Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Bộ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
PHẠM THỊ THU HÀ
THỰC TRẠNG THU GOM, xử LÝ VÀ KIẾN THỨC, THỰC
HÀNH
CỦA NHÂN VIÊN Y TẼ VÊ
Nước THẢI TẠI MỆT sỗ BỆNH
VIỆN
THUỘC TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TÉ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60. 72. 03. 01
Huóng dẫn khoa học:
PGS.TS. Phạm Văn Trọng
THẢI BÌNH -2014
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt
nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình cùa các thầy cô giáo, bạn bè,
đồng nghiệp và gia đình. Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Ban
Giám hiệu, Phòng Quán lý đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng
Trường Đại học Y Dược Thái Bình cùng các thây cô giáo đã nhiệt tình
giáng dạv, hướng dân và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
Phạm Thị Thu Hà
AAO
BOD5
BTNMT
BV
BVCK
BVĐK
COD
CTYT
FRP
KPH
MPN
NTBV
NVYT
QCVN
Anarobic - Anoxic - Oxic (Yếm khí - Thiếu khí - Hiếu khí) Biochemical Oxygen Demand (Nhu cầu oxy sinh hoá sau 5 ngày) Bộ Tài nguycn và Môi trường Bệnh viện
Bệnh viện chuyên khoa Bệnh viện đa khoa
Chemical Oxygen Demand (Nhu cầu oxy hoá học)
Chất thải y tể
Fibeglass Reinfored Plastic (Vật liệu composite cốt sợi thủy tinh) Không phát hiện
Most probable number (Số có xác suất cao nhất)
Nước thải bệnh viện Nhân viên V tế Quy chuẩn Việt Nam Ticu chuẩn Việt Nam
Total Suspended Solid (Tồng chất rắn lơ lửng)
Xứ lý chất thải Xừ lý nước thải
World Health Organization (Tồ chức Y tể Thế giới)
Nội dung
Biếu đồ 3.4.
Biểu đồ 3.5.
Biểu đồ 3.6.
Biểu đồ 3.7.
Nội dung biểu đồ
Trang
Đánh giá các chỉ tiêu của nước thải sau xử lý tại 4 bệnh viện.... 46
Nội dung hộp
Trang
9
ĐẶT VẤN ĐÈ
Ngành Y tế là ngành có nhiều hoạt động đa dạng, trên nhiều lĩnh vực như:
khám chữa bệnh, dự phòng, tuycn truyền giáo dục sức khởe, nghicn cứu khoa học,
sản xuất thuốc và sinh phẩm y tế, kiêm nghiệm thuốc, kiểm nghiệm an toàn vệ sinh
thực phẩm, trang thiết bị y tế.... Nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế là chăm sóc,
bảo vệ và nâng cao sức khoẽ nhân dàn. Những yếu tố vệ sinh môi trường của các cơ
sở y tế có ảnh hướng rất lớn tới kết quả điều trị cả về chất lượng và thời gian điều
trị, tác động trực tiếp tới tâm lý, tinh thần người bệnh.
thiểu các nguy cơ đối với môi trường và sức khoẻ, năm 1999 Bộ Y tế đã ban hành
quy chế quăn lý chất thải y tế quy định việc xử lý chất thải toàn diện tại các cơ sở y
tế. Do còn nhiều bất cập nên ngày 30 tháng 11 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Y te đã ra
quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về Quy chế quán lý CTYT thay thế. Ọuy chế này
được áp dụng đối với các cơ sở khám, chữa bệnh, nhà hộ sinh, trạm y tế, cơ sở
nghiên cứu y dược, y te dự phòng, đào tạo cán bộ y tế, sàn xuất, kinh doanh dược
phâm, vacxin, sinh phẩm y tế (gọi chung là các cơ sờ y tế) và các tổ chức, cá nhân
tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy CTYT [8],
Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi tiến hành nghicn cứu đề tài “Thực
trạng thu gom, xử lý và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về nước thái tại
một số bệnh viện thuộc tinh Thái Bình năm 2014” với mục tiêu:
1. Mô tả hệ thong thu gom, xử lý và đánh giá chắt lượng nước thải tại một
số bệnh viện thuộc linh Thái Bình năm 2014.
2. Đánh giá kiến (hức, thực hành của nhân viên y tế về nước thái và xử lý
nước thải tại địa hàn nghiên cứu.
1
1
Chương 1
TÓNG QUAN
1.1. Khái niệm về nước thải bệnh viện
Nước thải bệnh viện (NTBV) là nước thái phát sinh từ các hoạt động chăm
sóc điều trị bệnh nhân và sinh hoạt trong BV. NTBV phát sinh từ các hoạt động
chuyên môn tại phòng mổ, phòng khám bệnh, phòng chấn đoán bệnh (xét nghiệm
cận lâm sàng, chân đoán hình ảnh, sinh thiết mô bệnh học...) và từ các phòng điều
trị, những thiết bị vệ sinh [8],[20],[47].
NTBV phát sinh từ nhiều nguồn: Sinh hoạt của bệnh nhân, người nuôi bệnh
nhân, cán bộ và còng nhân viên của BV, pha chế thuốc, tẩy khuẩn, lau chùi phòng
tiếp đến nước ao, hồ, sông mà ngấm xuống đất, tích lũy tồn đọng trong nguồn nước
ngầm. Nguồn nước thải chứa vi khuẩn gây bệnh có thể dần đến dịch bệnh cho người
và động vật qua nguồn nước và các loại rau được tưới nước thải.
Có thề thấy rằng lượng nước mà BV dùng trong một ngày sẽ chính là lượng
nước thải trong một ngày nếu hệ thống thoát nước của BV hoàn chỉnh, tuỳ thuộc
vào khả năng cấp nước, dịch vụ bệnh viện, số lượng bệnh nhân và người nhà. Lưu
lượng NTBV dao động theo giờ trong ngày, theo ngày trong tuần. Lượng NTBV
trong một ngày là chì tiêu để tính toán hệ thống thoát nước và lựa chọn sơ đồ công
nghệ xử lý NTBV [20],[21],[57],
1.2. Hệ thống thu gom, xử lý và chất lưọng nưóc thải bệnh
viện 1.2.1. Hệ thống thu gom nước thái bệnh viện
Thu gom nước thải là mắt xích rất quan trọng trong việc quàn lý và xử lý
NTBV. Theo quy chế bệnh viện thì BV bắt buộc phải có hệ thống cống rãnh và bế
ngầm đế dần. chứa và xử lý chất thải [8]. NTBV cần phải thu gom tại các khoa
phòng về bề tập trung để xử lý, sau đó xá vào nơi quy định. Neu thu gom nước thải
tốt sẽ tách được lượng nước thải không cần xử lý hay chỉ để xử lý thông thường với
lượng nước thải phải xử lý đặc biệt. Như vậy sẽ làm giảm chi phí cho XLNT, đảm
1
3
báo hệ thống xử lý nước thải hoạt động hiệu quá và tăng độ bền của công trình do
hệ thống không phái làm việc quá tải cũng như đảm báo vệ sinh môi trường.
Nguyên tắc chung thu gom NTBV là:
- Tách lượng nước mưa chảy tràn vào hệ thống thu riêng, phù hợp cả về bố
trí hệ thống máng, rãnh, cống và bế điều hoà.
- Tách lượng nước sinh hoạt thông thường như nước nấu ăn và chế biến
thực phàm, nước thải khu hành chính, văn phòng...
- Thu gom triệt đc lượng nước thải từ hoạt động chuycn môn khám bệnh,
chấn đoán, điều trị. Nguồn thải này phải xứ lý trước khi thải vào nước thải sinh hoạt
khi xử lý đạt được tiêu chuẩn chất lượng cho việc xả vào nguồn tiếp nhận tạo ra một
dòng chất thải dạng lỏng an toàn với môi trường. Bao gồm các quá trình vật lý, hóa
học và sinh học để loại bỏ các chất ô nhiễm có nguồn gốc vật lý, hóa học và sinh
học [17].
Công nghệ phù hợp đc xử lý NTBV được lựa chọn trên cơ sở các yếu tố:
Lưu lượng, chế độ thãi nước và thành phần, tính chất NTBV, các yêu cầu vệ sinh
khi xả NTBV ra nguồn tiếp nhận, diện tích đất được quy hoạch đề xây dựng trạm
XLNT và vị trí của nó đối với các khoa, phòng trong BV cũng như khu dân cư phụ
cận, kinh phí đầu tư xây dựng, điều kiện vận hành và báo dưỡng các công trình
XLNT [8]. Các công trình xử lý NTBV được thiết kế theo các nguycn tac:
+ Tiết kiệm diện tích đất xây dựng.
+ Modun hóa các công trình xứ lý nước thải.
+ Hạn chế mùi nước thài [20],
Người ta chia quá trình xử lý NTBV thành 3 công đoạn:
- Xứ lý sơ bộ hay xử lý cap I: Dùng những biện pháp hoá lý loại bở bớt những
chất rắn không hoà tan trong nước. Bao gồm chắn rác, lắng cát, hồ điều hoà lưu
lượng, lắng bùn sơ cấp. Công đoạn này nếu không tiến hành xử lý nước thải cũng
cần phải có để báo vệ hệ thống hoặc tránh tắc đường ống, cống rãnh.
1
5
- Xử lý cơ bản hay xử lý cap II: Sử dụng vi sinh vật đe loại bỏ những chất
thải hữu cơ hiếu khí hoà tan trong nước. Xử lý cơ bán chủ yếu là ứng dụng các quá
trình sinh học thiếu khí và hiếu khí đề phân huỷ sinh học các chất hữu cơ, chuyến
các chất hữu cơ dễ phân huỷ thành các chất vô cơ và chuyền các chất hữu cơ dễ
phân huỷ thành các chất vô cơ và chuyển các chất hữu cơ ốn định thành bông cặn
dỗ loại bỏ ra khỏi nước.
- Xử lý bồ sung hay xử lý cap III: Ket hợp các biện pháp xứ lý hoá học, vật
lý, sinh học để loại bỏ những tạp chất hữu cơ, vô cơ trong nước. Thông thường
Phương pháp này có ưu diêm là công nghệ đơn giản, ổn định,
hiệu suất xứ lý tương đối cao, diện tích mặt bằng nhỏ hơn so
với bề aeroten, chi phí năng lượng cho xử lý thấp, vận hành và
bào dưỡng đơn giàn, không gây ô nhiễm tiếng ồn. Nhược điểm
cùa nó là hiệu quả xử lý nitơ hạn chế, chí phù hợp với các đối
tượng chất thải lỏng y tế có mức ô nhiễm hữu cơ không cao, có
thế gây mùi nếu vận hành không đúng và các công trình không
kín [20],
17
*. Ket hợp phương pháp aeroten và lọc sinh học (Thiết bị hợp khối)
Nguyên lý hợp khối cho phcp thực hiện kết hợp nhiều quá trình xử lý sinh
học thiếu khí và hiếu khí (Anoxic và Oxic), thực hiện ô xy hoá mạnh và triệt đc các
chất hữu cơ trong nước thải trong không gian thiết bị của mỗi modun đế tăng hiệu
quà, giảm chi phí vận hành XLNT. Kỹ thuật này dựa trên hoạt động của quần thể vi
sinh vật tập trung ở màng sinh học có hoạt tính mạnh hon ó bùn hoạt tính. Do vậy
nó có ưu điểm: Ket cấu bền chắc, vật liệu không bị ăn mòn, thời gian thi công lắp
đặt ngắn. Diện tích xây dựng nhỏ, đơn giản, dễ dàng cho việc bao che công trinh,
phù hợp với cành quan và các điều kiện kiến trúc của BV. Không cần phải rửa lọc vì
quần thể vi sinh vật được cố định trên giá đỡ cho phcp chống lại sự thay đối tải
lượng của nước thải. Dề dàng phù hợp với nước thài pha loãng. Có cấu trúc mô đun
và dễ dàng tự động hoá nèn dễ quản lý vận hành. Kiếm soát được các ô nhiễm thứ
cấp như tiếng ồn, mùi hồi... do hệ thống được lap đặt chim và kín. Chi phí vận hành
và bảo trì thấp. Đám bào loại trừ các chất gây ô nhiễm xuống dưới tiêu chuẩn cho
phép trước khi thải ra môi trường. Tuy nhiên với công nghệ xử lý này thì chi phí
đầu tư ban đầu cao hơn so với các công nghệ khác [9],[20].
Nhàm tăng cường hiệu quả xử lý cũng như giảm kích thước công trình, người
ta thường áp dụng các tiến bộ mới về công nghẹ như dùng giá thế di động để vi sinh
bảo, chất lượng công trình xấu, trình độ vận hành trạm xử lý NTBV thấp, kinh phí
duy trì hoạt động thường xuyên và bão dường hệ thống XLNT thiếu.
Từ 1/9/2011 đcn 31/8/2017, Dự án Hỗ trợ xử lý chất thái bệnh viện với tổng
vốn đầu tư 155 triệu USD được triển khai trên toàn quốc với mục tiêu: Cái thiện hệ
thống chính sách liên quan đến chất thải y tế ờ Việt Nam, hỗ trợ đầu tư xây láp,
trang bị hệ thống xử lý chất thải rắn và chất thải lỏng cho 200 - 250 các BV tại Việt
Nam, ưu tiên cho các BV công có nhu cầu cấp thiết về xử lý chất thải thuộc tuyến
trung ương, tuyến tỉnh, BVĐK khu vực liên huyện, một số BV huyện quy mô lớn ờ
các tĩnh khó khăn thuộc miền núi phía Bắc, vùng đồng bàng sông Cửu Long, Tây
19
Nguycn và một số địa phương khác... Đồng thời nâng cao năng lực quản lý, vận
hành, kiểm định hệ thống xử lý chất thái rắn và nuớc thải y tế [9].
So sánh với các công nghệ khác hiện đang triên khai trên thế giới và Việt
Nam, công nghệ xử lý nước thải này được đánh giá là một trong những công nghệ
tối ưu cho việc xử lý nước thải bệnh viện, với độ bền cho một hệ thống là khoảng
30 năm, tính ồn định cao, dễ sử dụng, chi phí giá thành xừ lý thấp, tiết kiệm diện
tích, đâm bảo các tiêu chuấn về môi trường. Các hạng mục công trình bao gồm: Hệ
thống thu gom và tập kết nước thải, công trình ngầm đặt các máy còng tác và nhà
điều hành, hộ thống thiết bị các mô hình xử lý nước thải theo công nghệ AAO có sử
dụng màng vi lọc, hệ thống bom trung chuycn và bơm bùn. Hộ thống thu và tách
mùi, hộ thống cách âm đều được tính toán kỹ lưỡng, được tập kết và xử lý sơ bộ.
a.
Xừ lý cấp 1
Sơ bộ tách rác và cặn cơ học để tống cặn lơ lừng (TSS) vào các quy trình xử
lý sau đó đạt yêu cầu ss< 100-150 ppm. Đe tách rác có thể dùng các sàng chắn rác
tự động hoặc thủ công. Nước thải khi đi qua chắn rác này với kích thước song chắn
+ Thiếu khí: Để khử NOí thành N2 khi không có mặt của ôxy hoặc khi
không sục khí và tiếp tục giảm BOD, COD do thực hiện quá trình ôxy hoá.
+ Hiểu khí: Để chuyển hoá NH4 thành NO3, khử BOD, COD, HỊS... Sau
quá trình oxy hoá bằng sục không khí tại ngăn oxic với đệm vi sinh di động, bùn
hoạt tính được bám giữ trên các giá thể bám dính di động trong ngăn hiếu khí, các
giá the này cho phép tăng mật độ vi sinh lên đến 8000 - 9000 g/m' trong khi ớ
phương pháp bùn hoạt tính aerotcn thông thường nồng độ vi sinh chi đạt 100 - 1500
g/nr\ ở các thiết bị với đệm vi sinh bám cố định chỉ đạt 2500 - 3000 g/m\ Với mật
độ này các quá trình oxy hoá đề khử BOD, COD và NII4 diễn ra nhanh hơn nhiều.
+ Tiệt trùng bằng vi lọc hoặc bàng hoá chất - chủ yếu dùng hypocloride
canxi đe khử vi trùng gây bệnh [9].
1.2.3.
Các thông số cơ bản cỉánh giá chất lượng nước thai bệnh
viện
Theo phân loại của tồ chức Môi trường thế giới, NTBV gây ô nhiễm mạnh
có chỉ số nồng độ chất rắn tổng cộng 1.200mg/l, trong đó chất rắn lơ lừng là
350mg/l; tổng lượng các-bon hữu cơ 290mg/l, tồng phốt-pho là 15mg/l và tổng nitơ 85mg/l, lượng vi khuấn coliform từ 108 đến 109 [54].
1.2.3.1.
Các yếu
tố hoá học a. Độ
pH
Chi số này cho thấy cần thiết phái trung hòa hay không và tính lượng hoá
chất cần thiết trong quá trình xử lý đông keo tụ, khử trùng... Sự thay đối trị số pH
22
chất hữu cơ dỗ bị phân huỷ sinh học, nghĩa là các chất hữu cơ có thế bị oxy hoá
bàng vi sinh vật có ở trong nước. Do vậy chi số COD luôn lớn hơn BOD và tỷ số
COD/BOD bao giờ cũng lớn hơn 1, dao động từ 1,2 đến 2,5. Thông thường để đánh
23
giá độ nhiễm bân chất hữu cơ có trong nước thải người ta thường lấy trị số BOD
[17].
d.
Chi số tong chất rắn lơ lửng
Các chất lơ lửng (TSS) chính là các chất rắn không tan có kích thước 0,001 -
0,1 nm. Chất rắn lơ lửng làm nước thải có độ đục, không trong suốt, tạo ra sự lắng
đọng cặn làm tắc nghẽn cống, đường ống, máng dần. Căn cứ vào chỉ tiêu này, người
ta tiến hành tính toán các bề lắng và xác định số lượng cặn lắng. Chất dễ lắng đọng
chiếm một phần chất lơ lửng là phần có khả năng lắng xuống bê lắng sau 2 giờ đồng
hồ, chiếm khoảng 65 - 75% chất lo lửng.
e.
Chỉ số Amoniac, Nitrat, Phosphat
Cần xác định tổng N, tổng p hoặc các dạng N - NH3, N - N02, N - N03 hoặc
orthophosphat... để chọn phương án làm sạch các ion này hoặc cân đối dinh dưỡng
trong kỹ thuật bùn hoạt tính.
-
Hàm lượng nitơ (N):
Hợp chất chứa nitơ cỏ trong nước thài thường là các chất protein và các sản
một tuần.
I Vibrio Cholerae: Là điến hình tác nhân truyền nhiễm nhanh qua nước, gây
bệnh khủng khiếp tỷ lệ tử vong khá cao. Chúng sống trong nước được khá lâu: ở
nước cấp thành phố được 1 tháng, ở nước sông 3 tháng và trong nước thải tới 7
tháng [21].
+ Coliíbrms: là những trực khuẩn Gram âm, hiếu khí, kỵ khí tùy tiện, không
nha bào. Chúng được tìm thấy trong phân người, động vật và cả ở trong môi trường
như dất, nước, rau quả. Vi khuấn Coliíòrms là các sinh vật có khả năng sinh trường
hiếu khí ở nhiệt độ 35 -
37°c trong một môi trường nuôi cấy có lactoza thể lỏng
kèm theo việc tạo thành axit và sinh khí trong vòng 48 giờ [46].
Số lượng vi sinh gây bệnh trong nước thái thường thấp hơn nhiều so với loại
không gây bệnh. Đe phát hiện các loại vi sinh gây bệnh trong nước thải rất phức tạp
và tốn nhiều thời gian, do đó không thể xét nghiệm tất cả các mẫu nước theo thường
quy đế kiểm tra có hay không có tất cả các vi sinh gày bệnh được. Vì vậy người ta
phải chọn kỹ thuật đơn giản nhưng vẫn phát hiện được sự ô nhiễm của nước. Điều
này dần tới việc sử dụng các chi điểm vi sinh để xác định sự ô nhiễm. Theo WHO,
25
hiện nay chưa có chỉ điểm vệ sinh lý tướng nhưng nhóm Conforms là nhóm vi
khuẩn có the thoá mãn ycu cầu là một chỉ điểm vệ sinh ở mức độ cao nhất trong số
những vi khuấn được biết [55].
1.2.4.
Kinh phí cho xử lý nước thải bệnh viện:
Hoạt động xử lý nước thải cần phải duy trì một cách bền vững nểu hệ thống