Phương pháp sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học môn lịch sử lớp 1 - Pdf 43

PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU NHẰM
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG
DẠY - HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 10 .
A. ĐẶT VẤN ĐÊ
I. Lí do chọn đề tài.
Bộ môn Lịch sử ở trường THPT có vai trò vô cùng quan trọng, nó hình
thành cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử phát triển hợp quy luật của
dân tộc và xã hội loài người. Trên cơ sở đó, giáo dục cho học sinh lòng yêu
nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện
năng lực tư duy và thực hành.
Với vị trí, chức năng, và nhiệm vụ quan trọng như vậy, nhưng hiện nay vai
trò của bộ môn lịch sử trong trường THPT chưa thực sự được đề cao. Một hiện
tượng phổ biến hiện nay là rất nhiều học sinh không chú ý học tập các môn khoa
học xã hội, trong đó có bộ môn lịch sử. Tình trạng trên là do nhiều nguyên nhân,
trước hết là do quan niệm, nhận thức chưa đúng đắn về vị trí môn học của học
sinh, gia đình và xã hội. Mặt khác, lịch sử là một môn khó học, khô khan, kiến
thức trong sách giáo khoa nặng nề, cấu trúc bài học còn nhiều bất cập, mục thì
kiến thức còn dàn trải, mục thì kiến thức lại quá vắn tắt, sơ sài khiến học sinh
khó hiểu. Một nguyên nhân quan trọng nữa là học các môn khoa học xã hội hiện
nay sẽ rất khó khăn cho việc định hướng nghề nghiệp - đây là lí do không nho
tác động đến quá trình học tập bộ môn lịch sử của các em.
Trong những năm gần đây, việc dạy và học môn lịch sử đang thu hút được
sự quan tâm, chú ý của toàn xã hội. Trước sự quan tâm ấy - những giáo viên dạy
môn lịch sử luôn trăn trở về việc dạy của mình. Làm sao đề nâng cao chất lượng
dạy, học môn lịch sử, làm sao để các em học sinh yêu thích môn sử và học môn
lịch sử có hiệu quả.
Vậy làm thế nào để học sinh yêu thích và học tốt môn lịch sử ở trường
THPT hiện nay? Có rất nhiều biện pháp: Sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng hệ
thống câu hoi gợi mở, thảo luận nhóm, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học…Nhưng với “phương pháp sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu ” trong dạy
- học lịch sử là một biện pháp rất quan trọng giúp học sinh không chỉ nắm vững

thể sau đây:
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở
trường THPT hiện nay.
- Nghiên cứu tìm hiểu SGK, sách giáo viên, sách bài tập, tài liệu chuẩn
kiến thức và kĩ năng, các tài liệu tham khảo kiến thức lịch sử lớp 10.
-Thông qua việc thao giảng, dự giờ đồng nghiệp để trao đổi rút kinh
nghiệm, đặc biệt là những tiết dạy học có sử dụng sơ đồ kiến thức, biểu đồ, bảng
biểu.
- Cho học sinh làm bài kiểm tra, sử dụng phiếu trắc nghiệm khách quan
sau những tiết có sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu kiến thức để tổng kết kinh
nghiệm sư phạm, đúc rút kinh nghiệm kịp thời để điều chỉnh quá trình dạy - học
cho phù hợp với đối tượng học sinh.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ
I. Cơ sở khoa học
1. Cơ sở lí luận
Mục đích của việc dạy - học lịch sử ở trường phổ thông là người giáo viên
không chỉ giúp học sinh hình dung được kết quả của quá khứ, biết ghi nhớ học
thuộc các sự kiện, hiện tượng của lịch sử mà quan trọng hơn là người học phải
hiểu được bản chất của sự kiện, nội dung và vấn đề cụ thể; phát triển các kĩ
năng, kĩ xảo cho người học trong quá trình nhận thức như: khả năng khái quát,
tổng hợp kiến thức để rút ra quy luật phát triển vận động mang tính chất liên tục
của lịch sử.
Thông thường để đạt được những yêu cầu và mục đích trên, giáo viên đã
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như so sánh đối chiếu giữa các sự vật
hiện tượng để rút ra bản chất, hoặc phân tích tổng hợp, sử dụng đồ dùng trực
quan, tài liệu giải thích, đặt câu hoi tổng hợp để phát huy tính tích cực… Song,
việc sử dụng sơ đồ kiến thức, biểu đồ, bảng biểu trong dạy - học lịch sử cũng là
2



2. Về phía giáo viên
* Ưu điểm:
Nhóm chuyên môn lịch sử của trường THPT Tĩnh Gia 2 hiện nay có 4
giáo viên trẻ, tuổi đời, tuổi nghề đang bước vào độ chín, được đào tạo chính quy,
có năng lực chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, yêu nghê, cầu tiến, có tinh thần
trách nhiệm cao trong công tác chuyên môn, ham học hoi, tìm tòi và sáng tạo.
* Hạn chế
Trong quá trình dạy học vẫn còn có giáo viên chưa thực sự đổi mới
phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, còn nặng sử
dụng phương pháp dạy học truyền thống nên chưa phát huy được tính tích cực,
chủ động, tự giác của người học.
3. Về phía học sinh
* Ưu điểm
3


Hầu hết các em đều xuất thân từ gia đình thuần nông nên ngoan, hiền
lành, lễ phép. Trong giờ học lịch sử các em lắng nghe giáo viên giảng bài, tập
trung theo dõi SGK, làm bài tập theo yêu cầu của giáo viên, có ý thức vươn lên
trong cuộc sống.
* Hạn chế
Những năm gần đây do chất lượng đầu vào học sinh khối 10 của nhà
trường thấp, tỉ lệ học sinh trung bình chiếm tỉ lệ khá cao, nên trong quá trình học
tập ở cấp THPT việc tiếp thu kiến thức của các em gặp nhiều khó khăn.
4. Điều tra cụ thể chất lượng bộ môn Lịch Sử học kì I của một số lớp học
sinh khối 10 năm học 2016 - 2017.
Bản thân tôi trong học kì I vừa qua đã đảm nhận việc giảng dạy một số
lớp khối 10 mà cụ thể là hai lớp: 10C4, 10C5 - đây là những lớp học sinh chất
lượng đầu vào thấp, việc tiếp thu kiến thức còn nhiều hạn chế. Kết quả đạt được
trong học kì I như sau:

học tập bộ môn của học sinh, vừa tiến hành rút kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy, tôi
thiết nghĩ phải từng bước điều chỉnh phương pháp dạy học của mình cho phù
hợp với đối tượng học sinh khối 10 nhằm nâng cao chất lượng dạy - học bộ
môn. Tôi đã thực hiện"phương pháp sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu trong
dạy - học môn lịch sử cho học sinh lớp 10” ở trường THPT Tĩnh Gia 2.
Với việc thực hiện phương pháp này, tôi từng bước điều chỉnh cách học
học của học sinh nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác cho người học
trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội và vận dụng kiến thức đã học để làm bài kiểm
tra đạt được kết quả cao hơn, gây hứng thú cho các em trong mỗi giờ lịch sử.
III. Các biện pháp tổ chức thực hiện:
1. Phương pháp sử dụng biểu đồ, sơ đồ kiến thức gây hứng thú cho học sinh
trong từng mục của bài học.
Con đường nhận thức một vấn đề khoa học nói chung cũng như nhận thức
một vấn đề lịch sử nói riêng là quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Để học sinh có ấn tượng, tiếp thu
kiến thưc một cách hiệu quả trong giờ học lịch sử người giáo viên phải gây cho
học sinh sự hứng thú trong học tập. Người thầy có thể sử dụng các phương pháp
khác nhau như: bản đồ, sa bàn, tranh ảnh, ứng dụng công nghệ thông tin, hay sơ
đồ kiến thức.
Trong một bài học lịch sử thì có nhiều mục, thông thường giáo viên sử
dụng hệ thống câu hoi gợi mở, yêu cầu học sinh theo dõi và khai thác kiến thức
trong SGK để trả lời. Sau khi học sinh trả lời giáo viên nhận xét, chốt ý và
hướng dẫn các em ghi chép theo dàn ý vào trong vở là nguồn tư liệu chính để
học. Với phương pháp này, học sinh dễ tiếp cận với những vấn đề lịch sử? Tuy
4


nhiên, dạy học là một nghề luôn sáng tạo. Với cách dạy - học truyền thống theo
công thức sáo mòn lâu nay, nếu trong suốt một bài học giáo viên chỉ sử dụng
phương pháp hoi đáp để phục vụ cho quá trình dạy - học thì sẽ dễ gây cho học


5

Đẳng cấp ba

Bình dân


Được
hưởng mọi
đặc quyền,
đặc lợi

Tư sản

Nông dân

Cách
mạn
g
bùng
nổ
Muốn xóa
bo chế độ
phong kiến.

Phải đóng mọi
thứ thuế. Không
có quyền lợi
chính trị.

chuyên chính dân chủ
cách mạng.

10 - 08 - 1792
- Nhân dân khởi nghĩa
lật đổ chính quyền đại tư
sản...
- Lập nền Cộng hòa.

`

14 – 07 - 1789
- Quần chúng đánh
chiếm ngục Ba - xti.
- Lập chế độ quân chủ
lập hiến.

Qua sơ đồ, học sinh có thể thâu tóm được những kiến thức cơ bản trọng
tâm về quá trình phát triển đi lên của cách mạng Pháp: từ nền quân chủ lập hiến
→ thiết lập nền Cộng hòa → chuyên chính dân chủ cách mạng Giacôbanh. Cũng
từ sơ đồ này, học sinh rút ra nhận xét về vai trò của quần chúng nhân dân là
người quyết định đưa cách mạng phát triển đi lên, vì quần chúng chính là người
làm nên lịch sử, sáng tạo ra lịch sử.
Rõ ràng, việc học bài qua sơ đồ kiến thức này sẽ giúp học sinh tiếp thu bài
nhanh hơn, học sinh có thể tổng hợp được những đơn vị kiến thức nho lẻ thành
những chuỗi kiến thức phát triển theo trình tự thời gian, gây hứng thú cho các
em trong giờ học để giảm bớt sự căng thẳng và áp lực của kiến thức.
Khi dạy mục 4. “Thời kì thoái trào” của Cách mạng Pháp, tôi sử dụng sơ đồ
sau:
Chuyên chính Giacôbanh đỉnh cao của cách mạng 02/06/1793

Với sơ đồ trên, học sinh sẽ thấy được tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ
rất chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương, gia tăng quyền lực của nhà vua, các
chức quan trung gian như thừa tướng bị bãi bo thay vào đó là 6 bộ trực tiếp quản
lí một lĩnh vực cụ thể. Chính vì thế, bộ máy nhà nước Việt Nam dưới thời Lê sơ
được đánh giá là hoàn thiện nhất thời phong kiến. Qua sơ đồ này phát triển cho
học sinh khả năng quan sát, kĩ năng đối chiếu, so sánh bộ máy nhà nước thời Lê
sơ với các triều đại phong kiến trước đó để rút ra những kết luận đánh giá khoa
học về cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông là tương đối toàn diện.
Như vậy, bằng việc sử dụng sơ đồ kiến thức trong dạy học lịch sử vận
dụng linh hoạt trong từng mục cụ thể của bài học đã giúp học sinh tiếp thu và
lĩnh hội kiến thức rất nhanh và hiệu quả, phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh trong giờ học, khiến giờ học trở nên sôi nổi, học sinh cũng hứng thú
hơn khi tiếp thu kiến thức bằng một hình thức mới.
2. Phương pháp sử dụng sơ đồ kiến thức, bảng biểu nhằm liên kết nhiều
mục trong bài học giúp học sinh có khả năng khái quát, tổng hợp kiến thức.
Đối với học sinh nói chung mà đặc biệt là học sinh của khối 10, việc khái
quát hóa tổng hợp kiến thức trong học tập bộ môn lịch sử là một vấn đề khó nếu
giáo viên không điều chỉnh linh hoạt cách truyền đạt kiến thức cho phù hợp.
9


Việc học lịch sử không chỉ giản đơn là nhớ sự kiện, học thuộc lòng kiến thức
trong SGK hay vở ghi mà mà đòi hoi học sinh phải biết khái quát, tổng hợp, xâu
chuỗi những đơn vị kiến thức theo từng giai đoạn, thời kì lịch sử đã học.
Để khắc phục những hạn chế trên, trong quá trình dạy học tôi thường
xuyên hướng dẫn học sinh cách tạo lập một bảng biểu tổng hợp kiến thức dưới
các dạng khác nhau phù hợp với từng bài cụ thể.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 19 “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở
các thế kỉ X- XV”, tôi hướng dẫn học sinh tổng hợp kiến thức bằng cách lập một
bảng kê theo mẫu sau:

Sông Như Nguyệt

Đông Bộ Đầu,
Lần 1: Năm 1258
Chương Dương,
Các vua Trần, Trần
Lần 2: Năm 1285
Hàm Tử, Tây Kết,
Hưng Đạo và các
Lần 3: Năm 1287Vạn Kiếp, đặc biệt
tướng khác
1288
là trận trên sông
Bạch Đằng
Chi Lăng, Xương
Lê Lợi, Nguyễn
Năm 1418 - 1427
Giang, Tốt Động,
Trãi
Chúc Động

Với bảng kê trên, học sinh đã khái quát, tổng hợp được ngắn gọn mà đầy
đủ những nội dung các mục quan trọng của bài 19, phát triển tư duy độc lập,
tính tự giác của học sinh trong học tập. Thông qua bảng kê dưới dạng bài tập
thực hành giúp các em khắc sâu hơn những kiến thức trọng tâm của bài học,vì
bài này quá dài, nếu dạy theo phương pháp hoi - đáp, ghi dàn ý theo phương
pháp cũ, giáo viên và học sinh sẽ không hoàn thành được bài học trong thời gian
45 phút.
Ví dụ 2: Khi học bài 31 - Cách mạng tư sản Pháp. Với đặc điểm của bài
này là kiến thức rất nặng và dàn trải, nhiều nội dung, nhiều sự kiện lịch sử quan

nắm được kiến thức khái quát, trọng tâm của bài học là vai trò của Quang Trung
– Nguyễn Huệ đối với lịch sử nước ta cuối thế kỉ XVIII. Giáo dục cho học sinh
lòng yêu nước, tự hào về truyền thống yêu nước đấu tranh bất khuất chống giặc
ngoại xâm của dân tộc, khâm phục và ngưỡng mộ vua Quang Trung, một thiên
tài quân sự – nhà cải cách táo bạo sáng suốt với tư tưởng tiến bộ vượt tầm thời
đại. Phát triển cho học sinh kĩ năng lập sơ đồ kiến thức, phát triển óc quan sát
cũng như tư duy độc lập để đưa ra nhận xét và đánh giá một vấn đề lịch sử.
Ví dụ 2: Khi học xong Chương I. Phần lịch sử thế giới cận đại – SGK
cơ bản. Để khái quát, tổng hợp, khắc sâu những kiến thức trọng tâm, cơ bản và
giúp học sinh có thể đối chiếu, so sánh những điểm chung và điểm riêng của ba
cuộc cách mạng tư sản: Anh, Mĩ, Pháp tôi đã sử dụng bảng biểu tóm tắt những
nội dung chính sau:
12


Các
cuộc
CMTS

Anh



Pháp

Thời
gian

16401649


mới và cho CNTB ↑ ,
tư sản giải quyết vấn
đề ruộng đất
Giải phóng 13
bang
thoát
khoi
ách
thống trị của
thực dân Anh
Tư sản mở
đường
cho
CNTB
phát triển

Tư sản

Xóa bo chế
độ quân chủ
chuyên chế
mở
đường
cho CNTB ↑ ,
giải quyết vấn
đề ruộng đất

Tính chất

Kết quả

bang
thành lập
hợp
chúng
quốc Mĩ
- Là một Xây dựng
cuộc CMTS nền Cộng
điển hình và hòa
triệt để nhất
thời cận đại
- Mang tính
chất
nhân
dân sâu sắc

Với việc sử dụng bảng biểu tổng hợp kiến thức này sau khi học xong
chương I - lịch sử thế giới cận đại, học sinh đã biết khái quát, tổng hợp những
kiến thức trọng tâm và cơ bản của chương học, mặt khác các em cũng hiểu rõ
hơn đặc điểm và bản chất riêng của từng cuộc cách mạng tư sản lớn để tránh sự
nhầm lẫn về mặt kiến thức cơ bản.
4. Phương pháp sử dụng sơ đồ, bảng biểu kiến thức để đối chiếu, so sánh
các nội dung lịch sử rồi rút ra nhận xét.
Trong dạy học lịch sử, việc sử dụng sơ đồ kiến thức, bảng biểu đối chiếu,
so sánh các sự kiện hiện tượng lịch sử để học sinh hiểu rõ bản chất của vấn đề là
việc làm cần thiết đối với giáo viên. So sánh các nội dung của lịch sử không chỉ
giúp người học hiểu sâu hơn kiến thức mà còn giúp học sinh có cái nhìn nhận
khái quát, khách quan, tổng thể về một vấn đề lịch sử để các em phân biệt rõ nội
dung, vấn đề lịch sử này với nội dung vấn đề lịch sử khác.

13

thế kỉ X-XV”. Khi so sánh những đặc điểm nổi bật về hai cuộc kháng chiến
chống Tống thời Lý và cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thời Trần tôi
hướng dẫn học sinh cách lập một bảng biểu tổng hợp kiến thức sau:
Nội dung so
sánh

Hoàn cảnh lịch
sử

Cuộc kháng chiến chống Tống
thời Lý
- Phía địch: Nhà Tống suy
yếu, khó khăn. Tiến hành xâm
lược Đại Việt nhằm khắc phục
khó khăn trong nước, tăng
cường thế của Tống với hai
nước Liêu, Hạ.
- Phía ta: Nhà Lý đang vươn
lên trong phát triển đất nước.

Thời gian

1075 - 1077

Lãnh đạo

Lý Thường Kiệt

Cách đánh giặc


chết ý chí xâm lược kẻ thù
Đông Bộ Đầu, Chương Dương,
Hàm Tử, Vân Đồn, Bạch Đằng
Thắng lợi

Với bảng biểu trên, học sinh to ra rất hăng hái, tích cực tổng hợp những
đơn vị kiến thức đã học để so sánh về hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc ta.
Qua việc tạo lập sơ đồ kiến thức: Học sinh thấy được cuộc kháng chiến chống
15


ngoại xâm của dân tộc ta ở thế kỉ XI, XIII diễn ra trong điều kiện thuận lợi đó là
sự vững mạnh của các triều đại phong kiến Việt Nam thời Lý -Trần. Tuy nhiên,
cuộc kháng chiến của nhân dân ta cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách
thức trước những kẻ thù hung bạo, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mông –
Nguyên thời Trần. Nhưng dưới sự lãnh đạo của các vị tướng tài lão luyện trận
mạc cùng với tinh thần đoàn kết yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta,
các cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. Giáo dục cho học sinh lòng
yêu nước và ý thức tự hào dân tộc, phát triển cho học sinh các kĩ năng quan sát,
đối chiếu, so sánh, phân tích tổng hợp kiến thức để rút ra nhận xét.
5. Phương pháp sử dụng bảng biểu trong dạy bài tổng kết, sơ kết để rèn
luyện kĩ năng thực hành - làm bài tập cho học sinh.
Với đặc thù của bài tổng kết là giáo viên thường hướng dẫn học sinh cách
khái quát, tổng kết những kiến thức đã học qua nhiều bài, nhiều chương . Để dạy
dạng bài này một cách hiệu quả thì giáo viên nên hướng dẫn học sinh làm bài
tập dưới dạng khái quát để kiểm tra kiến thức của các em sau một quá trình học
tập bằng một hệ thống câu hoi thích hợp.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Sơ kết lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế
kỉ XIX - Bài 27 “Quá trình dựng và giữ nước”, tôi hướng dẫn học sinh tổng
hợp kiến thức bằng cách lập bảng biểu nhằm phát huy tính tích cực, chủ động

X) bị phong
kiến phương

Chính trị
-Thế kỷ VII
TCN- II TCN
nhà nước Văn
Lang - Âu Lạc
thành lập. Đầu
công nguyên các
quốc gia cổ như

Văn hóa Xã hội
giáo dục
- Nông nghiệp
- Tín ngưỡng: - Quan hệ
trồng lúa nước.
Đa thần.
vua tôi gần
- TCN dệt, gốm, - Đời sống
gũi, hòa dịu
làm đồ trang sức. tinh thần
- Đời sống vật
phong phú, đa
chất đạm bạc,
dạng, chất
giản dị, thích
phát, nguyên
Kinh tế


tế của nhân dân
được ổn định

- Nho giáo,
Phật giáo
thịnh hành.
Nho giáo
ngày càng
được đề cao.
- Giáo dục từ
năm 1070
được tôn
vinh, ngày
càng phát
triển..
- Giai đoạn
- Nho giáo
- Chiến tranh
- Thế kỷ XVII
đất nước bị
phong kiến ⇒ đất kinh tế phục hồi. suy thoái,
chia cắt XVI - nước chia cắt
+ NN: ổn định và Phật giáo
XVIII
phát triển nhất là được phục
làm 2 miền:
hồi. Đạo
ở Đàng Trong.
Đàng Trong,
Thiên chúa

máy nhà nước
chế sự phát triển giáo dục có
quân chủ phong của nền kinh tế.
những đóng
kiến. Song nền
Kinh tế Việt
góp đáng kể.
quân chủ phong
Nam trở nên lạc
kiến đã bước vào hậu, kém phát
khủng hoảng suy triển.
vong.

- Quan hệ
xã hội chưa
phát triển
thành mâu
thuẫn đối
kháng.

- Giữa thế
kỷ XVIII
chế độ
phong kiến
ở hai Đàng
ngoài khủng
hoảng ⇒
phong trào
nông dân
bùng nổ,


Sau khi các tổ - nhóm thảo luận, giáo viên nhận xét và đưa ra phản hồi
bằng một bảng kê giáo viên đã chuẩn bị ở nhà như sau:
Tên cuộc kháng
Vương triều
chiến - đấu tranh
- Cuộc kháng chiến Tiền Lê
chống Tống thời
tiền Lê (981)
-Kháng chiến
Thời Lý
chống Tống thời Lý
- Kháng chiến
chống Mông Nguyên (Thế kỷ
XIII)
- Phong trào đấu
tranh chống quân
xâm lược Minh và
cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn 1407 1427
- Kháng chiến
chống quân Xiêm
1785
- Kháng chiến
chống quân Thanh

Thời Trần

Thời Hồ



- Kết quả thất bại

- Lật đổ ách thống
trị của nhà Minh
giành lại độc lập

- Nguyễn Huệ

- Đánh tan 5 vạn
quân Xiêm

-Vua Quang Trung
(Nguyễn Huệ)

- Đánh tan 29 vạn
quân Thanh

Qua hai bảng kê tổng hợp kiến thức trên, học sinh đã nắm được những
kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài sơ kết - tổng kết là: Nước Việt Nam có lịch
sử dựng và giữ nước lâu đời, trải qua nhiều biến động thăng trầm của lịch sử.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử, nhân dân ta đã từng bước hợp
nhất, đoàn kết xây dựng một quốc gia thống nhất, có tổ chức bộ máy nhà nước
hoàn chỉnh, có nền kinh tế đa dạng, ổn định, có nền văn hóa tươi đẹp giàu bản
sắc riêng đặt nền móng vững chắc cho sự vươn lên của các thế hệ nối tiếp. Trong
quá trình lao động sáng tạo, xây dựng đất nước, nhân dân Việt Nam phải liên tục
cầm vũ khí, chung sức, chung lòng tiến hành hàng loạt các cuộc kháng chiến
chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc. Từ đó nhằm bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu

18

SLHS
Lớp
Sl %
Sl
%
Sl
%
Sl
%
Sl %
10C4
43
0
0
12
28
25
58
06
14
0
0
10C5
42
0
0
08
19
24
57

THPT Tĩnh Gia 2, hạn chế số lượng học sinh yếu kém hằng năm, nâng cao chất
lượng đại trà, để học sinh hứng thú say mê hơn nữa với bộ môn lịch sử. Với bản
thân mình, tôi sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đạt được của việc thực hiện
sáng kiến kinh nghiệm, đồng thời không ngừng đúc rút kinh nghiệm, khắc phục
khó khăn để đề tài này được triển khai rộng rãi trong các khối lớp một cách hiệu
quả và có chất lượng.
2. Những kiến nghị đề xuất
* Đối với sở GD&ĐT Thanh Hóa
- Cần quan tâm nhiều hơn đến bộ môn lịch sử ở trường THPT. Mua sắm
nhiều hơn nữa tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học phù hợp với yêu cầu của bộ
môn để cung cấp cho các nhà trường trong tỉnh.
- Thường xuyên tổ chức các kì thi làm đồ dùng dạy học, thiết kế bài giảng
giáo án điện tử để tạo ra các phương tiện và công cụ dạy học bổ ích, phong phú để
bổ trợ cho việc dạy - học và đổi mới phương pháp dạy học bộ môn lịch sử ở trường
THPT hiện nay.
* Đối với Nhà trường
Nên có sự đầu tư kinh phí để khuyến khích giáo viên và học sinh làm đồ
dùng dạy học dưới nhiều hình thức khác nhau như sơ đồ kiến thức, biểu đồ,
bảng biểu, sa bàn, bản đồ, lược đồ, sưu tầm tranh ảnh...
* Đối với giáo viên
Phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử. Hạn chế tối đa phương
pháp dạy học truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm.
Phải luôn tìm tòi, sáng tạo để từng bước cải tiến phương pháp dạy học cho
phù hợp với từng tiết học, bài học với những đối tượng học sinh khác nhau.
Phải thực sự tâm huyết, tận tình với công việc, yêu nghề, có tinh thần
trách nhiệm cao trước học sinh.

20





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status