skkn dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong các tiết luyện tập toán 5 - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH
TRONG CÁC TIẾT LUYỆN TẬP TOÁN 5
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Toán lớp 5.
3. Tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Hướng

Nam (nữ): Nữ

- Ngày/ tháng/ năm sinh: 15/7/1980
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên- Trường Tiểu học Đồng Lạc.
- Điện thoại: 01684165495
4. Đồng tác giả: Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Đồng Lạc - Thị xã Chí
Linh- Tỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 03203888079
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Đồng Lạc - Thị
xã Chí Linh- Tỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 03203888079
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến có thể áp dụng với tất cả các trường tiểu học trên toàn quốc với
những điều kiện cơ bản tối thiểu về cơ sở vật chất và chuyên môn theo quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 9 năm 2014 sáng kiến
được áp dụng.
TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN

2.1.Điều kiện áp dụng sáng kiến: Dùng cho giáo viên giảng dạy môn toán
tại trường tiểu học và áp dụng trong giảng dạy đối với học sinh lớp 5.
2.2.Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2014- 2015.
2.3. Đối tượng áp dụng sáng kiến: Giáo viên giảng dạy và học sinh lớp 5
- Lớp 5A gồm 24 học sinh: lớp đối chứng
- Lớp 5B gồm 22 học sinh: lớp thực nghiệm
2


3. Nội dung sáng kiến.
+ Tính mới tính sáng tạo của sáng kiến: Khi chưa áp dụng sáng kiến này
vào giảng dạy tôi thấy các em nắm bài chưa chắc, trong tiết dạy giáo viên còn
bỏ sót đối tượng học sinh, chưa quan tâm hết các đối tượng học sinh, tạo sự
nhàm chán cho các em,....Nhưng khi áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy các
tiết luyện tập toán 5 bản thân tôi thấy các em nắm bài rất tốt. Học sinh chủ động
nắm kiến thức được thực hành nhiều hơn. Giáo viên thì xác định được mục tiêu
bài học sát với từng đối tượng học sinh từ đó lựa chọn cho mình một phương
pháp phù hợp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. Học sinh chậm hiểu
không còn tự ti, học sinh năng khiếu không nhàm chán trong học tập. Tính tích
cực tự giác trong học tập của học sinh được nâng lên tạo cho học sinh hứng thú
học tập. Giáo viên nói ít, quan tâm đến mọi đối tượng học sinh….Đó cũng
chính là những điểm mới của sáng kiến này mà tôi đã kiểm nghiệm khi thực
nghiệm.
+ Khả năng áp dụng của sáng kiến: Những biện pháp trong sáng kiến có
thể dễ dàng áp dụng đối với giáo viên và học sinh không chỉ trong tiết luyện tập
toán mà còn có thể áp dụng đối với những bài hình thành kiến thức mới nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh khi học môn toán.
+ Lợi ích thiết thực của sáng kiến: Những biện pháp đưa ra có thể áp
dụng dễ dàng, không tốn kém về kinh tế, không mất nhiều công sức nhưng
mang lại hiệu quả thiết thực trong dạy của giáo viên và học của học sinh. Chất


4


MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
(Nghị quyết số 29 -NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong nghị quyết đã
nêu rõ “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi
với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục
gia đình và giáo dục xã hội.”
Mục tiêu giáo dục hiện nay của chúng ta là đào tạo những con người phát
triển toàn diện, những con người có đủ năng lực cần thiết, đáp ứng sự đòi hỏi
của cuộc sống hiện đại. Việc giáo dục một con người toàn diện không chỉ giáo
dục cho họ có đạo đức tốt, có trình độ hiểu biết, nắm chắc các kiến thức khoa
học và xã hội, có sức khoẻ, biết lao động, sẵn sàng lao động mà còn phải giáo
dục cho họ có năng lực tự lực, tự chủ, chủ động lĩnh hội kiến thức làm chủ hành
động của mình,… đó là một nhiệm vụ không thể thiếu được.
Môn Toán có tầm quan trọng to lớn. Nó là bộ môn khoa học nghiên cứu
có hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người. Môn
Toán còn là môn học rất cần thiết để học các môn học khác, nhận thức thế giới
xung quanh để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Môn Toán có khả năng
giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy
luận lôgic, thao tác tư duy cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu
tượng hoá, khái quát hoá, khả năng phân tích tổng hợp, so sánh, dự đoán, chứng
minh.

Toán còn là môn học rất cần thiết để học các môn học khác, nhận thức thế giới
xung quanh để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Môn Toán có khả năng
giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy
luận logic, thao tác tư duy cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu
tượng hoá, khái quát hoá, khả năng phân tích tổng hợp, so sánh, dự đoán, chứng
minh.
Môn Toán còn góp phần giáo dục lý trí và những đức tính tốt như: trung
6


thực, cần cù, chịu khó, ý thức vượt khó khăn, tìm tòi sáng tạo và nhiều kỹ năng
tính toán cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt
đẹp cho con người lao động trong thời đại mới.
Nội dung cơ bản của sáng kiến trình bày những vấn đề trọng tâm về việc
dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong các tiết luyện tập toán 5. Đó
là tổng quan về việc dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong môn toán
đặc biệt là trong các tiết toán luyện tập ở lớp 5, những cơ sở lí luận và thực tiễn,
một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh góp phần nâng
cao chất lượng dạy học môn toán lớp 5 đặc biệt là các tiết luyện tập. Trong sáng
kiến cũng trình bày một số kết quả cụ thể đã đạt được khi áp dụng sáng kiến
vào thực tế, bài học rút ra trong quá trình nghiên cứu sáng kiến. Nội dung trình
bày cũng nêu rõ phạm vi và điều kiện áp dụng của sáng kiến, những đề xuất,
kiến nghị với các cấp trong việc chỉ đạo cũng như thực hiện công tác dạy học
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
Những biện pháp đã nghiên cứu và trình bày trong sáng kiến được đúc
rút từ việc nghiên cứu lí luận với thực tế, kết hợp giữa phương pháp dạy học
truyền thống và phương pháp dạy học mới giúp cho người làm công tác giáo
dục nói chung và người giáo viên trực tiếp giảng dạy nói riêng có biện pháp và
cách thức dạy học nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động của người học,
giúp các em học sinh yêu thích học toán hơn. Đặc biệt là kết quả học tập cũng

Điểm
Điểm

thích
9-10
7-8
5-6
dưới 5
SL %
SL % SL % SL % SL %
7 29,2 7 29,2 10 41,7 5 20,8 2
8,3

5A

24

5B

8
0
22 3 13,6 10 45,5 9 40,9 2
Qua kết quả điều tra trên, tôi nhận thấy:

9,0 8

36,4 8

36,4 4


- Chưa biết xây dựng giáo án theo hướng tích cực, giáo án sơ sài chưa rõ
hoạt động.
- Vận dụng các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh còn lúng túng, chưa linh hoạt; giáo viên còn nói nhiều, truyền đạt, áp
đặt những kiến thức cần học đối với học sinh, còn vai trò của người học trở nên
thụ động và lu mờ.
- Sử dụng hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú, gây nhàm chán cho
học sinh.
- Khi tổ chức dạy học các đồng chí giáo viên chưa thống nhất được cách
tổ chức tiết học theo hình thức dạy phát huy tính tích cực của học sinh, hệ
thống bài tập, câu hỏi đưa ra cho học sinh chưa có tác dụng phát huy khả năng
của học sinh (có khi quá khó hoặc quá dễ).
- Chưa phân loại từng dạng bài khác nhau để có phương pháp giải riêng
cho từng dạng bài.
- Trong giảng dạy chưa quan tâm sát sao tới mọi đối tượng học sinh
trong lớp, câu hỏi đưa ra chưa kích thích mọi đối tượng học sinh học tập; chưa
động viên khuyến khích kịp thời.
- Còn nhiều giáo viên chưa hiểu rõ dụng ý của các bài tập. Họ cho rằng
trong sách giáo khoa Toán chỉ có các bài tập cơ bản phổ cập, chưa có bài tập
rèn tư duy sáng tạo của học sinh tức là giáo viên không chỉ ra được một số
dạng bài tập có thể khai thác nhằm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.
- Việc giao nhiệm vụ học tập vẫn theo hướng đồng loạt, điều này chưa
đạt yêu cầu dạy học theo năng lực sở trường của học sinh. Việc tìm nhiều cách
giải cho một bài tập ở sách giáo khoa hầu như bỏ qua.
- Còn nhiều giáo viên chưa chú ý( nói đúng hơn là chưa thể phát hiện)
để sửa lỗi cho học sinh trong khi các em trình bày bài giải và lập luận lôgic tìm
kiếm các kết quả mà thường chú trọng tới đáp số.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
9


nghề, mến trẻ, phải có năng lực sư phạm gồm: năng lực khoa học; hiểu học
10


sinh; ngôn ngữ diễn đạt; cách tổ chức, trình bày bài giảng; óc tưởng tượng sư
phạm....
4.3. Tìm hiểu và nắm vững nội dung chương trình các tiết Luyện tập
Toán ở lớp 5
Trong chương trình toán 5 qua điều tra tôi thấy các tiết luyện tập gồm có
85 tiết trong 5 chương.
- Chương 1: Ôn tập và bổ sung về phân số, giải toán có liên quan đến tỉ
lệ. Bảng đơn vị đo diện tích gồm 14 / 30 tiết
- Chương 2: Số thập phân và các phép tính với số thập phân gồm 27 /51
tiết
- Chương 3: Hình học gồm 19/36 tiết
- Chương 4: Số đo thời gian. Toán chuyển động đều gồm 9/17 tiết
- Chương 5: Ôn tập 16/35 tiết
Như vậy số tiết luyện tập chiếm gần 1/2 tổng số tiết theo phân phối
chương trình Toán 5.
4.4. Tìm hiểu và phân loại đối tượng học sinh.
Tìm hiểu và phân loại đối tượng học sinh là việc làm rất quan trọng, bởi
lẽ khi phân loại được học sinh của lớp, giáo viên sẽ xây dựng kế hoạch dạy học
phù hợp. Qua nhiều kênh thông tin như: thể hiện năng lực học tập của học sinh,
qua biểu hiện năng lực và phẩm chất, qua giáo viên chủ nhiệm cũ hay qua gia
đình; đặc biệt qua là khảo sát đầu năm giáo viên có thể phân loại trình độ học
toán của học sinh.
Sau khi đã tiến hành phân loại đối tượng học sinh ta tiến hành đi tìm hiểu
tình hình của từng nhóm( nhóm học sinh năng khiếu, nhóm học sinh chậm hiểu,
…). Trong các nhóm học sinh đó, giáo viên cần quan tâm đến đối tượng học
sinh tiếp thu chậm. Nguyên nhân của tiếp thu chậm có nhiều như: Sự phát triển

cao tầm hiểu biết của các em. Tuy nhiên không nên nâng cao, mở rộng kiến
thức một cách tuỳ tiện mà phải có trọng tâm.
Người giáo viên phải nắm vững những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng của
từng bài. Khi dạy giáo viên phải biết nên dạy cái gì trong bài đó và nó liên quan
đến bài trước bài sau như thế nào. Phải gắn kiến thức đang dạy với chuỗi kiến
thức của toàn chương trình bậc học, chương trình của lớp mình phụ trách. Như

12


thế, giáo viên mới có kế hoạch cụ thể hướng dẫn học sinh ôn lại kiến thức cũ và
tiếp nối chương trình mới một cách khoa học. Tuỳ từng đối tượng học sinh mỗi
lớp, giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu bài.
4.5. Xây dựng nề nếp học tập cho học sinh
Như trên đã nói học sinh là nhân vật trung tâm và chủ thể của quá trình
dạy học. Do đó học sinh chỉ có thể học tập đạt kết quả cao khi và chỉ khi học
sinh chủ động quan tâm và hứng thú vào hoạt động học tập, muốn vậy giáo
viên phải xây dựng cho học sinh một nề nếp, ý thức học tập tốt như:
- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, dụng cụ học tập như: SGK, vở ghi, vở nháp,
vở bài tập, thước kẻ, com pa, ê-ke…
- Ý thức học tập phải nghiêm túc, tự giác, có thói quen tự học, chuẩn bị
bài chu đáo ở nhà. Chuẩn bị bài chu đáo ở nhà một cách tự giác, kĩ lưỡng sẽ
giúp học sinh tiếp thu bài một cách tự tin thoải mái, các em có khả năng tham
gia trả lời, không bị động, lúng túng…do đó hứng thú học tập của học sinh
được nâng cao hơn; trước những tình huống có vấn đề được đặt ra ở lớp học
sinh sẽ biết cách lí giải với các phưong án khác nhau, có thể đó là phương án
khác của giáo viên…
- Rèn cho học sinh biết kết hợp các động tác: nghe, nhìn, nghĩ, nói, ghi
( đây là một yếu điểm lớn nhất của học sinh tiểu học).
Muốn làm được điều đó, giáo viên cần:

+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và phương
án giải quyết.
* Bước 4: Lựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức, phương
tiện dạy học và cách đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực,
chủ động sáng tạo và phát triển năng lực tự học.
* Bước 5: Xây dựng kế hoạch bài học.
=> Một số lưu ý khi thiết kế bài dạy:
- Bài soạn cần thể hiện rõ phương pháp phát huy tính tích cực, nội dung
phân hoá đối tượng học sinh và hình thức tổ chức dạy học trong từng hoạt
động.
- Chuẩn bị đồ dùng và xây dựng các hoạt động dạy học, chuẩn bị câu hỏi
gợi ý, dẫn dắt, dự kiến các tình huống sư phạm và tiến trình thời gian phù hợp
với từng đối tượng học sinh.
14


- Giáo viên cần đầu tư nghiên cứu bài soạn để phân hóa đối tượng trong
từng hoạt động dạy và học, chốt kiến tức sau mỗi hoạt động; lựa chọn phương
pháp, hình thức và đồ dùng dạy học cho phù hợp, hiệu quả.
- Linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học: Hỏi đáp (Học
sinh tiếp thu chậm câu hỏi dễ, đơn giản; học sinh năng khiếu câu hỏi khó, khái
quát hơn), thảo luận nhóm, luyện tập thực hành, trò chơi,.... tạo hứng thú cho
các em học tập.
Đặc biệt để phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh thì
trong giáo án phải thiết kế, xây dựng bài tập phù hợp với từng đối tượng học
sinh. Từ thực tiễn của lớp mình giảng dạy, khi soạn giáo giáo viên phải dự kiến
các câu hỏi và bài tập, các tình huống, các yêu cầu ở từng mức độ khác nhau
cho từng phần. Muốn vậy trước tiên giáo viên phải nắm chắc, yêu cầu, kĩ năng
cơ bản của từng bài. Cụ thể là:
a. Cần phân loại bài tập để có phương pháp giải từng loại bài tập đó.

- Mục tiêu đặt ra cho từng đối tượng học sinh như sau:
+ Học sinh tiếp thu chậm: Phải biết vận dụng công thức tính diện tích
xung quanh và diện tích toàn phần vào giải bài toán đơn giản( Bài 1,2)
+ Học sinh năng khiếu: Ngoài bài tập phải hoàn thành ( Bài 1,2) -> học
sinh làm cả bài 3.
c. Xác định được bài tập nào học sinh hay mắc sai lầm.
- Bài toán có lời văn liên quan đến tính diện tích, chu vi, thể tích các
hình đã học.
* Ví dụ: Bài 3 ( SGK trang 30): Một khu đất hình chữ nhật có chiều dài
200m, chiều rộng bằng

3
chiều dài. Hỏi khu đất bằng bao nhiêu mét vuông?
4

Bằng bao nhiêu héc-ta?
 Học sinh thường mắc sai lầm:
+ Tìm được kết quả đúng nhưng câu trả lời của một số em chưa chính xác:
+ Đáp số thiếu( chỉ ghi đáp số dưới dạng mét vuông chứ không ghi cả đáp
số héc-ta hoặc ngược lại.

16


Bài giải của học sinh

Bài giải đúng

Chiều rộng hình chữ nhật là:


tập còn lúng túng.
*Ví dụ: Bài 3 (SGK trang 146): Một xe máy đi từ A lúc 8 giờ 37 phút
với vận tốc 36 km/ giờ. Đến 11 giờ 7 phút một ô tô cũng đi từ A đuổi theo xe
máy với vận tốc 54 km/ giờ. Hỏi ô tô đuổi kịp xe máy lúc mấy giờ?
- Bài tập liên quan đến đổi đơn vị đo.
Một số học sinh không chú ý đến việc đổi các số đo về cùng một đơn vị
đo trước khi tính nên dẫn tới tìm kết quả sai.
* Ví dụ : Bài 1 (SGK toán 5 trang 31): Để lát nền một căn phong hình
chữ nhật, người ta dùng loại gạch men hình vuông có cạnh 30cm. Hỏi cần bao
nhiêu viên gạch để lát kín căn phòng đó, biết rằng căn phòng có chiều rộng 6m,
chiều dài 9m ?( Diện tích phần mạch vữa không đáng kể).
* Ví dụ: Bài 2 (SGK trang 110): Một cái thùng không nắp dạng hình hộp
chữ nhật có chiều dài 1,5m, chiều rộng 0,6m và chiều cao 8dm. Người ta quét
sơn mặt ngoài của thùng. Hỏi diện tích quét sơn là bao nhiêu mét vuông?
d. Xác định được bài tập dành riêng cho học sinh năng khiếu
* Ví dụ: Tiết 99: Luyện tập( SGK trang 94)
- Bài 3b: dành riêng cho học sinh năng khiếu
* Ví dụ: Tiết 116: Luyện tập chung (SGK trang 123)
- Bài 3: chỉ dành riêng cho học sinh năng khiếu
* Ví dụ: Bài 4 ( SGK trang 77): Một vườn cây ăn quả có 1200 cây. Hãy
tính nhẩm 5%, 10%, 20%, 25% số cây trong vườn.
17


e. Xác định được bài tập nào phát hiện học sinh có tư duy phát triển.
(Thường là các bài tập có nhiều cách giải hay bài tập đòi hỏi tính tư duy cao)
* Ví dụ: Bài 1c ( Trang 68) Tính:

167: 25 : 4


= 76,3 x( 94 + 4)
= 76,3 x 100
= 7630
- Bài 2: ( GSK trang 94): Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 102m,
đáy bé bằng 2/3 đáy lớn. Đáy bé dài hơn chiều cao 5m. Trung bình cứ 100m 2
thu hoạch được 64,5kg thóc. Tính số ki- lô- gam thóc thu hoạch được trên thửa
ruộng đó.

18


+ Kiến thức cần đạt: Tính được đáy bé, chiều cao, diện tích thửa ruộng
hình thang và số thóc thu hoạch được.
+ HS năng khiếu: Biết diễn đạt bài toán bằng nhiều cách khác nhau.
VD 1: Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 102m, đáy bé bằng 2/3 đáy
lớn. Chiều cao hơn đáy bé 5m. Trung bình cứ 100m 2 thu hoạch được 64,5kg
thóc. Tính số ki- lô- gam thóc thu hoạch được trên thửa ruộng đó.
VD 2: Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 102m, đáy bé bằng 85%
đáy lớn. Chiều cao bằng 2/3 đáy bé. Trung bình cứ 100m 2 thu hoạch được
64,5kg thóc. Tính số ki- lô- gam thóc thu hoạch được trên thửa ruộng đó.
+ Mở rộng yêu cầu: Tính số tạ thóc, tấn thóc thu hoạch được hoặc số tiền
thu được,…
VD: Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 102m, đáy bé bằng 2/3 đáy
lớn. Đáy bé dài hơn chiều cao 5m. Trung bình cứ 100m 2 thu hoạch được 64,5kg
thóc. Giá mỗi ki-lô-gam thóc giá 9500 đồng. Tính số tiền thóc thu hoạch được
trên thửa ruộng đó.
Với việc đưa thêm bài tập như vậy giáo viên đã bồi dưỡng học sinh năng
khiếu ngay trong tiết học một cách tự nhiên và hiệu quả.
h. Dự kiến thời gian cho mỗi bài tập khi dạy trên lớp để phân bố thời
gian hợp lí giữa các bài trong tiết dạy.

học, linh hoạt, sáng tạo để phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy
toán nói chung và tiết luyện tập toán nói riêng. Trong quá trình dạy học giáo
viên cần chú tới dạy phân hóa các đối tượng học sinh khác nhau để học sinh
năng khiếu không cảm thấy tẻ nhạt, các em được phát huy năng lực học tập của
mình. Và học sinh tiếp thu chậm không bị đứng bên lề mỗi tiết dạy, các em
được bồi dưỡng, rèn luyện để vươn tới sàn kiến thức kĩ năng cơ bản tối
thiểu cần đạt được. Do đó giáo viên cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
4.7.1. Sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp, linh hoạt nhằm
phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh.
* Một số phương pháp dạy học tích cực là:
+ Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm .
+ Phương pháp trò chơi.
+ Phương pháp đàm thoại
+ Phương pháp trực quan.
20


+ Phương pháp luyện tập thực hành.
- Cần sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với từng dạng bài tập.
- Mỗi một phương pháp dạy học đều có những ưu – nhược điểm riêng,
không có một phương pháp nào là vạn năng. Vì vậy việc phối hợp một cách
khéo léo và hợp lí các phương pháp dạy học khác nhau sẽ góp phần làm cho
giờ học trở nên sinh động, nhiều màu sắc, phát huy tính chủ động, sáng tạo,
tích cực từ phía học sinh.
4.7.2. Tổ chức các hình thức dạy học phù hợp và phong phú nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh
- Khi dạy các tiết luyện tập toán 5, nếu hình thức dạy học đơn điệu,
nghèo nàn, học sinh sẽ rất ngại học, chán học. Vì vậy, bên cạnh việc phân loại
đối tượng học sinh và sử dụng phương pháp dạy học linh hoạt thì giáo viên cần
làm phong phú hình thức tổ chức dạy học giúp học sinh chống chán, tạo nhu

tích cực, chủ động của học sinh.
1. Ổn định tổ chức (1-2 phút)
1. Giới thiệu bài (1-2 phút)
2. Nội dung luyện tập ( 25-30 phút)
* Hoạt động 1: Ôn kiến thức cũ (5-7 phút)
- GV tổ chức cho học sinh ôn kiến thức cũ ( KTBC)
* Hoạt động 2: Hoàn thành các bài tập củng cố kiến thức ( 10- 15
phút)
- Hệ thống bài tập trong SGK được sắp xếp từ dễ đến khó: Giáo viên cần
theo dõi và giúp đỡ các đối tượng học sinh theo cá nhân, nhóm, tổ...Có thể tổ
chức phong trào đôi bạn cùng tiến để phát huy khả năng của các em học sinh
năng khiếu trong việc giúp bạn học tập.
- Khi giảng dạy mỗi tiết luyện tập toán 5, giáo viên cần đặc biệt lưu ý
chốt kiến thức kĩ năng cho học sinh trong mỗi bài tập( Có thể câu hỏi gợi mở,
ôn tập lại kiến thức trước khi làm bài tập hoặc chốt kiến thức sau khi làm xong
mỗi bài tập).
*Hoạt động 4: Củng cố kiến thức (5 phút)
- Nêu kiến thức cần nhớ( hoặc tổ chức trò chơi để củng cố kiến thức).
- Nhận xét giờ, giao nhiệm vụ.

22


* Lưu ý: Giáo viên cần nắm quy trình chung để dạy mỗi bài tập trong tiết
luyện tập toán 5. Cụ thể là:
+ Bước 1: Đọc, xác định yêu cầu bài.
+ Bước 2: Học sinh làm bài tập( cá nhân, nhóm )
+ Bước 3: Đánh giá, nhận xét và chữa bài.
+ Bước 4: - Chốt kiến thức, kĩ năng cần củng cố qua nội dung bài tập đó.
- Nâng cao hoặc mở rộng kiến thức với học sinh năng

sống, giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống.
+ Cụm từ thường dùng: Tính, thực hiện, vẽ, mô tả hãy áp dụng.
Cách đặt câu hỏi của giáo viên phải giúp học sinh phát triển tư duy, buộc
học sinh phải suy nghĩ trước khi đưa ra câu trả lời. Ngoài ra giáo viên phải quan
tâm chú ý đến đối tượng được hỏi hướng tới cá nhân học sinh, tính tích cực
trong dạy học. Vì vậy, khi đặt câu hỏi cần chú ý đến một số kĩ thuật sau:
- Câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời và âm lượng đủ nghe.
- Câu hỏi phải kích thích suy nghĩ của học sinh.
- Câu hỏi phải phù hợp với mục tiêu bài học.
- Đặt câu hỏi phải xem xét học sinh có trả lời được không.
- Dừng lại sau khi đặt câu hỏi để tạo điều kiện cho học sinh đưa ra câu
trả lời tốt hơn, hoàn chỉnh hơn.
- Nếu HS không trả lời được thì có thể đặt câu hỏi khác khác đơn giản
hơn mà vẫn đảm bảo yêu cầu bài học.
- Cần tránh hệ thống câu hỏi đế.
- Câu hỏi nên phù hợp với từng đối tượng học sinh và để nhiều học sinh
trả lời nhằm tích cực hóa các đối tượng trong giờ học.
- Nên sử dụng cử chỉ, ánh mắt để khuyến khích học sinh trả lời.
- Nên khen ngợi, khuyến khích hay ghi nhận những câu trả lời đúng của
học sinh.
- Tránh làm cho học sinh ngại ngùng khi trả lời.
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc.
- Phải thay đổi nội dung câu hỏi.
- Khi đặt câu hỏi cần phối hợp ngôn ngữ, hình thể, cử chỉ để khuyến
khích học sinh trả lời.
- Cần bám sát mục tiêu kiến thức kĩ năng cần đạt của bài học và khả năng
24


của người học mà người dạy sử dụng thời lượng câu hỏi nhiều hay ít, mức độ dễ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status