Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3a trường tiểu học xuân dương, thường xuân thực hiện tốt giải toán có lời văn - Pdf 44

MỤC LỤC
Tên mục

Trang

I

PHẦN MỞ ĐẦU

1

Lí do chọn sáng kiến

1

2

Mục đích nghiên cứu

2

3

Đối tượng nghiên cứu

2

4

Phương pháp nghiên cứu


III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1

Kết luận

17

2

Kiến nghị

18

1


I - PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn sáng kiến.
Bậc Tiểu học là bậc học đặt nền móng trong quá trình hình thành và phát
triển nhân cách học sinh. Mỗi môn học ở bậc học Tiểu học đều góp phần vào hình
thành và phát triển những cơ sở ban đầu của nhân cách con người. Trong đó, môn
Toán là môn học mà kiến thức và kĩ năng có nhiều ứng dụng vào cuộc sống thực
tiễn, góp phần rèn luyện trí thông minh, sự nhanh nhạy trong tính toán. Để đáp ứng
với sự phát triển của xã hội trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kì
công nghệ thông tin phát triển như hiện nay thì môn Toán càng có vai trò quan
trọng, giúp người học hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, làm
việc khoa học, tiếp cận kịp thời với xu thế phát triển của thời đại. Bên cạnh đó,
môn Toán còn hỗ trợ nhiều cho việc học tập các môn học khác ở bậc Tiểu học và
là nền tảng cho việc học toán ở các bậc học trên.
Trong nội dung chương trình môn toán, phần giải toán có lời văn là một

hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đồng thời rèn kĩ
năng giải toán có lời văn tốt hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 3A - Trường Tiểu học Xuân Dương;
Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến sáng kiến;
Nghiên cứu chương trình toán lớp 3 nói chung và toán có lời văn lớp 3 nói
riêng;
Nghiên cứu cách dạy của giáo viên cùng khối.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp khảo sát điều tra;
Phương pháp thống kê;
Phương pháp quan sát;
Phương pháp phân tích, tổng hợp;
Phương pháp thực nghiệm sư phạm;
Phương pháp tổng kết rút kimh nghiệm.
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận.
Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả
các kiến thức về số học, đo lường, đo đại lượng, các yếu tố hình học,... trong
chương trình toán lớp 3. Hơn nữa phần lớn các biểu tương, khái niệm, các quy tắc,
các tính chất toán học ở bậc Tiểu học đều được học sinh tiếp thu qua con đường
giải toán.
Thông qua nội dung thực tế của các đề toán, học sinh sẽ tiếp nhận được các
kiến thức phong phú, đa dạng về cuộc sống. Từ đó có điều kiện để rèn luyện khả
năng áp dụng các kiến thức toán đã học cho bản thân mình. Mỗi bài toán là một
bức tranh của cuộc sống, khi giải mỗi bài toán học sinh phải biết rút ra từ bức tranh
đó cái bản chất của toán học, phải biết lựa chọn những phép tính thích hợp, làm
đúng các phép tính đó, biết đặt lời giải chính xác,...Vì thế quá trình giải toán sẽ
giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát và giải quyết các hiện tượng của cuộc
sống qua con mắt toán học của mình.

Học sinh đọc đề chưa kĩ, chưa có kĩ năng tìm hiểu đề nên hiểu đề chưa sâu,
chưa nhận được dạng của bài toán, tóm tắt bài toán chưa đúng, hoặc chưa khoa
học.
Phần trình bày lời giải còn sai, chưa hợp lí.
Giải xong bài không thử lại kết quả.
Từ thực trạng trên đã dẫn đến kết quả học tập của học sinh chưa đạt như
mong muốn. Tính hiệu quả trong dạy học chưa cao. Nhất là khi gặp những bài toán
có lời văn, các em không giải quyết nổi hoặc giải quyết không hợp lí.
Qua việc chấm bài, trao đổi trực tiếp với học sinh, tôi phát hiện được những
hạn chế phổ biến của học sinh trong giải toán: Có em đã biết giải đúng (đúng lời
giải và phép tính tương ứng). Song có em chỉ thực hiện được phép tính đúng mà lời
giải chưa phù hợp hay viết lời giải còn lủng củng, tối nghĩa, thậm chí có em hoàn
toàn chưa biết giải bài toán dù là toán đơn hay toán hợp.
Điều tra thực trạng tại lớp tôi cho thấy kết quả như sau:
Tổng
số

24 em

HS có lời giải và
phép tính đúng,
trình bày khoa học

HS có lời giải và
phép tính đúng, trình
bày chưa khoa học

HS có phép tính
đúng mà lời giải
chưa hợp lí

25%

4 em

16,7%

Như vậy việc dạy và học giải toán có lời văn ở lớp 3 có vai trò cực kì quan
trọng, đặc biệt là giải toán có đến 2 phép tính (vì đây là dạng toán các em mới tiếp
cận). Vì thế để giúp học sinh biết giải toán đúng, giáo viên phải đặt ra yêu cầu cho
4


học sinh đó là biết tìm hiểu đề toán, biết tóm tắt bài toán, biết tìm cách giải và hơn
nữa là biết tìm lời giải phù hợp và cuối cùng là biết tự đánh giá kết quả.
3. Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề.
Để giúp học sinh lớp 3 biết giải toán có lời văn trong sách giáo khoa toán 3
và các bài toán phát triển dựa trên các bài toán đã cho để vận dụng giải các bài toán
trong thực tế đời sống, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp như sau:
Biện pháp 1. Trang bị quy trình cho các dạng bài tập
1.1. Cung cấp quy trình chung để giải các bài tập theo 4 bước cơ bản
sau đây:
1.1.1. Tìm hiểu đề toán:
Yêu cầu học sinh đọc thật kĩ đề toán. Đây là một bước quan trọng không thể
thiếu được trong dạy học toán. Ở bước này giáo viên giúp học sinh tiếp cận với nội
dung bài toán, khắc phục khó khăn về ngôn ngữ, biết diễn đạt ngôn ngữ bằng kí
hiệu đặc biệt, sau đó xác định 3 yếu tố cơ bản của bài toán:
Dữ kiện (là cái đã cho, đã biết trong đề toán)
Ẩn số (là cái chưa biết, cần tìm)
Điều kiện (là mối quan hệ giữa dự kiện và ẩn số)
Như vậy, ngay từ bước đầu đã bắt buộc học sinh phải phát huy tính linh hoạt

Bước này là bước quan trọng nhất, việc nắm vững nội dung đặc biệt là ba
yếu tố cơ bản của bài toán, là yêu cầu đầu tiên khi học sinh tìm hiểu bài toán. Khi
đó xuất hiện các hiện tượng yêu cầu học sinh phải tư duy tích cực, phân tích, sàng
lọc từ đó tìm ra phương pháp giải quyết bài toán. Ở bước này giáo viên có nhiệm
vụ hướng dẫn học sinh phân tích, sàng lọc nhằm loại bỏ các yếu tố thừa, các trường
hợp không cơ bản đối với việc giải toán. Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn cho học
sinh tìm đường lối giải như sau:
Cần xem bài toán này thuộc dạng mẫu hay dạng điển hình nào ? Xét xem
bài toán đã cho có tương tự bài toán đã biết cách giải hay không ?
Hãy phân tích bài toán đã cho thành các bài toán đơn (nếu là toán hợp) bằng
phương pháp suy luận từ cuối.
Ví dụ: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng
thứ nhất 6 lít dầu. Hỏi cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu? (BT2- SGKT3 –
trang 50).
Bước 1: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng
thứ nhất 6 lít dầu. Hỏi thùng thứ hai đựng bao nhiêu lít dầu?
Bước 2: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng 24 lít dầu. Hỏi
cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?
Có thể minh họa bằng sơ đồ sau:
Bước 1
Bước 2
18 lít
18 lít
Thùng 1:

6 lít

Thùng 2:

Thùng 1:

toán, suy luận.
Sau khi giải xong bài toán, giáo viên cần khuyến khích học sinh Bằng cách
Hỏi: Em có thể giải bài toán bằng cách khác được không ? Từ bài toán này rút ra
được kinh nghiệm, nhận xét. Đặt ra được cách giải bài toán khác như thế nào? Giải
quyết chúng ra sao?
1.2. Vận dụng quy trình chung để giải các bài toán ở mỗi dạng:
Để giúp học sinh biết vận dụng quy trình giải toán có lời văn ở mỗi dạng
trong SGK toán 3. Tôi chọn một số ví dụ điển hình cho dạng đang đề cập tới:
Dạng 1: Bài toán giải bằng hai phép tính
Ví dụ 1: (Bài số 2 SGK Toán 3 - trang 51)
Một thùng đựng 24 lít mật ong, lấy ra

số lít mật ong đó. Hỏi trong thùng

còn lại bao nhiêu lít mật ong ?
Dụng ý của bài tập này nhằm giúp học sinh vận dụng tri thức vừa học, lí
thuyết mà giáo viên vừa cung cấp thông qua luyện tập thực hành rèn kĩ năng giải
toán.
Cách rèn luyện: Để học sinh vận dụng linh hoạt và có sáng tạo cách giải
đúng, biết trình bày bài giải giáo viên cần giúp học sinh thấy được phần trừu tượng
của bài toán. Tìm số lít mật ong lấy ra trong thùng đó, sau đó thực hiện phép tính
24 : 3 = 8, cuối cùng ghi tên đơn vị vào sau kết quả. Để biết được số lít mật ong
còn lại ta phải làm thế nào ? Học sinh thực hiện phép trừ 24 – 8 =16.
Ở phần này, nếu giáo viên không giúp thì sẽ có một số học sinh dễ nhầm lẫn
phép tính cộng. Vậy để các em giải đúng theo quy trình đã hướng dẫn, các em làm
theo 4 bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề (Học sinh đọc thật kĩ đề toán)
Hỏi: Bài toán cho biết gì? (Có 1 thùng đựng 24 lít mật ong, lấy ra

số lít

một số bài toán mới nhằm phát triển được kĩ năng giải toán, kĩ năng vận dụng, kĩ
năng suy nghĩ linh hoạt của học sinh để hình thành kĩ xảo giải toán.
Bài toán mới: Một thùng đựng 28 lít mật ong, lấy ra

số lít mật ong đó. Hỏi

trong thùng còn lại bao nhiêu lít mật ong?
Ví dụ 2: (Bài số 2 SGK Toán 3 - trang 52)
Bác An nuôi 48 con thỏ, bán đã bán đi

số con thỏ đó. Hỏi bác An còn lại

bao nhiêu con thỏ?
Dụng ý của bài tập này: Giúp học sinh biết thao tác giải toán theo các bước
giải, biết trình bày bài giải đúng, nhanh, chính xác.
Học sinh nhận diện bài toán thuộc dạng toán nào? (Dạng toán hợp giải bằng
2 phép tính). So với các bài toán đã giải bài toán này có điểm nào giống nhau? (Số
“lấy ra”; số “bán đi” là 2 thuật ngữ mang nghĩa toán học tương đương mà ở đây
đều được chọn là phép tính chia).
Bước 1: Học sinh đọc kĩ đề toán, phân tích đề, tóm tắt bài toán.
Có mấy con thỏ? (48 con)
Đã bán đi:

con thỏ), nghĩa là có 6 phần bán đi 1 phần.
Tóm tắt

Có :
Bán đi:

48 con

Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài 35m, chiều rộng 20m. Tính chu vi
mảnh đất đó?
Dụng ý của bài toán này: Nhằm vận dụng quy tắc tính chu vi hình chữ nhật
cho học sinh; Học sinh thành thạo giải toán thông qua luyện tập thực hành; hiểu
được mối quan hệ giữa các đơn vị đo.
Bước 1: Tìm hiểu đề: Học sinh đọc kĩ đề toán
Hỏi: Bài toán cho biết những gì? (Số đo của các cạnh, chiều dài: 35m; chiều
rộng: 20 m)
Hỏi: Bài toán yêu cầu gì? (Tính chu vi mảnh đất đó)
35m
Tóm tắt: Chiều dài:
35 m
Chiều rộng:
20 m
20m
Chu vi mảnh đất: ...? m
9


Bước 2: Tìm đường lối giải
Hỏi: Muốn tính được chu vi của mảnh đất hình chữ nhật (HCN) ta làm thế
nào? (lấy số đo chiều dài cộng với số đo chiều rộng rồi nhân với 2) lưu ý cùng một
đơn vị đo.
Từ công thức tính chu vi hình chữ nhật (a + b) × 2, giáo viên có thể giúp
học sinh vận dụng thành thạo cách tính và tìm lời giải đúng, chính xác, phù hợp
với yêu cầu của đề toán đặt ra.
Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
Chu vi mảnh đất hình chữ nhật đó là
(35 + 20) × 2 = 110 (m)

đo 50cm ra m, hoặc sau khi trình bày xong phép tính 50 × 4 = 200 cm rồi mới đổi
để bài toán dễ hơn. Giáo viên gợi ý học sinh tìm được chu vi khung bức tranh rồi
mới đổi ra m.
10


Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
Chu vi của khung bức tranh hình vuông là:
50 × 4 = 200 (cm)
Đổi 200 cm = 2 m
Đáp số: 2 m
×
Bước 4: Thử lại: 50 4 = 200 ; 200 : 4 = 50; 50 × 4 = 200 ( đúng)
Dạng 3. Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
Các bài toán ở dạng này giúp học sinh biết cách giải các bài toán liên quan
đến rút về đơn vị. Từ đó rèn luyện học sinh kĩ năng thành thạo giải được các bài
toán trong SGK Toán 3 và trong thực tiễn cuộc sống.
Ví dụ 1: ( BT2, SGK Toán 3 - trang 128)
Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao đó có bao nhiêu ki-lô-gam gạo?
Dụng ý bài tập này: Nhằm giúp học sinh nắm được quy trình giải sau khi đã
lĩnh hội tri thức vừa học xong. Thông qua luyện tập thực hành rèn luyện kĩ năng
giải toán, hoặc từ một bài toán đã cho biến đổi thành các bài toán mới.
Bước 1: Tìm hiểu bài toán (Học sinh đọc thật kĩ bài toán)
Hỏi: Bài toán đã cho biết gì? (Có 28 kg đựng đều trong 7 bao)
Hỏi: Bài toán yêu cầu chúng ta tìm cái gì? (5 bao đó đựng bao nhiêu kg
gạo?)
Tóm tắt:
7 bao có : 28 kg
5 bao có : . . . kg?

HS tự tóm tắt trên giấy pháp
6 căn phòng: 2550 viên gạch
7 căn phòng : ...viên gạch?
Bước 2: Tìm đường lối giải
Rút về đơn vị : HS thực hiện phép tính chia
Số gạch cần lát một căn phòng: 2550 : 6 = 425 (viên)
Đã biết một căn phòng cần đến 425 viên thì lát 7 căn phòng như thế ta phải
làm như thế nào? Cần bao nhiêu viên gạch?
Học sinh thực hiện phép tính : 425 × 7 = 2975 (viên)
Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
Mỗi căn phòng lát hết số viên gạch là :
2550 : 6 = 425 (viên)
7 căn phòng lát hết số viên gạch là:
425 × 7 = 2975 (viên)
Đáp số: 2975 viên gạch
Bước 4: Thử lại: 2550 : 6 = 425; 425 × 6 = 2550
2550 : 6 = 425 (đúng)
425 × 7 = 2975; 2975 : 7 = 425
425 × 7 = 2975 (đúng)
Dựa vào bài toán trên (VD 2) tôi có thể dự kiến bài toán biến đổi thành một
số bài toán mới (có dạng rút về đơn vị) nhằm phát triển được tư duy và hình thành
cho các em kĩ năng tiến tới kĩ xảo trong giải toán.
Bài toán mới: Một nhà trường cần lát 9 phòng học như nhau hết 3825 viên
gạch. Hỏi muốn lát 11 phòng học như thế thì hết bao nhiêu viên gạch?
Biện pháp 2: Áp dụng trực tiếp quy trình giải các dạng toán.
Dạng 1: Bài toán giải bằng hai phép tính
Ví dụ 1: (Bài 1, SGK toán 3 - trang 50)
Bài toán: Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh. Hỏi cả
hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh?

Đáp số: 23 tấm bưu ảnh
Bước 4: Thử lại: 15 - 7 = 8;
8 + 7 = 15
15 - 7 = 8 (đúng)
15 + 8 = 23;
23 - 8 = 15
15 + 8 = 23 (đúng)
Từ bài toán trên, để học sinh nêu được và giải được bài toán theo sơ đồ, tôi
có thể gợi ý cho học sinh nêu 2 bài toán đơn sau đó tổng hợp lại sẽ có bài toán hợp.
Mục đích để mỗi học sinh đều được hoạt động.
Dạng 2: Giải các bài toán có nội dung hình học
Để các em nắm vững kiến thức và thành thạo trong việc giải các bài toán
liên quan đến yếu tố hình học trong chương trình toán 3 cũng như trong đời sống
thực tiễn tôi đưa ra một số bài tập để rèn kĩ năng giải toán cho các em từ đó phát
triển tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng bước đầu về hình học tạo đào cho học sinh
tiếp tục học ở các lớp trên tốt hơn.
Ví dụ 1: (Bài 1, SGK Toán 3- trang 89)
Tính chu vi hình chữ nhật có: a/ Chiều dài: 30 m, chiều rộng: 20m
b/ Chiều dài: 15cm, chiều rộng: 8cm
Dụng ý bài tập này nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức áp dụng quy tắc,
công thức để tính chu vi của hình chữ nhật với kích thước cho trước.
Để giúp học sinh giải các bài toán theo 4 bước tôi gợi ý theo các yếu tố sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề (Học sinh đọc kĩ đề bài để nắm dự kiện bài toán đã cho)
a/ Chiều dài: 30m; chiều rộng: 20m
b/ Chiều dài: 15cm; chiều rộng: 8cm
Cái phải tìm: Chu vi
Bước 2: Tìm đường lối giải
a/ Áp dụng công thức: Học sinh thực hiện phép tính:
(30 + 20) × 2 = 100(m)
b/ Áp dụng công thức: Học sinh thực hiện phép tính:

Tính chiều dài hình chữ nhật, biết nửa chu vi hình chữ nhật là 60m và chiều
rộng là 20m
Tóm tắt
Chiều dài ... m ?

Chiều rộng

Nửa chu vi :

20m
60m

Bước 1: Theo tóm tắt: Nửa chu vi hình chữ nhật được biểu thị bằng một
đoạn thẳng dài 60m; trong đó chiều rộng là một đoạn thẳng gồm 20m. Chiều dài là
phần còn lại, cần phải tìm.
Bước 2: Chu vi hình chữ nhật được tính theo công thức: (a + b) × 2; mà nửa
chu vi bằng a + b. Như vậy: “Muốn tìm độ dài của một cạnh ta lấy số đo nửa chu
vi trừ đi số đo cạnh đã biết”. Bài toán này cho biết nửa chu vi là 60 m và chiều
rộng là 20 m. Học sinh thực hiện phép tính: 60 - 20 = 40 (m).
Từ công thức: (a + b) × 2, ta suy ra được:
Chiều dài = nửa chu vi - chiều rộng.
Chiều rộng = nửa chu vi - chiều dài
Bước 3:
Bài giải
14


Chiều dài của hình chữ nhật là
60 - 20 = 40 (m)
Đáp số: 40 m

Để rèn luyện kĩ năng giải toán thành kĩ xảo giải toán cho học sinh tôi đã lựa
chọn một số bài tập mang tính điển hình cho mỗi dạng toán có lời văn trong SGK
Toán 3 cũng như bài toán trong thực tiễn đời sống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
các em trong cách học môn Toán khoa học hơn, đặc biệt là với những học sinh có
năng khiếu học toán là cơ hội để bộc lộ tài năng của mình.
Dạng 1: Các bài toán giải bằng hai phép tính
Ví dụ 1: (Bài 3, SGK toán 3- trang 88)
Mỗi viên gạch hình vuông có cạnh 20cm. Tính chu vi hình chữ nhật ghép
bởi 3 viên gạch (xem hình vẽ)
Đây là bài toán hợp có yếu tố hình học.
15


Bài giải

20cm
Cách 1:
20cm

Chiều dài hình chữ nhật là
20 × 3 = 60 (cm)

Giáo viên gợi ý: chiều rộng của hình
Chu vi hình chữ nhật là
chữ nhật chính là số đo cạnh của hình
(60 + 20) × 2 = 160 (cm)
vuông ban đầu. Vậy chiều dài của hình
Đáp số: 160cm
chữ nhật bằng 3 lần cạnh của hình
vuông.

số hoa của

Hoà. Hỏi hai bạn hái được bao nhiêu hoa?
Tương tự học sinh giải bài toán này được thực hiện bằng một phép tính chia
và một tính cộng (18 : 3 = 6); (18 + 6 = 24) danh số được ghi sau kết quả phép tính
là “bông”.
Dạng 2: Giải các bài toán liên quan hình học
Ví dụ 1: (Bài 3, SGK Toán 3 - trang 90)
16


Tính chu vi vườn cây ăn quả hình chữ nhật có chiều dài là 100 m, chiều rộng
là 60 m.
HS vận dụng giải các bài toán theo 4 bước như trên
Bước 1: Học sinh đọc kĩ đề toán, phân tích đề toán, tóm tắt (sơ đồ đoạn
thẳng) mô tả nội dung bài toán.
Bước 2: Tìm đường lối giải
Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
Chu vi mảnh vườn hình chữ nhật
(100 + 60) × 2 = 320 (m)
Đáp số: 320 m
Bước 4 : Thử lại
Bài toán mới: Mảnh vườn trồng ngô nhà em có chiều dài bằng 450 m, chiều
rộng bằng chiều dài. Tính chu vi mảnh vườn đó.
Dạng 3: Các bài toán liên quan đến rút về đơn vị
Ví dụ : (BT1, SGK Toán 3 - trang 128)
Bài toán: Có 24 viên thuốc chứa đều trong 4 vỉ. Hỏi 3 vỉ thuốc đó có bao
nhiêu viên thuốc?
Dụng ý bài tập này giúp học sinh vận dụng quy tắc để giải đúng bài toán


Như vậy, việc rèn luyện kĩ năng giải toán và cách trình bày bài giải các bài
toán trong SGK và các bài toán trong thực tiễn đời sống như trên đã giúp cho học
sinh huy động những kiến thức đã học vào thực hành giải toán, bằng các phương
pháp giải, bằng nhiều cách giải mà chọn cho mình con đường ngắn nhất, hay nhất
để đi đến kết quả của bài toán. Từ đó tạo điều kiện cho các em biết vận dụng các
kiến thức kĩ năng, kĩ xảo để giải toán. Ví dụ như các em biết tính được chu vi một
số hình, tính được một số nền nhà, sân, vườn, bảng lớp, tính được số gạch cần lát
nền nhà ở… đồng thời tạo cơ hội cho học sinh có năng khiếu học toán bộc lộ được
khả năng của mình.

4. Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục
Để kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp rèn luyện kĩ năng giải toán
có lời văn đã nêu trên, tôi đã tiến hành bằng các tiết dạy ở lớp 3A. Sau một thời
gian sử dụng các biện pháp trên vào dạy học, tôi ra đề kiểm tra khảo sát chất
lượng, kết quả đạt như sau:
Tổng
số

24 em

HS có lời giải và
phép tính đúng,
trình bày khoa học

HS có lời giải và
phép tính đúng, trình
bày chưa khoa học

HS có phép tính

5 em

20,8%

0

0

Tôi nhận thấy: Chất lượng học sinh giải toán có lới văn lớp tôi dạy thực
nghiệm được nâng lên rõ rệt. Nội dung kiến thức các bài đáp ứng được mục tiêu
của chương trình, nhất là đáp ứng được sự đổi mới phương pháp dạy học và nâng
cao chất lượng. Các em đã tự tin hơn trong quá trình giải toán, nắm được các dạng
toán cơ bản, cách giải từng dạng bài và biết giải một số bài dạng tổng hợp nâng
cao. Giờ học toán các em sôi nổi hơn, thú vị hơn. Có nhiều em đã biết vận dụng
linh hoạt những kiến thức đã học vào giải toán trong thực tế. Các em đã tìm ra
nhiều cách giải đi đến đáp số, luôn tự tin, chủ động, tích cực tìm hiểu và khám phá
kiến thức. Tạo đà để các em học tốt môn toán cho những năm tiếp theo.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua quá trình giảng dạy và vận dụng một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán
có lời văn, tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Giáo viên cần nắm vững nội dung kiến thức chương trình bộ môn toàn cấp,
hiểu rõ dụng ý của sách giáo khoa, hiểu sâu bản chất của từng mạch kiến thức.
Tham gia đầy đủ các chuyên đề, thường xuyên dự giờ của đồng nghiệp để đúc rút
kinh nghiệm cho bản thân. Luôn tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, cập
nhật kiến thức, dạy đúng phương pháp bộ môn theo hướng đổi mới của chuyên đề.
18



mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ

NGƯỜI VIẾT

Lê Thị Thanh

19


MỤC LỤC
Tên mục

Trang

I

PHẦN MỞ ĐẦU

1

Lí do chọn sáng kiến

1

2

Mục đích nghiên cứu


3

Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề

4

4

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục

17

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1

Kết luận

17

2

Kiến nghị

18

20





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status