nếp có thứ tự rõ rệt, đó là hệ quả của
vận động uốn nếp địa chất điển hình.
Nếu học sinh còn vướng mắc trong câu trả lời thì giáo viên sẽ bổ sung thêm.
Bởi đây cũng là phần kiến thức liên quan đến địa chất khá phức tạp, nếu chỉ để học
sinh tự giải quyết sẽ khó khăn. Tuy nhiên, không phải địa phương nào cũng có
được ví dụ điển hình thực tế này, vì vậy đây là cơ hội tốt để các em khám phá thực
tế.
Ví dụ 2:
Khi dạy bài 9 – Địa lí 10 “ Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt đất”,
Kết hợp với bài học trước, khi liên hệ địa hình uốn nếp đá vôi tại xã Trường Lâm,

công nghiệp”. Mục tiêu của bài này là phân biệt được đặc điểm của bốn hình thức
tổ chức lãnh thổ công nghiệp chủ yếu. Đối với hình thức khu công nghiệp, Giáo
viên rất thuận lợi khi cho học sinh lấy ví dụ về khu công nghiệp Nghi Sơn làm
minh họa rõ nét. Câu hỏi đặt ra: Các em quan sát biểu hiện nào cho thấy Nghi Sơn
cũng được xem là hình thức của khu công nghiệp?
Học sinh sẽ lần lượt trả lời: để có diện tích mặt bằng rộng các nhà thầu thực
hiện di dời dân ra khỏi khu công nghiệp, nhiều ngành công nghiệp trong đó có một
số ngành công nghiệp quan trọng hạt nhân và chỉ ra nhà máy sản xuất công nghiệp
làm hạt nhân cho khu công nghiệp của địa phương các em, đặc biệt là nhà máy lọc
hóa dầu Nghi Sơn đang trong quá trình hoàn thiện sẽ trở thành nhà máy hóa dầu
tầm cỡ khu vực Đông Nam Á. Đang tiếp tục xây dựng các công trình bổ trợ sản
xuất như nâng cấp, mở rộng tuyến đường 513, xây dựng cao tốc sân bay Sao Vàng
- cảng Nghi Sơn chiều dài 60km, quốc lộ 1A đoạn qua địa bàn Tĩnh Gia, cảng nước
sâu Nghi Sơn, công trình nhiệt điện ra đời, các nhà kho bến bãi.v.v. đã thu hút rất
lớn sự quan tâm và đầu tư của Chính phủ và doanh nghiệp nước ngoài như Coet,
Nhật Bản, Trung Quốc.
Ví dụ 5:
Khi dạy bài 36 – Địa lí 10 “ Vai trò, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến
phát triển, phân bố ngành giao thông vận tải”, để chứng minh cho vai trò của ngành
này trong việc tạo mối liên hệ kinh tế, xã hội giữa các địa phương, Giáo viên yêu
cầu các em nêu những tuyến giao thông chính mà địa phương hiện đang sử dụng,
đồng thời so sánh sự khác biệt trong nền kinh tế của các xã thuộc địa bàn Tĩnh Gia
trong những năm qua khi Nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống giao thông này. Với
yêu cầu này, học sinh sẽ kể tên ngay lập tức một số tuyến đường bộ quan trọng gồm
quốc lộ 1A, tuyến đường đông tây 513, đường một chiều khu kinh tế Nghi Sơn,
cảng biển nước sâu Nghi Sơn.v.v. Những tuyến giao thông huyết mạch này đang
làm thay đổi từng ngày bộ mặt địa phương, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và cải
thiện đời sống nhân dân một cách rõ rệt.



tác dụng đạt mục tiêu hình thành kiến thức và kĩ năng đặt ra, mà còn một phần giáo
dục nhận thức của các em, hoặc có thể thức tỉnh một số đối tượng học sinh nếu các
em đang ở trong thực trạng như trên.
Bên cạnh đó, đô thị hóa gắn liền với công nghiệp hóa đang gây ra tình trạng
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở các xã nơi các em hàng ngày sinh sống, đi lại,
học tập. Học sinh có thể nêu ra tình trạng ô nhiễm bụi do xe công trường trọng tải
lớn liên tục vận hành, chuyên tải đất đá trên tuyến đường 513 đoạn Cầu Hổ - Nghi
Sơn, thậm chí còn gây nên những tai nạn giao thông thương tâm cho nguời dân và
ngay chính bản thân các em học sinh. Một số xã như Mai Lâm, Hải Thượng, Hải


Hà còn bị cô lập nếu mùa mưa kéo dài, đường sá lầy lội bùn đất, học sinh phải nghĩ
học.
Có thể nói, trong số các bài học lồng ghép giáo dục địa lí địa phương, thì đây
là bức tranh sống động nhất mà chắc chắn rất nhiều em học sinh trường Tĩnh Gia 3
được trực tiếp trải nghiệm. Vì vậy sẽ thật là thiếu sót nếu Giáo viên không thể
truyền tải thông điệp bài học qua kiến thức thực tế ấy của các em.
Ví dụ 8:
Khi dạy bài 23 – Địa lí 12 “ Vấn đề phát triển thủy sản và lâm nghiệp”,
Riêng trong nội dung ngành thủy sản, Giáo viên có thể liên hệ hiểu biết của học
sinh về hoạt động thủy sản của địa phương với các xã ngư nghiệp như Hải Bình,
Tĩnh Hải, Hải Yến, Nghi Sơn. Câu hỏi đặt ra cho các em là: hoạt động kinh tế chính
của địa phương các em là gì? Tại sao địa phương em có thể phát triển hoạt động
kinh tế đó?
Học sinh có thể trả lời: kinh tế chính ở địa phương em là nghề cá dựa trên
đánh bắt là chủ yếu. Dựa vào vị thế giáp biển, nhiều bãi cá, tôm và các hải sản
khác. Các đội tàu đánh bắt được đầu tư đánh bắt xa bờ. Một số học sinh Nghi Sơn
còn bổ sung hoạt động nuôi trồng thủy sản của đảo này.
Như vậy, không cần mất nhiều thời gian và công sức cho việc giảng giải,
giáo viên đã giúp học sinh khắc sâu được hoạt động thủy sản và những tiềm năng

Bước 1: Đổi vĩ độ của Tĩnh Gia ra giây:
19º27'= 70020''
Bước 2: Tính số giây Mặt Trời di chuyển mỗi ngày:
23º27': 93 ngày = 15'8''= 908''
Bước 3: Tính số ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh từ xích đạo đến Tĩnh Gia(19º27'B):
70020'' : 908'' = 77 ngày
Bước 4: Tính ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh ở Tĩnh Gia:
Vậy Mặt Trời lên thiên đỉnh ở Tĩnh Gia lần thứ nhất vào ngày:
21 tháng 3 + 77 ngày = ngày 6 tháng 6
Vậy Mặt Trời lên thiên đỉnh ở Tĩnh Gia lần thứ hai vào ngày:
23 tháng 9 - 77 ngày = ngày 8 tháng 7
Sau khi học xong bài này, giáo viên có thể yêu cầu các em tự kiểm nghiệm thực
tế vào ngày 6 tháng 6 và ngày 8 tháng 7 để quan sát hiện tượng này. Tuy nhiên,
dạng bài tập này khá phức tạp so với lực học của đa số học sinh trung bình trở
xuống, chỉ một số học sinh khá giỏi mới làm được. Song, từ kết quả tìm được
những học sinh đó vẫn có thể biết được thời điểm Tĩnh Gia có Mặt Trời lên thiên
đỉnh để các em quan sát và qua nhiều lần như vậy cũng sẽ hình thành kĩ năng tư
duy, tính toán và phân tích cho các em.
Ví dụ 2:
Khi dạy bài 12 – Địa lí 10 “ Sự phân bố khí áp. Một số loại gió chính”, Mục
tiêu bài học yêu cầu học sinh phải nắm được khí áp trên trái đất phân bố như thế
nào, nguyên nhân của sự thay đổi khí áp và đặc điểm hoạt động của một số loại gió
chính. Trong nội dung mục gió địa phương, học sinh cần nghiên cứu loại gió Fơn,
gió hình thành do sự biến tính của gió mát và ẩm thổi tới một dãy núi, bị núi chặn
lại, không khí ẩm bốc lên cao 100m giảm 0,6ºC. Vì nhiệt độ hạ, hơi nước ngưng tụ,
mây hình thành và mưa rơi bên sườn đón gió; khi không khí sang sườn bên kia, hơi
nước đã giảm nhiều, nhiệt độ tăng lên theo tiêu chuẩn không khí khô khi xuống núi,
trung bình là 100m tăng 1ºC, nên sườn khuất gió có gió khô và rất nóng. Ở miền
Trung Việt Nam thường gọi loại gió này là gió Lào. Tại Tĩnh Gia, loại gió này cũng
hoạt động vào những tháng đầu mùa hè, mạnh nhất vào các tháng V, VI và VII. Từ

Giáo viên hướng dẫn một số kênh thông tin sẽ hổ trợ học sinh trong quá trình
sưu tầm tài liệu là các tạp chí, sách báo, Internet.v.v. của Tĩnh Gia.
Sau đây là một số ví dụ dẫn chứng của đề tài:
Ví dụ 1:
Trước khi dạy bài 24 - Địa lí 10: “Phân bố dân cư. Các loại hình quần cư và đô
thị hóa” phần III: Đô thị hóa, Giáo viên yêu cầu học sinh hoặc nhóm học sinh tìm
hiểu ảnh hưởng của đô thị hóa tại địa phương. Học sinh có thể quay phim, chụp
hình vể sự sầm uất trong hoạt động buôn bán, về mức sống cao của người thành thị
và bên cạnh đó là tác động tiêu cực của đô thị hóa với rác thải, khí thải và ô nhiễm
môi trường. Dưới đây là hình
ảnh minh họa được sưu tầm:
Hình 1:
Ô nhiễm cửa sông


Lạch Bạng do rác thải
sinh hoạt
( nguồn: Internet)
Ví dụ 2:
Trước khi dạy bài 42 - Địa lí 10: “Môi trường và sự phát triển bền vững”, Giáo
viên có thể yêu cầu học sinh tìm hiểu hoạt động khai thác tài nguyên tại địa
phương. Ở huyện Tĩnh Gia học sinh có thể tìm hiểu hoạt động khai thác đá tại mỏ
đá vôi Trường Lâm, từ đó đề ra các giải pháp để vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế vừa
bảo vệ môi trường. Sau đó đại diện nhóm sẽ trình bày trước lớp và cả lớp sẽ thảo
luận. Dưới đây là hình ảnh minh họa được sưu tầm:

Hình 2:
Khai thác và sản xuất đá mỏ
đá Hang Dơi - Tân Trường
( nguồn: Internet)

Hình 4:
Dự án hóa dầu Nghi Sơn
trong giai đoạn hoàn thiện
( nguồn: Internet)
Ví dụ 5:
Khi dạy bài 30 - Địa lí 12: “Giao thông vận tải và thông tin liên lạc”, Giáo viên
có thể yêu cầu học sinh tìm hình ảnh về thực trạng ngành giao thông vận tải và
thông tin liên lạc tại địa phương và đề xuất một số giải pháp sau đó trình bày và
thảo luận trước lớp. Dưới đây là hình ảnh minh họa được sưu tầm:
Hình 5:
Cảng Nghi Sơn đang nâng cấp
mở rộng
( nguồn: Internet)

Ví dụ 6:
Khi dạy bài 31 - Địa lí 12: “ Vấn đề phát triển thương mại và du lịch” phần 2. du
lịch, Giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm hiểu về du lịch của địa phương qua
những tài nguyên du lịch đa dạng sẵn có của Tĩnh Gia có sức hấp dẫn đặc biệt du
khách như tài nguyên hang động, tài nguyên du lịch biển, các chùa chiền, lễ hội, ẩm


thực.v.v... Sau đó các nhóm tự giới thiệu về những sản phẩm được tạo ra sau quá
trình tìm hiểu, khai thác. Dưới đây là hình ảnh minh họa được sưu tầm:

Hình 6.1. Động Trường Lâm
( nguồn: Internet)

Hình 6.2. Bãi biển Hải Hòa
( nguồn: Internet)


Tất cả các môn học đều có quan hệ mật thiết với cuộc sống xung quanh các
em. Vì vậy không thể dạy học nói chung và dạy Địa lí nói riêng đạt được kết quả
nếu không gắn liền với thực tế. Ngoài ra với yêu cầu gắn giáo dục với thực tiễn,
gắn lý thuyết với thực hành thì giảng dạy Địa lí không thể thiếu phần Địa lí địa
phương. Không chỉ vậy, với tinh thần của việc đổi mới phương pháp dạy học thì
giáo viên không chỉ dạy đủ kiến thức mà còn phải tạo được hứng thú cho học sinh
trong quá trình giảng dạy. Vì thế có thể nói các giải pháp của đề tài đã góp phần
giải quyết được cả về mặt lí luận và thực tiễn trong giáo dục hiện nay.
Sau đây là một số kết quả thống kê khảo sát về kiến thức địa lí địa phương của
học sinh trước và sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tại trường THPT
Tĩnh Gia 3:
PHIẾU KHẢO SÁT KIẾN THỨC ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG THPT TĨNH GIA 3
Lớp…………
1/ Em có biết ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh ở Tĩnh Gia là ngày nào?
 Có (Đó là ngày……………………………………………)
 Không
2 / Em có biết tài nguyên du lịch có ở Tĩnh Gia và, thực trạng khai thác các tài
nguyên này.
 Có
(Đó là: .......................................................................................................................
.....................................................................................................................................
....................................................................................................................................)
 Không
3 / Em có biết ở Tĩnh Gia có những hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp nào
không? Cho ví dụ.
 Có
(Đó là: .......................................................................................................................
.....................................................................................................................................
....................................................................................................................................)

2016-2017
50%
70%

Năm học
Lớp 10
Lớp 12

2015-2016
5%
15%

2016-2017
40%
60%

Năm học
Lớp 10
Lớp 12

2015-2016
15%
20%

2016-2017
60%
80%

2/ Tỉ lệ học sinh lớp 10 và 12 biết tài nguyên du lịch có ở Tĩnh Gia:


vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn theo
những khuôn mẫu sẵn có, phát huy được khả năng sáng tạo của học sinh. Điều đó
vừa phù hợp với luật giáo dục Việt Nam vừa đào tạo được một lớp người xây dựng
xã hội hiện đại. Đây là thế mạnh của môn học trong việc áp dụng phương pháp tích
cực mà tất cả Giáo viên Địa lí cần áp dụng. Đặc biệt đối với đề tài này, khă năng áp
dụng cho đối tượng học sinh THPT trên địa bàn Tĩnh Gia nói chung và trường
THPT Tĩnh Gia 3 nói riêng sẽ rất khả quan.
3.2. Kiến nghị
Sau quá trình kiểm chứng thực tế tại trường, các giải pháp của đề tài đã chứng tỏ
được tính khả thi cũng như hiệu quả của nó. Hơn nữa những giải pháp này hoàn
toàn có thể thực hiện được cho việc giảng dạy địa lí tại trường THPT Tĩnh Gia 3.
Vì vậy tôi xin đề xuất một số ý kiến như sau:
Về phía nhà trường:
Tạo điều kiện về cơ sở vật chất cũng như nguồn kinh phí cho giáo viên có
thể thực hiện được các hoạt động ngoại khóa tìm hiểu Địa lí địa phương
Hỗ trợ học sinh trong quá trình tiếp cận, sưu tầm,nghiên cứu các nguồn tư
liệu của địa phương
Về phía tổ chuyên môn
Có kế hoạch đề xuất các hoạt động ngoại khóa từ đầu năm học để tạo các sân
chơi cho học sinh về kiến thức Địa lí địa phương
Tổ chức trao đổi giữa các giáo viên về cách lồng ghép kiến thức địa lí địa
phương vào bài giảng sao cho vừa hiệu quả, vừa phù hợp với thực tế địa phương
mình.
Thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm giữa các giáo viên trong quá trình tổ
chức các hoạt động cho học sinh tìm hiểu Địa lí địa phương nhằm đạt hiệu quả cao
nhất
Về phía giáo viên


Cần có sự đầu tư đúng mức cho việc giảng dạy Địa lí địa phương và phải

2. Lê Thông (tổng chủ biên)
Sách giáo khoa Địa lí lớp 12. Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2008.
3. Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phú – Đậu Thị Hòa
Lí luận dạy học Địa lí. Đà Nẵng, 2003
4. Nguyễn Phi Hạnh - Nguyễn Thị Thu Hằng
Giáo dục môi trường qua môn Địa lí. Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội, năm 2002
5. Đặng Văn Đức - Nguyễn Thu Hằng
Phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực. Nhà xuất bản giáo dục, năm 2000
6. Đặn Văn Đức – Nguyễn Thu Hằng
Phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực. Nhà xuất bản Đại học sư phạm,
năm 2003
7. Bộ giáo dục và đào tạo
Địa lí địa phương. Nhà xuất bản giáo dục, năm 1999
8. Một số tài liệu trên Internet




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status