GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KRƠNG ANA
SÁPHỊNG
NG KIẾ
N KINH
M
TRƯỜNG
THCSNGHIỆ
BN TRẤP
ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG NĨI, PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC,
CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH THƠNG QUA
PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI - MƠN NGỮ VĂN THCS
Họ và tên: Vũ Thị Kim Châu
Lê Đăng Hà
Đơn vò: Trường THCS Buôn Trấp
Trình độ đào tạo: Đại học sư phạm
Môn đào tạo: Ngữ Văn
Krơng Ana, tháng 12 năm 2014
1
MỤC LỤC
TT
II.1. Cơ sở lý luận
4
6
II.2. Thực trạng
4
7
II.3. Giải pháp, biện pháp thực hiện
6
8
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của
vấn đề nghiên cứu.
11
9
III. Phần kết luận và kiến nghị
12
10
học. Vậy làm thế nào để rèn kỹ năng nói, phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh trong học tập là câu hỏi mà các thầy cô giáo trong đó có bản thân chúng
tôi luôn trăn trở và tìm hướng trả lời.
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
a. Mục tiêu của đề tài
Chia sẻ cùng các thầy cô giáo một số kinh nghiệm rèn kỹ năng nói, phát
huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua việc vận dụng phương pháp
đàm thoại trong giảng dạy môn Ngữ văn cấp THCS, góp phần nâng cao chất
lượng bộ môn, tạo niềm say mê, hứng thú cho các em trong học tập.
b. Nhiệm vụ của đề tài
Trình bày cụ thể những việc cần làm và làm như thế nào để tạo điều kiện
cho học sinh phát triển và củng cố kỹ năng giao tiếp với giáo viên cũng như với
các bạn, phát huy tính chủ động, tích cực trong học tập.
I.3. Đối tượng nghiên cứu
Thực tế việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trường THCS
Buôn Trấp. Đặc biệt là việc dạy và học môn Ngữ văn.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phương pháp đàm thoại trong giảng dạy môn Ngữ văn cấp THCS
I.5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: các tài liệu viết về các phương pháp
dạy học tích cực, giáo án Ngữ văn của giáo viên.
3
- Phương pháp điều tra thực tế: thông qua thực tế giảng dạy và các tiết dự
giờ của đồng nghiệp.
- Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin từ đồng nghiệp, từ
học sinh.
- Phương pháp xử lý thông tin thông qua đối chiếu, so sánh, phân tích,
tổng hợp.
đã giành nhiều thời gian cho việc bàn bạc, thảo luận cách dạy các bài (nội dung)
dài, khó …), năng lực chuyên môn của giáo viên ngày càng được khẳng định.
4
- Công nghệ thông tin phát triển cùng với sự bùng nổ của Internet nên việc
tìm hiểu, khai thác thông tin về lĩnh vực bộ môn, phân môn, bài dạy trên mạng
ngày càng dễ dàng và thuận lợi.
- Giáo viên thường xuyên được tập huấn hoặc tiếp thu chuyên đề về đổi
mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH đối với môn Ngữ văn nói riêng. Đa số
giáo viên đã chủ động vận dụng khá hiệu quả các PPDH tích cực vào quá trình
lên lớp.
+ Khó khăn:
- Thói quen sử dụng PPDH truyền thống ở một số giáo viên còn nặng nề.
- Một số bài học, tiết học, nội dung kiến thức còn nặng so với thời gian
quy định tại PPCT.
- Cơ sở vật chất chưa thực sự đáp ứng yêu cầu dạy và học.
- Một số học sinh chưa thật hứng thú với môn học, còn có thói quen ỉ nại,
dựa dẫm vào bạn; thiếu mạnh dạn, chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập.
b. Thành công, hạn chế
+ Thành công:
Thông qua đàm thoại, sự quan tâm hướng dẫn của giáo viên, kỹ năng nói
của học sinh đã được nâng lên rõ rệt, học sinh tự tin và mạnh dạn hơn trong giao
tiếp; tích cực, chủ động hơn trong học tập. Một số học sinh yếu trong lớp đã chủ
động giơ tay phát biểu, bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình trước thầy cô và các
bạn trong lớp.
+ Hạn chế:
- Khó kiểm soát quá trình học tập của học sinh (có nhiều tình huống bất
ngờ nảy sinh từ câu trả lời của học sinh), nếu giáo viên không chú ý, giờ học dễ
bị chệch hướng.
Thực tế giảng dạy cho chúng ta thấy: trong một lớp học đại trà, số học
sinh học khá, giỏi môn Ngữ văn, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập
còn chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn. Bên cạnh đó, còn nhiều học sinh thiếu cố gắng
trong học tập, thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, hạn chế về khả năng diễn
đạt, thậm chí có những học sinh thuộc vào diện “hết thuốc chữa”, giáo viên đành
cho “ngủ yên” để khỏi ảnh hưởng lớp. Đàm thoại là một trong những PPDH tích
cực – “phương thuốc” khá hữu hiệu nhằm kích thích tư duy độc lập của học sinh,
dạy học sinh cách tự suy nghĩ, lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, làm cho
không khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập, lòng tự tin của
các em, rèn cho các em năng lực diễn đạt, mạnh dạn bày tỏ sự hiểu biết của
mình, biết chú ý lắng nghe và hiểu ý diễn đạt của người khác. Tạo môi trường
học tập thân thiện để học sinh có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau. Học sinh kém có
điều kiện học tập các bạn trong nhóm, cùng các bạn trong nhóm hoàn thành
nhiệm vụ được giao. Thông qua đàm thoại, giáo viên sẽ nhanh chóng thu thập
được thông tin phản hồi từ phía người học, duy trì và kiểm soát được hành vi của
học sinh. Học sinh sẽ có được niềm vui khi mình được trực tiếp tham gia khám
phá, tìm hiểu và nắm bắt kiến thức mới thông qua sự hướng dẫn của thầy cô
giáo.
II.3. Giải pháp, biện pháp
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Giúp các thầy cô giáo cùng dạy môn Ngữ văn hiểu rõ hơn về mục đích của
đàm thoại; có thêm kinh nghiệm trong việc thiết kế hệ thống câu hỏi và đặt câu
hỏi cũng như tổ chức đàm thoại nhằm rèn kỹ năng nói, phát huy tính tích cực,
6
chủ động của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, tạo niềm say mê,
hứng thú cho các em trong học tập.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Để áp dụng thành công phương pháp đàm thoại trong dạy môn Ngữ văn,
câu hỏi. Nếu giáo viên chuẩn bị bài chu đáo, xây dựng được hệ thống câu hỏi
phù hợp, vừa sức học sinh thì sẽ lôi cuốn được học sinh tham gia vào quá trình
đàm thoại để tìm tòi, khám phá kiến thức mới. Ngược lại, nếu giáo viên chuẩn bị
hệ thống câu hỏi không tốt sẽ dẫn đến tình trạng đặt câu hỏi không rõ mục đích,
7
hoặc chỉ là những câu hỏi trắc nghiệm đơn thuần, học sinh chỉ cần trả lời “có”
hoặc “không” … Vì vậy, khi thiết kế hệ thống câu hỏi, giáo viên cần chú ý:
+ Câu hỏi phải xuất phát từ mục đích và yêu cầu của nội dung đàm thoại.
Bên cạnh hệ thống câu hỏi chính cần phải có những câu hỏi phụ kèm theo.
+ Câu hỏi phải có nội dung rõ ràng, dễ hiểu, chính xác, hợp với trình độ
của học sinh.
+ Câu hỏi phải liên quan đến nội dung bài học. Cần tránh những câu hỏi
không ăn nhập với nội dung và tiến trình bài học.
+ Cần có các câu hỏi ở những mức độ nhận thức khác nhau và phải được
sắp theo mức độ từ dễ đến khó. Nên bắt đầu từ những câu hỏi tái hiện rồi mới
đến những câu hỏi đòi hỏi mức độ nhận thức cao hơn. Các câu hỏi đặt ra đều
phải hướng tới phát triển năng lực học sinh. Cụ thể:
- Câu hỏi nhận biết: thường là những câu hỏi yêu cầu học sinh nhận biết
được những nét chính về tác giả, tác phẩm, đoạn trích; nhận biết được những
hình ảnh, chi tiết tiêu biểu; nhận biết được các biện pháp tu từ; nhớ và chép lại
được một số câu thơ, khổ thơ … trong bài.
Ví dụ: + Dựa vào chú thích (*) SGK/63, em hãy cho biết vài nét về thơ
trung đại Việt Nam.
+ Bài “Sông núi nước Nam” được viết theo thể thơ nào?
+ Chú thích (*) SGK/63 đã cho ta biết điều gì về tác giả của bài thơ
“Sông núi nước Nam”?
- Câu hỏi thông hiểu: thường là những câu hỏi yêu cầu học sinh giải thích
ý nghĩa ( hiểu biết) về nhan đề của văn bản; chỉ ra được những ảnh hưởng của
nhỏ mà không nhỏ”. Em hiểu dụng ý đó là gì?
+ Từ lẽ sống mà nhà thơ gửi gắm trong khổ thơ cuối của bài thơ
“Mùa xuân nho nhỏ”, hãy liên hệ và trình bày suy nghĩ của em về quan điểm
sống của thanh niên hiện nay.
+ Trình bày ý kiến của riêng em về nghệ thuật miêu tả nhân vật
Thúy Kiều trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” – trích “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du.
b.3: Tổ chức đàm thoại
Đây là hoạt động được thực hiện trên lớp, thường thì giáo viên đưa ra câu
hỏi, học sinh suy nghĩ trả lời cũng có thể học sinh hỏi – giáo viên trả lời, học
sinh hỏi – học sinh trả lời. Để cuộc đàm thoại trong lớp có hiệu quả, giáo viên
cần chú ý:
+ Đưa ra câu hỏi với một thái độ khuyến khích, với giọng nói ôn tồn, nhẹ
nhàng.
VD: Khi yêu cầu học sinh nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ, giáo viên có
thể hỏi:
- Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào?
- Em cho cô biết, bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào? (mời đích
danh học sinh trả lời)
- Em nào cho cô biết, bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào? (khuyến
khích học sinh giơ tay phát biểu)
+ Khi nêu câu hỏi chung cho cả lớp cần:
- Thu hút sự chú ý của học sinh khi nêu câu hỏi.
- Sau khi nêu câu hỏi, cần dành thời gian cho học sinh suy nghĩ.
- Chú ý gọi những học sinh có giơ tay để trả lời.
9
- Phân bố hợp lý số học sinh được chỉ định trả lời.
- Chú ý khuyến khích những học sinh còn rụt rè, chậm chạp.
thoại.
- Có kỹ năng xử lý, giải quyết các tình huống nảy sinh trong quá trình dạy
học.
- Có sự ghi nhận, rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy.
10
+ Đối với học sinh:
- Phải mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp, sẵn sàng tham gia vào quá trình
đàm thoại.
- Biết tận dụng những kiến thức đã học để giải quyết một số vấn đề đặt ra
trong bài học.
- Phải thực sự hứng thú đối với việc học tập bộ môn cũng như bài học
- Biết tự đặt câu hỏi chất vấn khi cần thiết.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Bản chất của đàm thoại là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh,
do vậy các giải pháp, biện pháp về phía giáo viên cũng như giải pháp, biện pháp
đối với học sinh đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong quá trình thực
hiện, nếu giáo viên biết tuân thủ kết hợp giữa các giải pháp, biện pháp thì sẽ đem
lại hiệu quả cao, học sinh sẽ được rèn kỹ năng nói, phát huy được tính tích cực,
chủ động trong quá trình tiếp thu kiến thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo
viên.
Nói cách khác, các giải pháp, biện pháp được trình bày ở trên luôn có mối
quan hệ tương tác, tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên sự thành công của đề tài.
Nếu bỏ qua bất cứ giải pháp, biện pháp nào thì chắc chắn sẽ không mang lại kết
quả như mong muốn.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Đề tài này đã được chúng tôi thực hiện và tích lũy trong thực tế làm công
tác giảng dạy cũng như chỉ đạo công tác chuyên môn, đặc biệt là chuyên môn
của tổ Ngữ văn.
1
50
253
5
80
223
12
150
153
16
200
103
III. Phần kết luận, kiến nghị
III.1. Kết luận
Để rèn kỹ năng nói, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh khi dạy
môn Ngữ văn, mỗi thầy giáo, cô giáo dạy bộ môn cần phải:
Điều tra, nắm bắt, phân loại đối tượng học sinh ngay từ đầu năm học để có
biện pháp tác động phù hợp.
Phải luôn tìm cách đánh thức học sinh, tuyệt đối không để xảy ra tình
trạng học sinh “ngủ yên” trong giờ học.
Người viết
Vũ Thị Kim Châu
Lê Đăng Hà
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN:
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN:
(Kí tên, đóng dấu)
13