Skkn biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn ngữ văn lớp 6,7 ở trường THCS buôn trấp - Pdf 42

SÁNG
KIẾN
NGHIỆM
PHÒNG
GIÁO KINH
DỤC VÀ ĐÀO
TẠO KRÔNG ANA
Krông
Ana,
thángTRẤP
03/2017
TRƯỜNG
THCS
BUÔN

BIỆN PHÁP ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ
ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN
LỚP 6,7 Ở TRƯỜNG THCS BUÔN TRẤP
BỘ MÔN: NGỮ VĂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Hoài Sương
Chức danh: Giáo viên
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
Môn đào tạo: Ngữ Văn

1


I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài
Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong hệ thống các môn học ở cấp
THCS. Mục tiêu của môn Ngữ văn là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chú

chủ động của học sinh thông qua việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong
2


giảng dạy phân môn Đọc – Hiểu văn bản thuộc môn Ngữ văn cấp THCS, góp phần
nâng cao chất lượng bộ môn, tạo niềm say mê, hứng thú cho các em trong học tập.
b. Nhiệm vụ của đề tài
Trình bày cụ thể những việc cần làm và làm như thế nào để tạo điều kiện cho
học sinh phát triển tư duy sáng tạo, phát huy tính chủ động, tích cực trong học tập.
I.3. Đối tượng nghiên cứu
Từ thực tế việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trường THCS Buôn
Trấp. Đặc biệt là việc dạy và học môn Ngữ văn ở học sinh lớp 6,7 Tôi tiến hành
nghiên cứu những biện pháp dạy học tích, việc áp dụng biện pháp dạy học này trong
việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy phần Đọc – Hiểu văn bản của
môn Ngữ văn lớp 6,7.
I.5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: các tài liệu viết về các phương pháp dạy
học tích cực, giáo án Ngữ văn của giáo viên.
- Phương pháp điều tra thực tế: thông qua thực tế giảng dạy và các tiết dự giờ
của đồng nghiệp.
- Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin từ đồng nghiệp, từ học
sinh.
- Phương pháp xử lý thông tin thông qua đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng
hợp.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục nói
chung và vấn đề đổi mới PPDH trong trường trung học nói riêng. Vấn đề này đã được

…), năng lực chuyên môn của giáo viên ngày càng được khẳng định.
- Công nghệ thông tin phát triển cùng với sự bùng nổ của Internet nên việc tìm
hiểu, khai thác thông tin về lĩnh vực bộ môn, phân môn, bài dạy trên mạng ngày càng
dễ dàng và thuận lợi.
- Giáo viên thường xuyên được tập huấn hoặc tiếp thu chuyên đề về đổi mới
PPDH nói chung và đổi mới PPDH đối với môn Ngữ văn nói riêng. Đa số giáo viên
đã chủ động vận dụng khá hiệu quả các PPDH tích cực vào quá trình lên lớp.
b) Khó khăn:
- Thói quen sử dụng PPDH truyền thống ở một số giáo viên còn nặng nề.
- Một số bài học, tiết học, nội dung kiến thức còn nặng so với thời gian quy
định tại PPCT.
- Cơ sở vật chất chưa thực sự đáp ứng yêu cầu dạy và học.
- Một số học sinh chưa thật hứng thú với môn học, còn có thói quen ỉ lại, dựa
dẫm vào bạn; thiếu mạnh dạn, chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập.
4


2.2. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Thực tế giảng dạy cho chúng ta thấy: trong một lớp học đại trà, số học sinh học
khá, giỏi môn Ngữ văn, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập còn chiếm tỷ lệ
rất khiêm tốn. Bên cạnh đó, còn nhiều học sinh thiếu cố gắng trong học tập, thụ động
trong việc tiếp thu kiến thức, hạn chế về khả năng diễn đạt, thậm chí có những học
sinh thuộc vào diện “hết thuốc chữa”, giáo viên đành cho “ngủ yên” để khỏi ảnh
hưởng lớp. Phương pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng học
sinh – đối tượng của hoạt động “dạy” trở thành chủ thể của hoạt động “học là
một PPDH tích cực – “phương thuốc” khá hữu hiệu nhằm kích thích tư duy độc lập
của học sinh, dạy học sinh cách tự suy nghĩ, lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học,
làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập, lòng tự tin
của các em, rèn cho các em năng lực diễn đạt, mạnh dạn bày tỏ sự hiểu biết của mình,
biết chú ý lắng nghe và hiểu ý diễn đạt của người khác. Tạo môi trường học tập thân

sinh theo bốn cấp độ sau đây:
Thứ nhất, giúp học sinh tri giác, cảm thụ văn bản, hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt
truyện, thể loại... để có thể cảm nhận được hình tượng nghệ thuật trong sự toàn vẹn
của các chi tiết, các liên hệ.
Thứ hai, giúp học sinh tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào
hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng, tình cảm tác giả.
Thứ ba, giúp học sinh đưa hình tượng nghệ thuật vào văn cảnh đời sống và
kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm, đồng cảm.
Thứ tư, giúp học sinh nâng cấp lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ
thống, hiểu được vị trí của tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và
truyền thống nghệ thuật.
Có như vậy, học sinh mới thấy hứng thú và cảm thấy mình cũng là người
“đồng sáng tạo” với tác giả, như quan điểm của mỹ học tiếp nhận.
Ví dụ: Khi dạy văn bản Cô Tô của Nguyễn Tuân, giáo viên phải giúp học sinh
tri giác, cảm thụ được: Hầu hết cảnh vật sau khi bão đi qua là xơ xác, là điêu tàn.
Nhưng với Cô Tô, sau cơn bão cảnh sắc lại càng trở nên đẹp hơn, đáng yêu hơn. Điều
đó giúp em cảm nhận thêm vẻ đẹp nữa của Cô Tô. Đó là vẻ đẹp hồi sinh nhanh
chóng sau trận bão. Đó chính là vẻ đẹp của sức sống bền vững, mãnh liệt. Đặc biệt là
kể từ khi quần đảo Cô Tô mang lấy dấu hiệu của sự sống con người- như tác giả đã
nói - Điều đó chứng tỏ không những thiên nhiên nơi đây có sức sống bền vững,
mãnh liệt mà con người nơi đây cũng rất kiên cường, bất khuất trước sự tàn phá của
dông bão, không khuất phục trước sức mạnh của thiên nhiên.
- Với những yêu cầu cao trong công việc đổi mới phương pháp, người giáo viên
phải nâng cao trình độ và bản lĩnh. Truyền thụ tri thức, rèn luyện kĩ năng đã khó,
hướng dẫn cách cảm thụ, lối tư duy cho học sinh còn khó bội phần. Sự cập nhật tri
thức phải luôn đi đôi với nâng cao trình độ sư phạm. Một khi đã quán triệt tinh thần
6


coi học sinh là chủ thể tiếp nhận, tất yếu giáo viên sẽ phải đối diện với sự đa dạng,

đúng đắn cung cấp tri thức đọc hiểu cho học sinh, mà trước hết là ở khâu giúp các em
chuẩn bị tốt bài ở nhà Xuất phát từ yêu cầu tích hợp cũng như ý thức về việc bám sát
đặc trưng thể loại là định hướng đúng đắn cung cấp tri thức đọc hiểu cho học sinh,
mà trước hết là ở khâu giúp các em chuẩn bị tốt bài ở nhà. Chẳng hạn khi dạy văn bản
Tinh thần yêu nước của nhân dân ta (Ngữ văn 7) giáo viên phải hướng dẫn cho các
em nắm vững đặc trưng của văn nghị luận để học sinh dễ tiếp xúc với văn bản. Bên
7


cạnh đó khi dạy giáo viên nhất thiết phải tích hợp với môn lịch sử để làm rõ về tinh
thần yêu nước của dân tộc ta qua các thời kì dựng nước và giữ nước. Từ đó khơi gợi
lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ
trẻ.
- Giáo viên nắm chắc ý đồ của người soạn SGK ở phần hướng dẫn học bài
sau mỗi văn bản.
Ở mỗi văn bản, mỗi bài học cụ thể có những mục đích khác nhau. Trong Sách
giáo khoa Ngữ văn sau tên mỗi văn bản là mục kết quả cần đạt. Đây là phạm vi kiến
thức trọng tâm bài học mà học sinh cần nắm được. Để đạt được kết quả đó người
soạn sách đã có những định hướng đọc- hiểu cho cả người dạy và người học ở mục
hướng dẫn học bài. Để tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản sát hợp, một yêu cầu
vô cùng quan trọng là giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà đúng
trọng tâm như yêu cầu ở mục kết quả cần đạt. Ví dụ, khi học bài thơ Lượm của Tố
Hữa, để học sinh hiểu và cảm nhận sâu hình ảnh của Lượm, giáo viên yêu cầu học
sinh khi soạn bài cần đọc kĩ đoạn thơ miêu tả hình dáng, trang phục, cử chỉ, lời nói
của Lượm để từ đó cảm nhận được Lượm là một chú bé liên lạc nhí nhảnh, hồn
nhiên, yêu đời, nhanh nhẹn và ham thích công việc kháng chiến.
Hiểu được mục đích của người soạn Sách giáo khoa ở phần hướng dẫn học bài
sau mỗi văn bản sẽ giúp giáo viên xác định phương pháp dạy học phù hợp từng bài
học cụ thể. Chẳng hạn, với mục đích đồng sáng tạo ở bạn đọc, trong phần hướng dẫn
học bài của văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê, sách giáo khoa Ngữ văn 7

giáo khoa, giáo viên cần hướng các em vào những ý trọng tâm, câu hỏi trọng tâm,
điều này rất có ích cho việc đọc hiểu văn bản ở trên lớp. Muốn làm được điều này
giáo viên phải có đầu tư suy nghĩ trước một bước. Và như vậy, việc hướng dẫn học
sinh chuẩn bị bài ở nhà sẽ mang lại hiệu quả hơn. Chẳng hạn khi soạn bài Tiếng gà
trưa(Xuân Quỳnh) giáo viên yêu cầu các em chú ý và trả lời kỹ những vấn đề sau:
Câu 1: Tại sao trong vô vàn âm thanh của làng quê, tâm trí người chiến sĩ bị ám ảnh
bởi tiếng gà trưa ? Với người lính ra trận, tiếng gà trưa gợi những cảm giác mới lạ
nào? Tại sao? Nghệ thuật?
Câu 2: Nghe tiếng gà trưa, người lính nhớ lại những kỉ niệm nào của tình bà cháu?
Tại sao những kỉ niệm về người bà lại không phai mờ trong tâm hồn của người
cháu?
Câu 3 : Điệp từ “vì” trong khổ thơ cuối được lặp lại ba lần điều ấy có ý nghĩa gì?
Với câu hỏi 1 giáo viên đã giúp học sinh tìm hiểu nội dung đoạn thơ 1 của bài
thơ: Tiếng gà trưa thức dậy tình cảm làng quê; câu hỏi 2 giúp học sinh tìm hiểu nội
dung 5 khổ thơ tiếp theo: Tiếng gà trưa khơi dậy những kỉ niệm ấu thơ; câu hỏi 3
giúp học sinh cảm nhận được nội dung khổ thơ cuối: Điệp từ “vì” khẳng định hành
động chiến đấu vì mục đích cao cả, bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ cuộc sống bình
yên cho nhân dân, gia đình, người thân, và niềm hạnh phúc của tuổi thơ.
Nếu học sinh về nhà chuẩn bị tốt theo các câu hỏi mà giáo viên đã cho khi
lên lớp các em sẽ tiếp thu bài rất nhanh.
Như vậy, việc hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi là việc
làm vô cùng quan trọng, bởi đây là một bước chuẩn bị trước làm cơ sở cho việc đọc
tác phẩm trên lớp. Nếu giáo viên làm tốt bước này thì khâu lên lớp sẽ nhẹ nhàng hơn,
giờ học sôi nổi hơn và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn.
- Hướng dẫn học sinh lập dàn ý khái quát sơ đồ tư duy cho bài học.
Từ những hiểu biết của bản thân, học sinh tự lập thành sơ đồ, thành những dàn
ý theo suy nghĩ của mình. Điều ấy có nghĩa rằng sau khi đọc phân tích, học sinh cần
phải tổng hợp, tái tạo lại cấu trúc của bài học. Ghi chép tóm tắt những gì và như thế
nào là phụ thuộc vào hiểu biết và kinh nghiệm của từng người. Điều quan trọng là
9

Hay khi học xong văn bản “Quan Âm Thị Kính”, GV yêu cầu HS khái quát nội
dung kiến thức bằng sơ đồ tư duy. HS có thể tự do sáng tạo theo khả năng của mình:

Có thể khẳng định rằng, nếu công việc này được giáo viên làm một cách đều
đặn và tâm huyết thì giờ học văn bản sẽ đạt được kết quả như mong đợi. Ưu điểm của
cách làm này là tiết kiệm được thời gian khi lên lớp, phát huy được cách học hợp tác,
vấn đề trọng tâm của bài học sẽ được mổ xẻ một cách sâu sắc hơn..
- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở một số tiết học tác phẩm văn chương cụ
thể:
11


Bài 1: Truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng.
+ Giới thiệu một số truyện cổ tích mà em đã học.
+ Suy nghĩ, tranh luận về sự tham lam của nhân vật mụ vợ cũng như cách kết
thúc truyện.
Bài 2: Ca dao “Những câu hát than thân(Ngữ văn 7).
+ Các tổ sưu tầm và đóng thành tập về những bài ca dao mở đầu bằng 2 từ
“Thân em”.
+ Những học sinh có năng khiếu văn nghệ chuẩn bị một bài hát dân gian có
chủ đề than thân để diễn xướng trong giờ học trên lớp.
3. Biện pháp tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
* Đối với giáo viên:
- Phải nắm vững nội dung bài giảng và trọng tâm bài dạy để đặt câu hỏi hướng
vào nội dung bài học. Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ
thể, từng lớp học, từng điều kiện có thể có. Tránh đặt câu hỏi máy móc, hỏi cho có,
tránh lạm dụng trong việc đặt câu hỏi để rơi vào tình trạng dạy học hỏi đáp máy mọc
đơn điệu.
- Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với phương pháp giảng dạy mà mình đã lựa
chọn: Nêu vấn đề, đàm thoại, giảng bình…và lượng câu hỏi phải hết sức hợp lí. Nội

của học sinh.
Không nên đưa những dạng câu hỏi mà chỉ yêu cầu học sinh trả lời có hoặc
không. Ví dụ: Khi giảng văn bản Bức tranh của em gái tôi(Ngữ văn 7) chúng ta
không nên đặt những câu hỏi như: Đọc xong văn bản, em thấy nhân vật người anh có
phải là một người xấu không? Mà chúng ta phải đặt những câu hỏi nhằm giúp các em
tìm kiếm, phát hiện: Qua hình ảnh người anh đứng trước bức tranh đạt giải của em
gái và những suy nghĩ của người anh, em cảm nhận được gì về nhân vật người anh?
- Câu hỏi phải tác động đến cảm xúc và rung động thẩm mỹ, đặc biệt là tác
động đến trực giác của học sinh.
Ở dạng câu hỏi này giáo viên phải biết chọn lựa những chi tiết nghệ thuật đặc
sắc, có tác dụng thẫm mỹ cao.
Ví dụ 1: Cách sử dụng điệp từ “vì” ở 4 câu thơ trong khổ thơ cuối ở bài
“Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh giúp em cảm nhận được điều gì? (Điệp từ “vì”
khẳng định hành động chiến đấu vì mục đích cao cả, bảo vệ non sông đất nước, bảo
vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân, gia đình, người thân, và niềm hạnh phúc của
tuổi thơ).
Vì sao người chiến sĩ có thể nghĩ rằng cuộc chiến đấu của mình còn là “vì
tiếng gà cục tác, Ổ trứng hồng tuổi thơ”? (Ổ trứng hồng và tiếng gà là những điều
thân thương, quí giá chân thật. Là biêu tượng hạnh phúc ở mỗi miên quê. Vì thế cuốc
chiến đấu hôm nay còn có thêm ý nghĩa bảo vệ những điều chân thật quí giá đó).
Ví dụ 2: Trong bài thơ, có nhiều câu thơ có cách cấu tạo đặc biệt. Đó là những
câu thơ nào?
“ Ra thế
“ Thôi rồi, Lượm ơi!”
Lượm ơi !”
“ Lượm ơi, còn không?

13



giả sử dụng (đây là yêu cầu nhận biết). Sau khi nhận biết, học sinh phải lí giải
được tác dụng của những chi tiết nghệ thuật ấy tức là phải lí giải được câu hỏi viết
để làm gì? (đây là yêu cầu tư duy, cảm thụ). Cuối cùng học sinh phải chủ động
tổng hợp khái quát những vấn đề do chính học sinh đã phân tích ở trên.
- Phải có câu hỏi then chốt, trọng tâm với mục đích yêu cầu của bài, tránh
đưa ra những câu hỏi chung chung mơ hồ, vụn vặt không có sự tư duy, sáng tạo.
14


Ví dụ: Khi dạy bài “Bức tranh của em gái tôi” (Ngữ văn 6- Tạ Duy Anh)
chúng ta có thể đặt câu hỏi: Qua sự thay đổi trong suy nghĩ của nhân vật người anh
khi đứng trước bức tranh đạt giải của cô em gái Kiều Phương, em cảm nhận được
điều gì? Với câu hỏi này giáo viên giúp học sinh cảm nhận được ở người anh là sự
ăn năn, hối hận chân thành về thái độ của mình và rất khâm phục tài năng và tấm lòng
nhân hậu của em gái. Hay: Qua việc tìm hiểu về nhân vật Kiều Phương? Em hãy cho
biết những đặc điểm nổi bật nào về nhân vật này? Học sinh sẽ chốt được: Kiều
Phương là một em bé hồn nhiên, trong sáng thông minh, hiếu động, có tấm lòng nhân
hậu, độ lượng và có tài năng về hội họa.
- Hệ thống câu hỏi phải được sắp đặt hợp lý, được xác định phù hợp với đối
tượng và phân loại đối tượng.
Kiểm tra bài cũ ở các đối tượng học sinh giáo viên tổ chức như sau:
Tổ chức trò chơi ai nhanh hơn:
Giáo viên phổ biến luật chơi: Cô sẽ cho các em xem một số hình ảnh và sau đó
chúng ta sẽ trả lời các câu hỏi phía dưới. Ai có câu trả lời đúng, nhanh nhất sẽ được
cộng thêm điểm.
Để tổ chức kiểm tra bài cũ theo phương pháp này giáo viên sưu tầm những
hình ảnh phục vụ tốt cho kiến thức cần kiểm tra, sau đó trình chiếu cho học sinh xem
rồi đặt câu hỏi. Ví dụ: Để kiểm tra bài “Cảnh khuya, Rằm tháng giêng” trong chương
trình Ngữ văn lớp 7, giáo viên cho các em xem hình ảnh sau:


Ví dụ 2: Dạy Phần cuối văn bản Buổi học cuối cùng của An-phông-xơ Đô-đê
(văn 6 tập 1), GV có thể hỏi: Hãy tìm trong đoạn văn những chi tiết miêu tả hình ảnh
thầy Ha-men khiến ta xúc động.
(2) Câu hỏi yêu cầu giải thích, minh hoạ: Loại câu hỏi này nhằm mục đích
làm sáng tỏ một khái niệm, đề tài nào đó. Giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi
kèm theo những ví dụ minh hoạ để giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này
16


được áp dụng có hiệu quả trong một số trường hợp như khi Giáo viên biểu diễn
phương tiện trực quan (băng ghi hình, máy chiếu)
Ví dụ: Em hãy nhìn tranh và đọc lại bài thơ “Bạn đến chơi nhà’ của Nguyễn
Khuyến( Ngữ văn 7-tập 1)

Khi dạy văn bản Cô Tô của Nguyễn Tuân, ở phần tìm hiểu khái quát về quần đảo
Cô Tô. Để tạo tâm thế cho học sinh vào bài, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
- Nêu những hiểu biết của em về quần đảo Cô Tô?
+ Để giúp các em hình dung cụ thể hơn về quần đảo Cô Tô, giáo viên cho các em
quan sát những bức tranh hoặc xem clip về Cô Tô.

17


- Các em có cảm nhận gì về Cô Tô sau khi đã quan sát thêm tranh minh họa
(xem clip) ?
+ Hs cảm nhận được: Phong cảnh đẹp, tài nguyên biển phong phú, giàu có, là
điểm du lịch hấp dẫn.
GV: Chính vì vậy mà nhà văn Nguyễn Tuân đã nhiều lần đến thăm đảo Cô Tô và có
lẽ lần này là lần ấn tượng nhất nên ông đã tạo ra một áng văn hay đến như vậy.
(3) Câu hỏi tìm tòi (vấn đáp phát hiện)

Em thấy có đúng không? Vì sao?
Câu hỏi này đặt ra khi phân tích Cảnh thiên nhiên trên đảo Cô Tô sau trận bão.
Để giúp HS giải quyết được vấn đề trên, GV có thể gợi mở giúp cho HS cảm nhận
được: Bên cạnh các tính từ miêu tả cảnh Cô Tô sau cơn báo, tác giả sử dụng đi kèm
những từ: thêm, hơn. Điều đó chứng tỏ vốn dĩ Cô Tô rất đẹp, sau cơn bão Cô Tô càng
đẹp hơn, càng đáng yêu hơn, càng có sức sống mãnh liệt hơn.
Từ đó GV tích hợp giáo dục HS trong quan sát và cách dùng từ khi tạo lập văn
bản miêu tả.
Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Cổng trường mở ra” của Lý Lan, GV có thể đặt câu
hỏi: Em hiểu gì về câu nói của người mẹ “ Bước qua cánh cổng trường là một thế giới
kì diệu sẽ mở ra”? Theo em thế giới kì diệu đó là gì?
HS có thể có nhiều phát hiện:
+ Được khám phá một thế giới mới lạ: những điều kì diệu, bí ẩn trong thế giới tự
nhiên và con người…
+ Được đến với cả một chân trời tri thức: văn hóa, khoa học bao la rộng lớn…
+ Được bồi dưỡng về tâm hồn nhân cách
+ Được sống trong vòng tay yêu thương của thầy cô, bè bạn…
+ Ước mơ, khát vọng được chắp cánh để bay cao, bay xa;…
Hay câu hỏi: Đoạn cuối văn bản xuất hiện câu thành ngữ “Sai một li đi một
dặm” Em hiểu câu thành ngữ này có ý nghĩa gì khi gắn với sự nghiệp giáo dục?
Câu hỏi này đặt ra yêu cầu HS suy luận. Giáo viên giúp HS giải quyết vấn đề
bằng những câu hỏi gợi mở để tìm ra ý nghĩa của câu nói đó là Không được phép sai
lầm trong giáo dục.
* Câu hỏi cần được phân tích, nhận xét, đánh giá: Sau khi nêu ra các câu hỏi
chúng ta phải đặt những câu hỏi để tìm ra những lý do: Tại sao tác giả lại xây dựng,
sử dụng những hình ảnh, hình tượng, chi tiết nghệ thuật đó? Ý nghĩa của vấn đề?
Loại câu hỏi này giúp học sinh biết phân tích, đánh giá và khái quát những vấn đề
quy tụ vào những đặc trưng về hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng của tác
phẩm.
Ví dụ 1: Khi giảng bài “ Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh

Ra thế
Lượm ơi!
Đó là nỗi sửng sốt, xúc động đến nghẹn ngào. Và nhà thơ hình dung ra ngay
cảnh tượng chú bé hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.
Lượm “ thiên thần bé nhỏ ấy đã bay đi”, để lại bao tiếc thương cho chúng ta,
như Tố Hữu đã nghẹn ngào, đau xót gọi em lần thứ ba bằng một câu thơ day dứt:
Lượm ơi, còn không?
Câu thơ đứng riêng thành một khổ thơ, như một câu hỏi xoáy vào lòng người đọc,
đã nói rõ tình cảm của nhà thơ đối với chú bé anh hùng của dân tộc. Tác gỉa như
không tin rằng Lượm đã hy sinh, Lượm vẫn còn trong lòng tác giả, mãi còn cùng với
đất nước, quê hương.
Ví dụ 3: Khi dạy văn bản “Sống chết mặc bay” Của Phạm Duy Tốn, GV hỏi:
Trong bài tên sông được nói cụ thể (sông Nhị Hà) nhưng tên phủ được ghi bằng ký
hiệu (phủ X, làng X). Điều đó thể hiện dụng ý gì của tác giả ?
20


GV giúp HS cảm nhận được: Tác giả muốn người đọc hiểu câu chuyện này không
chỉ xảy ra ở một nơi mà có thể là phổ biến ở nhiều nơi trên nước ta.
* Câu hỏi yêu cầu có sự so sánh đối chiếu: Sự so sánh đối chiếu là một hình
thức của thao tác phân tích trong tư duy. Qua việc so sánh đối chiếu trong giờ học văn
bản, học sinh có thể nhận ra những nét độc đáo, những ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm.
Các loại câu hỏi đưa ra có thể là để so sánh các hình ảnh chi tiết trong tác phẩm hoặc
với các tác phẩm khác.
Ví dụ 1: Khi dạy bài thơ “Bạn đến chới nhà”, GV có thể hỏi: Theo em có gì khác
nhau trong cụm từ “ta với ta” ở bài thơ “Bạn đến chơi nhà” so với bài “Qua Đèo
Ngang” Bà Huyện Thanh Quan ?
Học sinh so sánh được:
- Giống nhau: cấu tạo ngữ pháp, từ ngữ
- Khác nhau về ý nghĩa:

- Em thấy có đặc điểm nào của con người được gán cho các con vật trong đoạn
truyện này? Em thích những đặc điểm nào? Không thích đặc điểm nào?
- Theo em, sau cái chết của Dế Choắt, Dế Mèn đã rút ra được điều gì ? Đó là
bài học gì?
- Bài học đó có phải là bài học cho tất cả chúng ta không? Vì sao?
5. Các biện pháp kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Để phần việc này thực sự đạt hiệu quả và sức hấp dẫn, người giáo viên cần lưu
ý:
- Cần nắm vững chuẩn kiến thức- kĩ năng và yêu cầu cần đạt của mỗi bài học.
Đây là “kim chỉ nam” giúp cho phần củng cố của bài học không bị chệch hướng và
xác định được nội dung trọng tâm.
- Cần phối hợp nhiều phương pháp, trong đó chú ý đến phương tiện dạy học
hiện đại (dùng công nghệ thông tin, màn ảnh, máy chiếu, âm thanh...) để củng cố bài
học tạo nên sự hứng thú của học sinh.
- Cung cấp thêm những tư liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm hoặc những lời
bình về tác phẩm, chẳng hạn:
+ Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Đêm nay Bác không ngủ(Minh Huệ), Cây
tre Việt Nam( Thép Mới), Buổi học cuối cùng( An- phông- xơ Đô- đê),...Cảnh khuyaRằm tháng giêng( Hồ Chí Minh),...
+ Giới thiệu thêm tác phẩm có liên quan đến cùng nội dung chủ đề của cùng
tác giả: sau khi học xong bài Cây tre Việt Nam( Thép Mới), đọc thêm cho học sinh
nghe bài thơ “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy, Vài câu thơ về cây tre trong bài
“Viếng lăng Bác” của Viễn Phương,...
+ Đọc những bài thơ, câu thơ được khơi gợi cảm xúc từ những hình tượng
nhân vật văn học: ví dụ những câu thơ viết về Thánh Gióng, Hồ Chí Minh, Phan Bội
Châu,...
+ Dùng sơ đồ, biểu bảng... để tổng kết những nội dung cơ bản hoặc cấu trúc bài
học:
- Sử dụng hệ thống câu hỏi để kiểm tra, đánh giá năng lực nhận thức, rung
động cảm xúc và khả năng sáng tạo của học sinh bằng một số kiểu câu hỏi theo cấp
độ tăng dần như sau:

Những câu hỏi thuộc kiểu loại trên đòi hỏi học sinh phải có sự tư duy thấu đáo.
Yêu cầu các em phải hiểu nội dung bài học và nhận định của nhà nghiên cứu, từ đó
phải huy động kiến thức để lí giải, chứng minh. Những câu hỏi này giúp các em phát
triển tư duy và cách lập luận.
- Cung cấp cho học sinh những cách tiếp cận khác nhau về tác phẩm, sau đó
cho học sinh lựa chọn cách hiểu phù hợp với năng lực của mình và lí giải.
Điều cần lưu ý là với kiểu câu hỏi này, giáo viên khuyến khích các em mạnh
dạn trình bày những cách hiểu khác nhau nhưng điều quan trọng là xem xét đến sự lí
23


giải của các em. Từ đó giúp các em biết được nhiều “kênh” khác nhau, đồng thời rèn
luyện cho các em “bản lĩnh” nghiên cứu, sáng tạo...
- Ngoài ra có thể kết hợp với các hình thức sau:
+ Sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Hình thức kiểm tra này
rất phù hợp bởi trong một khoảng thời gian ít ỏi nhưng có thể kiểm tra được nhiều
đơn vị kiến thức
+ Sử dụng các hình thức kiểm tra theo kiểu “vừa học vừa chơi” như câu đố,
chơi ô chữ.
Giáo án minh hoạ việc áp dụng Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp.
TUẦN 2 . Tiết 5, 6
VĂN BẢN

CUỘC CHIA TAY CỦA NHỮNG CON BÚP BÊ
( Khánh Hoài )
A / Mục tiêu cần đạt : Giúp HS :
1. Kiến thức:
- Tình cảm anh em ruột thịt thắm thiết, sâu nặng và nỗi đau khổ của những đứa trẻ
không may rơi vào hoàn cảnh bố mẹ li dị.

D- Các hoạt động học tập và nội dung học tập
1. Ổn định tổ chức
2. Bài cu
3. Bài mới
Giới thiệu bài
B/ Chuẩn bị :
GV đọc kĩ SGK nghiên cứu SGV, bài soạn, bảng thảo luận.
C/ Tiến trình dạy học:
* Bài cũ: Nêu ý nghĩa văn bản “ Mẹ tôi “.
* Bài mới: Giới thiệu bài: Em cảm nhận ntn về đời sống tinh thần của En-ri-cô?
(Hạnh phúc) Bạn ấy thật may măn khi sinh ra trong một gd có bố mẹ yêu thương
trân trọng nhau. Song trong cuộc sống không phải gđ nào cũng yên ấm h/p như thế.
Có những gđ mà các bậc cha mẹ li hôn nhau gây ra những nỗi đau cho con cái của
mình. Những đứa trẻ trong những gđ ấy thật bất hạnh! Chúng có tâm trạng gì? Nỗi
đau gì? Bài học hôm nay một phần cho ta thấy điều đó.
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ
? Hãy nêu những hiểu biết của em về hoàn cảnh ra đời tác
phẩm ?
- Truyện ngắn “CCTCNCBB” của tác giả Khánh Hoài,
được giải nhì trong hội thi Thơ -Văn viết về quyền trẻ em
năm 1992
GV hướng dẫn đọc: Giọng đọc thay đổi linh hoạt phù hợp
tâm tư , tình cảm của nhân vật: đau đớn, xót xa, hồn nhiên,
nhường nhịn.
- GV đọc mẫu. HS đọc
- HS nhận xét, GV nhận xét
- Hãy kể tóm tắt nội dung văn bản?
(Truyện kể về cuộc chia tay của anh em Thành - Thuỷ do
gia đình tan vỡ, bố mẹ li hôn. Trước khi chia tay hai anh em
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status