1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn hiện nay luôn là vấn đề
được ngành giáo dục quan tâm bàn luận một cách sôi nổi bởi nó là yếu tố quyết
định hiệu quả giờ dạy. Phương pháp dạy học đổi mới chú trọng đến việc phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh làm cho học sinh ham
thích môn học. Điều 24, Luật giáo dục (do Quốc hội khóa X thông qua) cũng đã
chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Đối với môn Ngữ văn cũng vậy, bởi một trong những mục đích của giờ
văn là làm sao gây được rung động thẩm mĩ, giáo dục nhân cách cho học sinh.
Đây là định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn.
Thế nhưng phần lớn HS chưa thực sự say mê, yêu thích học bộ môn này, chưa
thực sự thấy hứng thú trong những tiết học văn.
Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn THCS; Từ sự trăn trở “làm thế nào
để HS hứng thú học môn Ngữ văn ?” thì ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ
rằng mình cần phải biết gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự
nhẹ nhàng, sinh động; học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, không
gượng ép, tạo hứng thú, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên của các
em. Từ đó mới phát huy thực sự tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh.
Song có nhiều phương pháp, nhiều kĩ thuật dạy học tích cực để giúp học sinh
hứng thú, chủ động trong học tập và giúp các em yêu thích bộ môn nhưng trong
phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm này tôi chọn đề tài: "Phát huy tính tích cực
chủ động của HS trong giờ học Ngữ Văn THCS bằng cách thảo luận nhóm và tổ
chức trò chơi"
1.2. Mục đích nghiên cứu
Góp phần nâng cao chất lượng học tập, tạo hứng thú học tập các bộ môn
cho HS trong nhà trường nói chung. Giúp HS nắm được những kiến thức chuẩn
môn học một cách nhẹ nhàng thông qua những giờ thảo luận và những trò chơi
cần dùng nhiều phương pháp như: phân tích, diễn giảng, vấn đáp, nêu vấn đề, gợi
ý,…và đặc biệt, để tạo một giờ học phong phú, sinh động, thì việc dùng hình
thức thảo luận nhóm sẽ giúp HS trao đổi ý kiến với nhau, bổ sung cho nhau các
kiến thức còn thiếu sót, HS sẽ sôi nổi hơn trong học tập. Việc lồng ghép vài trò
chơi trong quá trình giảng dạy sẽ giúp HS cảm giác hứng thú, tích cực, sôi nổi
hơn, không gây sự nhàm chán trong một tiết học môn Ngữ văn.
Trong nhiều năm làm công tác giảng dạy, tôi nghiệm thấy rằng cái ước
muốn dạy văn sao cho hay, học văn sao cho giỏi, viết văn sao cho tốt là ước
muốn của rất nhiều GV và HS. Muốn vậy, người GV chúng ta phải biết làm mới
bài giảng của mình để kích thích sự hứng thú của HS trong học tập. Với cách tổ
chức cho HS thảo luận nhóm và tham gia các trò chơi trong dạy học văn sẽ góp
phần tạo hứng thú cho HS trong học tập, nâng cao chất lượng học tập bộ môn
Ngữ văn trong trường THCS.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Thực tế hiện nay, HS từ bậc Tiểu học lên bậc THCS còn có rất nhiều em
kĩ năng đọc hiểu những nội dung kiến thức trọng tâm trong các văn bản còn yếu.
Đây là một trở ngại quá lớn khi các em lại phải tiếp tục tìm hiểu, khám phá
những kiến thức cao hơn, rộng lớn hơn, trừu tượng hơn. Mặt khác học văn còn
phải đọc nhiều, viết nhiều, đòi hỏi HS phải biết liên tưởng, tưởng tượng nhiều
nên dẫn đến việc chán học, không hứng thú học văn, mất dần kiến thức và kỹ
năng cơ bản
Chương trình vẫn còn những bài dạy dung lượng kiến thức lớn so với thời
lượng từ 45 – 90 phút nghiên cứu trên lớp nên HS lại càng khó tiếp thu kiến thức.
Chính điều này mà HS bị hạn chế rất nhiều trong việc tiếp thu và cảm thụ kiến
thức Ngữ văn.
Những năm gần đây cho thấy HS nói chung và HS ở trường THCS
Quảng Ngọc nói riêng đã phần nào ý thức được đây là bộ môn chính quyết định
chất lượng học tập. Các em luôn cố gắng để đạt được trung bình để không bị
khống chế trong xếp loại học lực. Các giờ học nhìn chung đã có một không khí
mới, hào hứng, sôi nổi. Học sinh được giao việc, tức là được chủ động tham gia
giờ học thiếu sự phóng khoáng, trở nên nhạt nhẽo, làm tê liệt sự hào hứng của
học sinh.. Bên cạnh đó là việc sử dụng các giáo án mẫu, thiết kế bài giảng một
cách máy móc làm mất đi sự cảm thụ sáng tạo riêng của cá nhân.
Từ thực tế giảng dạy, tôi thấy niềm vui và sự ham thích sẽ là một động lực
lớn giúp học sinh vượt qua khó khăn để vươn lên trong học tập. xuất phát từ
những cơ sở đó. Với tư cách là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn
trong thời gian qua, tôi luôn trăn trở để tìm,áp dụng những biện pháp, kĩ thuật
dạy học tích cực nhằm gây hứng thú cho học sinh để các em yêu thích, say mê
môn học.
2. 3. Các giải pháp sử dụng để thực hiện đề tài
Để giờ học văn đạt kết quả cao và khơi dậy ở các em HS sự yêu thích môn
học ttooi sử dụng một số giải pháp sau đây:
- Phân loại đối tượng HS, khả năng tiếp thu kiến thức cũng như trình độ
kiến thức của HS.
- Gần gũi, quan tâm động viên, khích lệ HS trong học tập.
- Nghiên cứu kỹ nội dung bài học để đề ra những tình huống thảo luận,
những trò chơi phù hợp với từng bài học.
3
- Dự giờ thăm lớp để nắm kỹ về đối tượng HS và học hỏi những kinh
nghiệm về cách tạo hứng thú cho HS trong phương pháp giảng dạy.
- Có kế hoạch trao đổi với tổ, với đồng nghiệp để tổ chức những giờ dạy
thực nghiệm áp dụng những hình thức thảo luận nhóm và trò chơi trong giờ học
hoặc giờ ngoại khoá. Cụ thể là:
2.3.1. Hình thức tổ chức thảo luận nhóm
Đặc trưng của phương pháp thảo luận nhóm là cho học sinh được hội thoại
tự do theo nhóm của mình, học sinh có cơ hội trình bày ý kiến, suy nghĩ của
mình và được nghe ý kiến của bạn. Mọi ý kiến đều được trân trọng bao gồm cả
những kinh nghiệm mà các em có được. Ở phương pháp này học sinh cũng có cơ
4
- Để thực hiện một tiết dạy học Ngữ văn có sử dụng hình thức hoạt
độngnhóm, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách chia lớp học thành các nhóm nhỏ từ (
2,4,6 em). Chúng ta cần phải biết cách chia nhóm, chọn kiểu nhóm nào để phù
hợp với điều kiện lớp bạn. Nhóm: Gồm 2 đến 6 em, tuỳ mục đích và yêu cầu của
vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc lựa chọn chủ định,
được duy trì ổn định hoặc thay đổi theo từng phần của tiết học, được giao nhiệm
vụ cụ thể.Các nhóm lớn (6 em) tạo điều kiện cho các thành viên trong nhóm
niềm tin lớn nhất về kết quả làm việc vì có nhiều khả năng tìm câu hỏi đúng. Vớí
loại nhóm này, thu hút được nhiều ý kiến, nhiều kinh nghiệm và có khả năng hiểu
đúng, hiểu nhanh chóng nhiệm vụ. Tuy nhiên nhóm lớn cũng có hạn chế là khó đi
đến quyết định thống nhất và giáo viên khó quản lí.Các nhóm nhỏ (2- 4 em) các
em có nhiều cơ hội để thể hiện ý kiến của mình, thống nhất ý kiến nhanh hơn và
dễ quản lí hơn.
Cơ cấu nhóm:
Để nhóm hoạt động có hiệu quả, các thành viên phải biết rõ nhiệm vụ của
mình, vì vậy phải phân công nhiệm vụ cho các em:
- Trưởng nhóm: điều khiển hoạt động nhóm.
- Thư kí: ghi chép kết quả hoạt động của nhóm sau khi đã thống nhất.
- Báo cáo viên: Báo cáo kết quả làm việc của nhóm.
- Thành viên khác: có nhiệm vụ tham gia tích cực vào các hoạt động của
nhóm. Trong nhóm có học sinh phải thay nhau đóng vai của các thành viên trên
hoặc kiêm nhiệm.
Khi hoạt động nhóm các thành viên trên cần:
- Hướng vào nhau ( ngồi thành vòng tròn hoặc xung quanh bàn )
- Chăm chú lắng nghe người khác phát biểu.
- Từng thành viên sẵn sàng đưa ra ý kiến của mình.
- Trao đổi, thảo luận để có ý kiến thống nhất.
- Câu hỏi phải phát huy khả năng tư duy, kích thích khả năng sáng tạo cho
HS.
- Các câu hỏi chỉ nên xoay quanh nội dung chính của bài học.
- Thời gian thảo luận không quá ngắn HS không kịp định hình, cũng không
quá dài ảnh hưởng tới thời gian tiết học.
- Phân nhóm cho HS thảo luận không nên quá ít mà cũng không quá đông.
- HS thảo luận xong, GV gọi ít nhất hai nhóm trả lời, còn lại thu bài về nhà
chấm và sửa hôm sau phát lại (tránh mất nhiều thời gian của tiết học).
- Phân công một HS nhanh nhẹn làm trưởng nhóm, một HS ghi nhanh làm
thư ký.
- Việc sử dụng hình thức thảo luận nhóm thì có thể sắp xếp bất kì khoảng
thời gian nào trong tiết dạy.
2.3.1.3 Chuẩn bị của học sinh:
- Đọc kĩ các câu hỏi trong phần bài học.
- Ghi ý kiến của bản thân về các câu hỏi cho là khó.
- Mạnh dạn trình bày ý kiến trước lớp.
2. 3.1.4 Một số ví dụ minh hoạ:
Khi dạy văn bản Chuyện người con gái Nam Xương , có thể dùng một số
câu hỏi thảo luận như sau:
- Lời trăn trối của bà mẹ chồng giúp ta hiểu thêm điều gì về nàng Vũ
Nương ?
- Theo em, nguyên nhân dẫn đến nỗi oan của Vũ Nương là gì? Em hãy chỉ
rõ và phân tích những nguyên nhân đó ?
- Theo em, có cách nào để kết cục cuộc đời của những con người như Vũ
Nương, Thị Kính không rơi vào bi kịch mà không cần đên sức mạnh thần bí ?
Khi dạy văn bản Đồng chí của Chính Hữu, để thấy rõ nghệ thuật của bài
thơ cũng như sự chuyển ý thơ, ta có thể đặt câu hỏi: Câu thơ thứ 7 trong bài thơ
có gì đặc biệt ?
Đối với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, có thể đặt câu hỏi: Tại sao tác giả
lại viết “Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” ? , sau đó dùng câu hỏi gợi mở: Từ “ấp
dụng một cách linh hoạt hình thức này trong dạy học.
2.3.2. Hình thức sử dụng trò chơi trong dạy học văn:
2.3.2.1 Cách thức tổ chức:
Đối với việc sử dụng trò chơi thì cũng cần chú ý lựa chọn trò chơi phù
hợp với từng nội dung bài dạy và thời gian của tiết học. Có thể trò chơi: "Truyền
thư mật" “Giải ô chữ”, “Rung chuông vàng”, “Tiếp sức”,… Ví dụ: Để dạy các
văn bản những tác phẩm truyện, chúng ta có thể tổ chức cho HS chơi trò chơi
“giải ô chữ” bằng cách kẽ sẵn các ô chữ trên bảng phụ và đưa ra các câu hỏi gợi
ý để tìm ra nội dung, nghệ thuật chính của truyện. GV cũng có thể tổ chức trò
chơi “Rung chuông vàng” ở cuối tiết học bằng cách phân chia lớp thành nhiều
nhóm và và đưa ra những câu hỏi trắc nghiệm để HS thảo luận, nhóm nào trả lời
đúng sẽ được điểm tối đa. Hoặc khi dạy các bài Tiếng Việt, có thể tổ chức trò
chơi “Tiếp sức”…Tuy nhiên, phải chú ý một điều là khi tổ chức các trò chơi, GV
cần lưu ý nêu trước thể lệ trò chơi và qui định thời gian cho HS biết để thực hiện.
Và đặc biệt phải chú ý kết hợp với các phương pháp khác để có hiệu quả cao
trong tiết dạy. Khi đưa ra câu hỏi trong trò chơi “Giải ô chữ”, GV cần chuẩn bị
sẵn những câu hỏi gợi mở để HS nhanh chóng tìm ra ô chữ, không để làm ảnh
hưởng đến tiết học, và cuối cùng HS sẽ tìm ra được từ khoá chính là nội dung bài
học hoặc một phần của bài học.
2.3.2.2 Chuẩn bị của giáo viên:
- Đọc, tìm hiểu nội dung bài học.
- Xác định nội dung quan trọng nhất cần sử dụng trò chơi.
7
- Sắp xếp các ô chữ trong bảng phụ, nếu dạy ứng dụng công nghệ thông tin
chỉ việc cài đặt chế độ trong máy, khi giảng dạy thực hiện từng bước với từng
câu hỏi.
- Hướng dẫn thể lệ, cách thức thực hiện trò chơi.
- Tổ chức trò chơi theo kế hoạch.
- GV tiến hành cho HS chơi trong vòng 3 -> 5 phút rồi dẫn nhập vào bài mới từ
những câu mà GV đã viết trong mật thư.
Trò chơi "Rung chuông vàng"
Khi dạy bài Ôn tập truyện trung đại, để cho giờ học sôi nổi hơn, học sinh
không cảm thấy nhàm chán, gò bó, thì chúng ta có thể sử dụng trò chơi “Rung
chuông vàng”.
GV chia lớp thành 4 đội, sau đó nêu thể lệ cách thức, quy định của trò
chơi. Lần lượt nêu các câu hỏi về các tác giả, năm sinh, quê quán, nội dung, nghệ
thuật của các văn bản đã học. Các nhóm trả lời, giáo viên lần lượt loại những học
sinh trả lời sai. Cuối cùng còn lại học sinh của nhóm nào trả lời đến câu hỏi cuối
cùng thì nhóm đó được rung chuông vàng.
Trò chơi "tiếp sức"
8
Hoặc khi dạy bài Tổng kết về từ vựng chúng ta có thể chia nhóm và công
bố thể lệ, cách thức trò chơi. Mỗi nhóm chuẩn bị một nội dung của bài học. Lần
lượt gọi học sinh trong nhóm trả lời. Nhóm nào trả lời tiếp sức đúng thì đạt điểm
tối đa, nhóm nào không tiếp sức được đổi cho nhóm khác và bị điểm trừ.
Trò chơi "giải ô chữ"
Khi dạy tiết Tập làm văn: Người kể chuyện trong văn bản tự sự, chúng ta
có thể sử dụng trò chơi "giải ô chữ" để tìm ra ngôi kể thứ nhất và vai trò của ngôi
kể thứ nhất.
Trò chơi thi “Tuyển biên tập viên”.
Khi dạy tiết trả bài Tập làm văn, phần HS tự chữa lỗi có thể chuyển thành
trò chơi thi chữa lỗi “Tuyển biên tập viên”.
Khi dạy phần luyện tập của bài Các phương châm hội thoại (tiếp theo), ở
bài tập 3 trong SGK, tổ chức thi điền từ nhanh trên bảng lớp (nói mát, nói hớt,
nói móc, nói ra đầu ra đũa).
Bài Sự phát triển của từ vựng (tiếp theo), ở bài tập 1 trong SGK, chuyển
9
GV ghi ra 11 phiếu (tương ứng với 11 tác giả, tác phẩm học trong chương
trình), mỗi phiếu hai dòng thơ của một tác phẩm thơ trữ tình. Photo mỗi phiếu đó
tương ứng với số người tham gia chơi (4 – 5 em).
Tiến hành: 5 người chơi ngồi trên ghế quay mặt xuống lớp. Trên bàn, trước
mặt GV đặt 5 tờ phiếu (đã ghi cùng một câu thơ) gấp lại để giữ bí mật. Quản trò
hô “bắt đầu”, 5 người chơi mở tờ phiếu, xác định câu hỏi và giơ tay xin trả lời. Ai
nhanh nhất sẽ được trả lời. Trả lời đúng mỗi lượt sẽ được điểm tối đa, trả lời chưa
đúng thì những người chơi còn lại sẽ giơ tay xin bổ sung.
Sau 11 lượt chơi, cộng ai nhiều điểm nhất được chọn làm “Người uyên
bác”.
Bài Nghĩa tường minh và hàm ý, ở bài tập 3 chuyển thành trò chơi “Điền
câu” : Hai đội chơi, mỗi đội 4 em. Mỗi đội đồng thời viết lên bảng những câu
theo yêu cầu của bài tập. Cả lớp tính số câu đạt yêu cầu của từng đội để đánh giá
kết quả.
Trò chơi “Giải ô chữ”
Ví dụ cụ thể trong bài Người kể chuyện trong văn bản tự sự như sau:
HS đọc đoạn trích trong SGK trang 193. GV chia lớp thành 4 nhóm và tổ
chức trò chơi trong thời gian 5 phút.
Trò chơi có các ô chữ gồm 8 hàng ngang, mỗi một hàng ngang có một gợi
ý để trả lời. Lần lượt gọi các tổ lựa chọn hàng ngang trả lời để cuối cùng tìm ra từ
chìa khoá có liên quan đến ngôi kể của đoạn trích.
+ Hàng ngang thứ 1 gồm 10 chữ cái: Bút danh của tác giả đoạn trích trên là gì ?
+ Hàng ngang thứ 2 gồm 11 chữ cái: Tên của đoạn trích trên ?
+ Hàng ngang thứ 3 gồm 6 chữ cái: Nhân vật chính trong đoạn trích trên là ai ?
+ Hàng ngang thứ 4 gồm 8 chữ cái: Câu nói đầu tiên khi mẹ chú bé gặp chú bé ?
+ Hàng ngang thứ 5 gồm 3 chữ cái: Người kể chuyện trong đoạn trích xưng hô
như thế nào ?
G
T
R
O
N
G
L
O
N
G
M
B
E
H
O
C
O
5
6
7
8
T
H
O
N
G
H
O
C
H
A
M
+ Hàng 7 gồm 8 chữ cái: Tác giả truyện “Chuyện người con gái nam Xương”
(NGUYỄN DỮ)
+ Hàng 8 gồm 8 chữ cái: Thể văn ghi chép những điều kì lạ vẫn được lưu truyền
(TRUYỀN KÌ ).
+ Từ chìa khoá là: Đây là một đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.
H
U
N
N
C
G
U
O
N
G
V
U
T
R
A
N
G
U
Y
E
N
D
U
T
R
U
Y
1
2
B
U
T
N
Đ
I
N
H
C
H
I
E
N
K
I
G
A
C
L
E
O
K
H
E
O
11
B
I
C
T
O
N
G
Q
U
E
O
Trên đây chỉ là một vài ví dụ cụ thể về việc áp dụng các hình thức sử dụng
9
1
2
3
4
5
6
7
8
trò chơi trong dạy học văn. Trong chương trình ngữ văn THCS còn rất nhiều bài
có thể áp dụng các hình thức trên.
3. 3. Hoạt động củng cố
%
SL
%
SL
%
SL
%
2013 -2014
35
4
11,4%
7
20%
17
48,6
7
20%
2014 -2015
35
7
20%
11
31,5
15
42,8
2
5,7%
12
giúp đỡ của các cấp lãnh đạo nhà trường và ngành GD như đầu tư thêm tài liệu
tham khảo về môn văn, sắp xếp để các em học sinh có điều kiện tham khảo,
nghiên cứu. Trên đây là một chút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy của bản
thân. Trong quá trình thể nghiệm và viết lý thuyết những kinh nghiệm này không
tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự góp ý, chỉnh sửa của lãnh đạo nhà trường
cũng như của các đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng cơ quan Quảng Xương, ngày 19 tháng 4 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác
Người viết
Hoàng Thị Thủy
13
STT
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
14
Tài liệu tham khảo
15