LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Hải Phòng, ngày 08 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuỳ Linh
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn
thạc sỹ Quản lý kinh tế với đề tài “Hoàn thiện công tác xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hải quan tại Cục Hải quan TP Hải Phòng”. Tôi xin trân
trọng gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo của Trường Đại học Hàng Hải
Việt Nam, những người đã tận tình dạy bảo giúp đỡ và định hướng cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu. Xin gửi lời cám ơn trân trọng tới Ban Giám hiệu,
Viện Đào tạo sau đại học Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã tạo điều kiện cho
tôi trong quá trình học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Dƣơng Văn Bạo,
người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã hợp tác chia sẻ
thông tin, cung cấp cho tôi nguồn tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
ii
2.2.4. Phân tích, đánh giá ........................................................................................ 51
iii
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng………………………...55
3.1. Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là
một tất yếu khách quan.. …………………………………………………..………55
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hải quan ở Việt Nam nói chung và ở Cục Hải quan TP. Hải Phòng nói
riêng…………………………………………………..…………………………...58
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp luật về xử lý vi phạm hành chính...................... 58
3.2.2. Giải pháp phòng ngừa vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ............ 60
3.2.3. Giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan ........................................................................................................... .66
3.2.4. Giải pháp khắc phục hậu quả do vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực
hải quan ................................................................................................................... 68
Kết luận và kiến nghị............................................................................................... 71
Tài liệu tham khảo ................................................................................................... 73
iv
MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện nay tập trung
xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân, thì một trong những yêu cầu bức thiết đặt ra là mọi hành vi vi phạm pháp luật
phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời, triệt để.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Về mặt thực tiễn, quá trình hình thành và phát triển pháp luật về xử lý vi
lĩnh vực hải quan cũng như khắc phục tình trạng vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan tại Cục Hải quan TP Hải Phòng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Với khuôn khổ của một Khoá luận tốt nghiệp, với thời gian và khả năng
nghiên cứu còn giới hạn của bản thân, tôi xin tập trung chủ yếu vào việc nghiên
cứu về một số vấn đề mang tính chất lý luận về vi phạm luật hành chính, thực trạng
xử phạt vi phạm hành chính và giải pháp nhằm khắc phục vi phạm hành chính
cũng như hoàn thiện công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
tại Cục Hải quan TP Hải Phòng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi và khả năng cho phép, tôi cố gắng nghiên cứu một cách tổng
quát về những vấn đề cơ bản thuộc nội dung của pháp luật hành chính trong xử
phạt vi phạm hành chính về hải quan dưới góc độ lý luận và thực tiễn ban hành, áp
dụng và thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính thời gian qua dựa trên một số
số liệu thực tiễn tại Cục Hải quan TP Hải Phòng để từ đó rút ra kinh nghiệm phù
hợp với việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở nước ta.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khoá luận được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trên cơ sở các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; do đó, phương pháp nghiên cứu của
khoá luận được thực hiện trên cơ sở áp dụng các biện pháp nghiên cứu của triết
2
học Mác - Lênin và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác như
phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp lịch sử, thống kê…
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
theo quy định, trốn thuế, thay đổi trụ sở của doanh nghiệp mà không thông báo,
hay những hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như vận chuyển và
xử lý chất thải, các chất gây ô nhiễm môi trường không theo đúng quy định về bảo
vệ môi trường... Tóm lại, những hành vi vi phạm quy định quản lý nhà nước được
nêu trên đây thể hiện rất đa dạng, phong phú và xảy ra trong hầu hết các lĩnh vực
quản lý nhà nước, nhưng tựu trung lại chúng có một số đặc điểm chung sau đây:
- Những hành vi này đều là những hành vi xâm hại đến trật tự quản lý nhà
nước, phá vỡ trật tự quản lý hành chính đang được duy trì, làm ảnh hưởng đến hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói chung. Tuy nhiên, do tính chất và mức độ xâm
hại của hành vi chưa đến mức nguy hiểm cho xã hội để trở thành tội phạm hình sự
nên những hành vi này không phải là tội phạm hình sự theo quy định của pháp luật
hiện hành.
4
- Chủ thể thực hiện những hành vi này là cá nhân hoặc tổ chức. Đối với tổ
chức, thì hành vi được thực hiện bởi cá nhân nhưng dưới danh nghĩa tổ chức (do tổ
chức phân công, giao nhiệm vụ, hoặc thực hiện hành vi nhân danh tổ chức đó);
- Hành vi được thực hiện là do cố ý hoặc vô ý;
- Hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức được quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật là bị xử phạt vi phạm hành chính.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu vi phạm hành chính là hành vi do
cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định của pháp
luật về quản lý nhà nước mà chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự và
theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Khái niệm vi
phạm hành chính cũng được xác định tại khoản 1 Điều 2 của Luật xử lý vi phạm
hành chính số 15/2012/QH13.
1.1.1.2 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Hoạt động hải quan là một loại hoạt động kiểm tra, giám sát của nhà nước
Tất cả các quan hệ như vậy trong lĩnh vực hải quan được điều chỉnh bởi các
quy phạm pháp luật quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau
nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau, lập nên tổng thể các quy phạm pháp luật đặc
biệt điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, tức
là điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các biện pháp
quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và xuất cảnh, nhập cảnh.
Tổng thể các quy phạm pháp luật đó có thể coi là các quy phạm pháp luật về hải
quan. Các quy phạm pháp luật về hải quan quy định cho các bên tham gia các quan
hệ xã hội nói trên các quyền và nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm của các bên nếu
không thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã nêu hoặc vi phạm quyền của bên kia.
Do các quy phạm pháp luật về hải quan là các quy tắc chung bảo vệ chế độ kiểm
tra, giám sát hải quan, là một trong những chế độ quản lý nhà nước nên có tính
chất bắt buộc thực hiện đối với mọi đối tượng cá nhân, tổ chức liên quan. Như vậy,
có thể nói đặc điểm chung nhất của các quy phạm pháp luật về hải quan là tính
chất bắt buộc thực hiện đối với các quy định, các chế độ về hải quan do Nhà nước
ban hành, do đó chúng mang tính chất mệnh lệnh của luật hành chính.
6
Một đặc điểm nữa của các quy phạm pháp luật về hải quan là tính chất tích
cực của các quy phạm này trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá qua
biên giới. Một mặt đảm bảo cho việc tuân thủ trật tự kỷ cương trong hoạt động
xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh, mặt khác các quy phạm pháp luật về hải quan
quy định các biện pháp nhằm đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực: vi phạm các chế độ về xuất nhập khẩu, trốn, lậu thuế, buôn lậu hoặc
vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối... qua biên giới.
Hiện nay, các quy phạm pháp luật về hải quan quy định quyền và nghĩa vụ
pháp lý của các bên tham gia quan hệ pháp luật về hải quan. Các chế độ quản lý
hải quan cụ thể đã được ban hành trong Luật hải quan và được hệ thống hoá trong
quan;
- Vi phạm các quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu (sau đây gọi tắt là thuế);
- Vi phạm các quy định pháp luật khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh” [5].
1.1.2. Cơ sở phát sinh vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
1.1.2.1. Các quy định quản lý Nhà nước về hải quan
a) Sự xuất hiện của hoạt động hải quan trong lịch sử
Để có thể hiểu được sâu xa nguồn gốc phát sinh vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hải quan thì chúng ta phải đi từ sự xuất hiện của hoạt động hải quan trong
lịch sử và bản chất của hải quan.
C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.L.Lê nin trong các tác phẩm của mình khi phân tích
về nguồn gốc của sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, về sự hình thành và phát triển
của các quan hệ sản xuất từ chiếm hữu nô lệ, phong kiến đến tư bản chủ nghĩa, đã
chỉ ra các điều kiện phát sinh và hoàn thiện chính sách hải quan của các chế độ bóc
lột. Theo các nhà kinh điển, hoạt động hải quan, chính sách cũng như các quy
phạm pháp luật về hải quan xuất hiện cùng thời điểm với sự xuất hiện của sản xuất
hàng hoá.
Như vậy, hoạt động hải quan bắt đầu xuất hiện từ rất lâu đời, từ khi có sự
hiện hữu của phân công lao động sản xuất và hàng hoá, hay nói cách khác, hoạt
động hải quan gắn liền với sự xuất hiện của nhu cầu trao đổi hàng hoá. Để bảo vệ
8
lợi ích của mình, mỗi cộng đồng đã tự quy định những biện pháp có lợi ích nhất
cho mình trong việc kiểm soát trao đổi hàng hoá để bảo vệ sản xuất, đồng thời thu
được lợi nhiều nhất trong quan hệ với các cộng đồng khác, đó cũng chính là bản
chất của hoạt động hải quan. Có thể nói không có trao đổi hàng hoá giữa các cộng
đồng dân cư, và ngày nay là giữa các quốc gia, thì cũng không có hoạt động hải
quan. Qua việc xem xét quá trình hình thành phát triển của hoạt động hải quan trên
mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia
công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài.
Như vậy, các quy định, các chế độ quản lý của nhà nước cũng là cơ sở phát
sinh của các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng
trong hoạt động hải quan.
1.1.2.2. Thủ tục hải quan
Tương tự như các hoạt động hành chính khác, cơ quan hải quan thực hiện
quyền kiểm tra, giám sát nhà nước về hải quan chủ yếu thông qua hệ thống các thủ
tục hành chính đặc biệt, đó là thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là các công việc
mà người khai hải quan (bao gồm: chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải hoặc
người được chủ hàng, chủ phương tiện vận tải uỷ quyền) và công chức hải quan
phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hoá, hành lý xuất khẩu,
nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh. Thủ tục
hải quan bao gồm các công việc: Khai và nộp tờ khai hải quan; nộp, xuất trình
chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; đưa hàng hoá, phương tiện vận tải đến địa điểm
được quy định cho việc kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải; nộp thuế và
thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật v.v. Các thủ tục
hành chính đó phải được thực hiện đúng thời hạn, đúng địa điểm và đúng trình tự
theo quy định của pháp luật.
Những quy định này gắn liền với nghĩa vụ của người khai hải quan trong
quá trình làm thủ tục hải quan nhằm đảm bảo việc cơ quan quản lý nhà nước một
mặt hợp thức hoá cho hàng hoá, phương tiện vận tải khi xuất khẩu, nhập khẩu, xuất
cảnh, nhập cảnh; mặt khác có thể quản lý được quá trình tuân thủ pháp luật của
người khai hải quan, đảm bảo các chế độ quản lý của Nhà nước đối với hoạt động
xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh được tuân thủ nghiêm chỉnh, trật tự nhà nước trong
10
hoạt động này không bị phá vỡ. Do đó, thủ tục hải quan là một yếu tố cơ sở phát
sinh các vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
lượng hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan; Tự ý tiêu thụ hàng hoá đang chịu
sự giám sát hải quan.
Trong hoạt động kiểm soát của cơ quan hải quan, các hành vi vi phạm hành
chính chủ yếu bao gồm: Lên, xuống phương tiện vận tải chở hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu đang chịu sự kiểm tra hải quan khi chưa được phép của cơ quan hải
quan; không dừng phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đúng địa
điểm quy định để làm thủ tục hải quan; không thực hiện đúng quy định về quản lý
hải quan khi đưa tàu biển vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vào Việt
Nam không đúng cảng quy định; tự ý cặp mạn tàu, thuyền chở hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu đang làm thủ tục hải quan; không chấp hành hiệu lệnh của công chức
hải quan theo quy định khi di chuyển phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động
hải quan; Không thực hiện yêu cầu mở nơi cất giữ hàng hoá theo quy định để công
chức hải quan kiểm tra; đưa vào địa bàn hoạt động hải quan hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu mà hàng hoá đó chưa đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định; chứa chấp, mua
bán, vận chuyển trong địa bàn hoạt động hải quan hàng hoá có nguồn gốc nhập
khẩu trái phép; bốc dỡ hàng hoá không đúng cảng đích ghi trong vận đơn mà
không có lý do xác đáng; điều khiển phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá
cảnh không đúng tuyến đường, cửa khẩu quy định; tự ý xếp dỡ, chuyển tải, sang
mạn, sang toa, cắt toa hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh trên phương tiện
vận tải đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan; chứa chấp, mua bán, vận chuyển
hàng hoá có nguồn gốc nhập khẩu trái phép trong địa bàn hoạt động hải quan; tẩu
tán, tiêu hủy hoặc vứt bỏ hàng hoá để trốn tránh sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát
hải quan; đánh tráo, tẩu tán tang vật, phương tiện vi phạm đã bị phát hiện, tạm giữ.
Ngoài ra, cùng với sự phát triển của các hình thức giao dịch trong hoạt động
kinh tế đối ngoại, còn rất nhiều hành vi khác được coi như các hành vi vi phạm
hành chính hải quan như các vi phạm về chế độ kho, về các chế độ tạm quản...
được quy định trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải
quan.
1.1.3. Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
12
ngoại hối, vàng, tiền Việt Nam, kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hoá phẩm, bưu
13
phẩm, vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và các tài
sản khác (gọi chung là hàng hoá); các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
phương tiện vận tải, nên có liên quan đến nhiều văn bản Luật hoặc các quy định
chuyên ngành. Trong một số trường hợp, việc phân biệt rõ ràng giữa vi phạm hành
chính hải quan và vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác là tương đối khó
khăn. Chẳng hạn, phân biệt hành vi khai sai mã số, thuế suất, khai sai trị giá tính
thuế của hàng hóa vừa có thể xử phạt theo hành vi vi phạm hành chính hải quan,
vừa có thể xử phạt theo hành vi vi phạm Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tùy
theo cách xác định xem đã thuần túy là vi phạm hành chính hải quan hay có mục
đích trốn thuế... mà việc xác định này không phải khi nào cũng dễ dàng.
1.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hải quan.
1.2.1.1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
Như một tất yếu, khi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật do cá nhân, tổ chức
thực hiện thì Nhà nước có những “phản ứng tự vệ”, tức là tiến hành áp dụng những
biện pháp, hình thức xử lý đối với những cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm nhằm
lập lại trật tự quản lý đã bị xâm hại bởi các hành vi đó. Những biện pháp, hình thức
xử lý của Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật được pháp luật quy định
cụ thể. Đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, để giữ vững trật tự, kỷ
cương trong lĩnh vực quản lý hải quan, giữ vững trật tự pháp luật và đấu tranh có
hiệu quả với những hành vi vi phạm hành chính nói chung và về hải quan nói
riêng, các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan cũng bị xử phạt theo
quy định của pháp luật.
Công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thể hiện quyền
lực Nhà nước, thực hiện sự cưỡng chế đối với các chủ thể vi phạm pháp luật hải
phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan gây ra.
1.2.1.2. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
Xuất phát từ bản chất của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan là áp dụng các chế tài hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm
trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan theo trình tự, thủ tục do pháp luật
15
quy định nên xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có một số đặc
điểm riêng, thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan căn cứ
vào các văn bản quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan ban hành: Quốc hội ban
hành các Luật, Chính phủ ban hành các Nghị định, các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban
hành các Thông tư hướng dẫn.
Các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thường hay
được sửa đổi, bổ sung do sự biến động và thay đổi thường xuyên, nhanh chóng của
thực tế quản lý nhà nước. Điều này dễ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo
giữa các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật. Cho nên, trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan nói riêng thì việc xác định và quy
định trong các văn bản quy phạm pháp luật về các hành vi vi phạm hành chính sao
cho đồng bộ thống nhất là một vấn đề nổi cộm đang được đặt ra, vì các nghị định
quy định về xử phạt vi phạm hành chính do nhiều cơ quan soạn thảo và thường ban
hành chậm, hay xảy ra tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn với nhau.
Thứ hai, hoạt động áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá, xuất nhập cảnh phương tiện vận tải có thể do
nhiều cơ quan, nhiều người có thẩm quyền thực hiện, ví dụ như Hải quan, lực
lượng Cảnh sát biển, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị trường, một số thanh tra
chuyên ngành... Trong khi đó, vi phạm hành chính diễn ra phổ biến, hàng ngày,
hàng giờ trong đời sống xã hội dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Việc áp
phủ ban hành).
1.2.2. Cơ sở pháp lý thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hải quan.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là một loại vi phạm pháp luật,
xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về hải quan và diễn ra phổ biến trong hoạt
động hải quan. Trong lĩnh vực hải quan, vi phạm pháp luật hải quan diễn ra ở hầu
hết các khâu nghiệp vụ của quá trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan. Vì
vậy, để giữ vững trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan,
giữ vững trật tự pháp luật và đấu tranh có hiệu quả đối với những hành vi vi phạm
17
hành chính nói chung và về hải quan nói riêng thì việc xử phạt các hành vi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực hải quan là một điều tất yếu.
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thể hiện quyền lực Nhà
nước, thực hiện sự cưỡng chế đối với các chủ thể vi phạm pháp luật hải quan góp
phần quan trọng trong việc ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm
hành chính, tăng cường trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước về hải quan, khắc
phục hậu quả do vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan gây ra.
Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan dựa trên những cơ
sở pháp lý sau:
- Luật Hải quan năm 2014;
- Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
- Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ quy định
chi tiết một số Điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong
lĩnh vực hải quan;
- Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 của Chính phủ quy định
hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo
nhân, tổ chức vi phạm hành chính.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan bản chất cũng giống
như xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, nên cùng chịu ảnh hưởng
của các yếu tố sau:
1.2.3.1. Chất lượng của pháp luật
Như đã phân tích ở trên, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan với các nguyên tắc của nó đã thể hiện vị trí và vai trò quan trọng
trong đời sống xã hội, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình đổi
mới toàn diện mọi mặt đời sống xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế, từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
19
Nghiên cứu bản chất và nội dung của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan, những bảo đảm đối với pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính là để nhằm xác định những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc tăng cường và
hoàn thiện pháp luật hành chính, từ đó chúng ta có những biện pháp thích hợp để
tiến hành có hiệu quả trong giai đoạn phát triển hiện nay ở nước ta.
Để thực hiện việc củng cố, tăng cường pháp luật xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan, cần phải có cơ sở pháp luật. Nhà nước phải có một hệ
thống pháp luật với đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan
hệ xã hội và để thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình. Không có một hệ
thống pháp luật toàn diện, đầy đủ, ổn định và có tính khả thi cao thì không thể có
sự nghiêm minh của pháp luật. Nhưng nếu mặc dù đã có hệ thống pháp luật tương
đối đầy đủ mà chất lượng không cao, có nhiều mâu thuẫn chồng chéo hoặc đã lạc
hậu, không còn phù hợp, thì pháp luật cũng không thể duy trì và bảo đảm với chất
lượng cao do việc thi hành và tổ chức thi hành pháp luật sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý nghiêm minh những vi
phạm pháp luật là hoạt động không thể thiếu nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của
luật pháp. Chất lượng hoạt động của công tác này ảnh hưởng lớn đến tình trạng
thực thi pháp luật.
Trước tiên, có thể nói kiểm tra, giám sát nhằm mục đích uốn nắn, chấn chỉnh
hoạt động chấp hành và thực thi pháp luật, kịp thời có những biện pháp để bảo đảm
cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, chính xác trong thực tế. Bên cạnh đó,
kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật còn để kịp thời phát hiện những vi phạm
pháp luật để xử lý nghiêm minh, bảo đảm nguyên tắc: mọi vi phạm pháp luật phải
được phát hiện và xử lý kịp thời; thực hiện mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật. Nếu công tác này không được chú trọng thường xuyên, không được tổ chức
và tiến hành có hiệu quả thì vai trò của pháp luật sẽ bị suy giảm, tình trạng coi
thường tính nghiêm minh của pháp luật sẽ diễn ra ngày càng nhiều, các hiện tượng
tiêu cực như tham nhũng, sách nhiễu nhân dân, vô trách nhiệm, cửa quyền và nhiều
vi phạm pháp luật khác sẽ nảy sinh do không được uốn nắn, xử lý kịp thời. Hậu
quả là người dân sẽ giảm dần niềm tin vào sự công bằng, vào tính nghiêm minh
21