Một số biện pháp đẩy mạnh huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT XH huyện vĩnh bảo, để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016 2020 - Pdf 44

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vĩnh Bảo là một huyện thuần nông nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải
Phòng, cách trung tâm thành phố 40km. Nguồn thu ngân sách của huyện chủ
yếu từ sản xuất nông nghiệp nên hết sức hạn hẹp, hàng năm Vĩnh Bảo vẫn được
thành phố cho bổ sung ngân sách (90-92% tổng thu) từ nguồn ngân sách thành
phố để đảm bảo việc chi thương xuyên và chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
trong huyện.
Trong khi đó, để thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng
NTM nhu cầu vốn đầu tư để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH
của huyện Vĩnh Bảo là rất lớn (bình quân mỗi xã trên 100 tỷ đồng). Bài toán cấp
bách đặt ra phải tiếp tục huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế tham
gia đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH huyện Vĩnh Bảo
nhằm hoàn thành chương trình xây dựng NTM theo chỉ đạo của Chính phủ và
Thủ tướng.
Xuất phát từ thực tế trên, Học viên chọn đề tài “Một số biện pháp đẩy mạnh
huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH huyện Vĩnh
Bảo, để thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016 2020” làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về vốn, huy động vốn đầu tư xây dựng
các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH.
Phân tích thực trạng huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng KT-XH ở huyện Vĩnh Bảo trong giai đoạn 2011 - 2015 gắn với việc
thực hiện chương trình xây dưng NTM.
Đề xuất một số biện pháp đẩy mạnh huy động vốn đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng KT-XH huyện Vĩnh Bảo để thực hiện chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng NTM trong giai đoạn 2016 - 2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn: Tập trung vào thực trạng và
thành tựu trong lĩnh vực huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ
tầng KT-XH của huyện Vĩnh Bảo từ năm 2011 - 2015. Tình hình thực hiện chương

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƢ
XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CHƢƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG
NTM GIAI ĐOẠN 2016 -2020
1.1. SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KT-XH

1.1.1. Khái niệm, phân loại kết cấu hạ tầng KT-XH
1.1.1.1. Khái niệm kết cấu hạ tầng KT-XH
Kết cấu hạ tầng KT-XH là một khái niệm rộng: theo quan điểm của GS.
TSKH Lê Du Phong “Kết cấu hạ tầng là tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật
chất - kỹ thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là nền tảng và điều
kiện chung cho các hoạt động KT-XH, các quá trình sản xuất và đời sống diễn ra
trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như trong mỗi khu vực, mỗi vùng
lãnh thổ của đất nước”{45,tr5} xét ở góc độ nào thì kết cấu hạ tầng KT-XH cũng
là một yếu tố, một chỉ số của sự phát triển. Trong tiến trình phát triển, vai trò và
tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng KT-XH ngày một tăng lên. Nếu sự phát triển
hiện đại được giải quyết ở cuộc cách mạng khoa học công nghệ, ở nền kinh tế thị
trường mở, ở quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh tế, thì kết cấu hạ tầng KT-XH
là nền tảng trong đó diễn ra các quá trình của phát triển hiện đại, thiếu hệ thống
thông tin viễn thông hiện đại, thiếu hệ thống giao thông vận tải hiện đại, thiếu
những công trình kiến trúc phục vụ các hoạt động dịch vụ, xã hội, văn hóa thì sự
phát triển giờ đây khó có thể diễn ra được. Vì vậy xây dựng phát triển kết cấu hạ
tầng KT-XH trở thành một nội dung quyết định của sự phát triển, một mặt kết cấu
hạ tầng KT-XH là những lực lượng sản xuất và thiết chế đem lại sự thay đổi về
chất trong phương thức sản xuất nhưng mặt khác kết cấu hạ tầng KT-XH là
những lực lượng sản xuất và thiết chế có tính chất xã hội cao, có tầm ảnh hưởng
rộng lớn, vì thế sự phát triển của kết cấu hạ tầng KT-XH đem lại sự thay đổi về
điều kiện vật chất của toàn bộ sinh hoạt trong KT-XH.
* Kết cấu hạ tầng KT-XH được thể hiện bằng các công trình xây dựng,
kiến trúc, thiết bị trong không gian bao gồm:

dựng kết cấu hạ tầng đã cuốn hút toàn xã hội tham gia.
* Xét về nghĩa vụ và quyền lợi của người dân:
Việc đầu tư xây dựng và thụ hưởng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH
ở hai khu vực nông thôn và thành thị có sự khác biệt rất lớn. Công trình kết cấu
hạ tầng KT-XH ở đô thị được xây dựng với quy mô rất lớn và hiện đại, ở nông
thôn công trình quy mô lớn là rất hiếm, đặc biệt là đối với vùng sâu, vùng xa.
Vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH ở khu vực đô thị
chủ yếu là nguồn vốn nhà nước, trong khi đó ở nông thôn trên 50% được huy
động tư dân. Người dân sống trong thành thị được thụ hưởng kết cấu hạ tầng do
nhà nước xây dựng không phải đóng góp, trong khi đó người dân sống ở nông
4


thôn không những phải hoàn thành nghĩa vụ của người công dân mà còn phải
tham gia đóng góp khá nhiều tiền, của, công sức để xây dựng các công trình kết
cấu hạ tầng KT-XH mới được thụ hưởng. Vì vậy, vấn đề huy động vốn và đầu
tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH cần phải được chú ý để đảm
bảo tính công bằng xã hội.
* Xét kết cấu hạ tầng KT-XH là lĩnh vực đầu tư :
Đây là lĩnh vực đầu tư chiến lược, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng có ý
nghĩa quyết định đến sự phát triển của KT-XH. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
đúng là lựa chọn được những yếu tố kết cấu hạ tầng trọng điểm làm nền tảng
cho một tiến trình phát triển chung lâu bền và thúc đẩy quá trình chuyển đổi
trong phương thức sản xuất, hình thành những lực lượng sản xuất mới. Kết cấu
hạ tầng KT-XH thể hiện tính hệ thống cao, liên quan đến sự phát triển đồng bộ,
tổng thể của kinh tế xã hội. Trong kinh tế thị trường việc xây dựng kết cấu hạ
tầng KT-XH là một lĩnh vực đầu tư kinh doanh, hơn nữa là lĩnh vực hoạt động
kinh tế có vốn đầu tư lớn. Tính hiệu quả của kết cấu hạ tầng kinh tế phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố đầu tư tới hạn, là đầu tư đưa công trình xây
dựng nhanh tới chỗ hoàn bị.

trình liên quan đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống. Trong nhiều
công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng, các tác giả thường phân chia kết cấu hạ
tầng thành hai loại cơ bản, gồm kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội.
- [Kết cấu hạ tầng kinh tế: gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: năng
lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao
thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không,
đường ống), bưu chính - viễn thông, các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất
nông - lâm - ngư nghiệp… Kết cấu hạ tầng là bộ phận quan trọng trong hệ thống
kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là động
lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân cư.] [3.4]
- [Kết cấu hạ tầng xã hội: gồm nhà ở, các cơ sở khoa học, trường học,
bênh viện, các công trình văn hoá, thể thao... các trang thiết bị đồng bộ với
chúng. Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng
dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số
ngành có tính chất dịch vụ xã hội, sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình
thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con
người cả về thể chất lẫn tinh thần.] [3.78]
1.1.1.3. Vai trò của kết cấu hạ tầng KT-XH
- Kết cấu hạ tầng KT-XH có vai trò quan trọng, là tổng thể các điều kiện,
cơ sơ vật chất, kỹ thuật đóng vai trò nền tảng cơ bản các hoạt động KT-XH diễn
ra bình thường, nhân tố ảnh hưởng trực tiếp hoạt động đầu tư trong quá trình
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
6


- [Kết cấu hạ tầng KT-XH là điều kiện khung vật chất của sự tồn tại xã
hội, không có khung khổ, điều kiện phù hợp thì không thể tồn tại nền sản xuất,
các hoạt động xã hội bình thường.] [3.221]
- [Kết cấu hạ tầng kinh tế đối với các nước đang phát triển có vai trò mở

7


một số dịch vụ cần thiết, thì đồng thời lại làm suy yếu khía cạnh cảnh quan, văn
hoá, gây trở ngại cho sinh hoạt của dân cư nếu như công tác quy hoạch không
được coi trọng.] [3.2674]
+ Kết cấu hạ tầng KT-XH là một lĩnh vực đòi hỏi có vốn đầu tư lớn, thời
gian đầu tư kéo dài. Khi nói đến đầu tư kết cấu hạ tầng thường được biểu hiện
bằng tổng số tiền cần chi hoặc đã chi, quy mô vốn đầu tư lớn, bất kỳ nền kinh tế
nào khi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng - kinh tế cũng phải có
vốn, vốn đầu tư được coi là yếu tố tiền đề vật chất. Vốn chính là phần tiết kiệm
những tiêu dùng hiện tại của xã hội thay vì bằng những tiêu dùng lớn hơn trong
tương lai. Sự phát triển đòi hỏi một chiến lược phân bố nguồn vốn không chỉ giữa
các yếu tố trong hệ thống kết cấu hạ tầng mà còn yêu cầu phân bổ vốn đầu tư hợp
lý giữa lĩnh vực này và lĩnh vực phát triển KT-XH. Trong điều kiện nguồn vốn có
hạn, nếu quá nhấn mạnh đến xây dựng kết cấu hạ tầng, sẽ ảnh hưởng đến các
nguồn lực cho sự phát triển của các lĩnh vực khác.
Tính hiệu quả của các công trình xây dựng trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng
phụ thuộc vào hai yếu tố: Một là: yếu tố về thời gian, thời gian ngắn hay dài phụ
thuộc vào mục đích đầu tư công trình kết cấu hạ tầng KT-XH. Trong nền kinh tế
thị trường thì thời gian đầu tư dài hay ngắn rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả mang lại. Thời gian đầu tư càng dài thì giá trị của đồng vốn
càng biến động. Hai là, yếu tố đầu tư tới hạn, là đầu tư đưa công trình xây dựng
kết cấu hạ tầng nhanh tới chỗ hoàn bị. Nếu các công trình không đạt nhanh tới
chỗ hoàn bị sẽ gây ra những thiệt hại đáng kể về kinh tế. Nếu chậm đạt tới chỗ
hoàn bị, các công trình sẽ chậm đưa vào vận hành, mà chậm đưa vào sử dụng, có
nghĩa là đọng vốn, đây sẽ là một nguyên nhân cơ bản làm giảm hiệu quả kinh tế
của công trình kết cấu hạ tầng. Để khắc phục điều này, tất yếu phải tập trung
vốn, nhờ đó để đầu tư xây dựng trọng một thời gian ngắn nhất, nhờ đó có thể
đưa công trình hạ tầng sớm vào sử dụng. Mặt khác các công trình công cộng khó

của sự phát triển bên vững. Trái lại nó sẽ gây ra mất cân đối sẽ dẫn tới mất ổn
định trong phát triển. Từ trước tới nay trong lý thuyết phát triển bền vững,
người ta chú ý nhiều đến các yếu tố kinh tế, yếu tố vật chất của một sự phát
triển bền vững, thêm vào đó là yếu tố sinh thái, môi trường, nhân văn. Nhưng
rõ ràng quản lý sự phát triển có thể xem là yếu tố bao trùm chi phối tổng thể sự
phát triển bền vững đó. Bởi vậy xem xét sự phát triển, cần quan tâm chú ý đến
yếu tố quản lý phát triển. Sự quản lý này được thực hiện bởi Nhà nước với
những nội dung: cung cấp thể chế, khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển; đưa ra
chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và những dự án cho phát triển;
hình thành tính hệ thống tài chính cần thiết cho đầu tư phát triển; xác lập cơ
chế thực hiện các lợi ích trong phát triển, quản lý sự vận hành trên thực tế các
quá trình KT-XH. Từ việc xem xét quản lý sự phát triển, ta có thể thấy các
nguyên nhân thành công và thất bại của sự phát triển.

9


1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƢ PHÁT
TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KT-XH

1.2.1. Nguồn vốn đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH
1.2.1.1. Khái niệm đầu tư, vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư
Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời
gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định
trong điều kiện KT-XH nhất định.
Vốn đầu tư: là nguồn lực tích luỹ được cuả xã hội, cơ sở sản xất kinh
doanh dịch vụ, tiết kiệm của dân, huy động từ nước ngoài được biểu hiện dưới
các dạng tiền tệ các loại hoặc hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình và hàng hoá
đặc biệt khác.
Nguồn vốn đầu tư: là các kênh tập trung và phân phối cho vốn đầu tư phát

công trình của các doanh nghiệp từ nhân thì các doanh nghiệp sẽ đầu tư.] [3.115]
1.2.1.2.4. Vốn huy động từ nước ngoài
Đối với nền kinh tế đang bước đầu hoàn thiện công nghiệp hoá, do nguồn tiết
kiệm trong nước thấp không đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn nên cần phải thu hút nguồn
vốn nước ngoài để tạo ra cú hích cho sự đầu tư phát triển nền kinh tế, vấn đề thu hút
vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách thu hút đầu tư
của nền kinh tế đang phát triển, một mặt phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp
ứng tối đa nhu cầu vốn cho đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH,
đồng thời phải kiểm soát chặt chẽ sự huy động vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng
hoảng. Để vượt qua những thử thách đó, đòi hỏi Nhà nước phải tạo lập môi trường
đầu tư thuận lợi cho sự vận động vốn nước ngoài, điều chỉnh và lựa chọn các hình
thức thu hút đầu tư để có lợi cho nền kinh tế.
- Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA
[Đây là nguồn vốn của các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi
chính phủ được thực hiện dưới các hình thức khác nhau như viện trợ không hoàn
lại, hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời gian dài, lãi suất thấp cho chính phủ sở tại.
Trong cơ cấu vố ODA thường có từ 15% đến 35% viện trợ không hoàn lại còn
lại là cho vay ưu đai. Nguồn vốn này có đặc điểm là vốn huy động lớn và thời
gian cho vay dài, lãi suất thấp nên rất thuận lợi và phù hợp với đầu tư phát triển
hạ tầng kỹ thuật.] [3.2253]
[Ở Việt Nam vốn ODA thường được huy động cho đầu tư cơ sở hạ tầng
kỹ thuật bằng các cách: các Bộ liên quan sẽ lập danh mục các dự án đầu tư kêu
gọi đầu tư nước ngoài. Căn cứ vào danh mục này Chính phủ cho phép các tổ
chức nước ngoài đầu tư vào dự án theo hinh thức đầu tư trực tiếp hay hỗ trợ phát
triển. Ngoài ra Nhà nước có thể trực tiếp vay vốn nước ngoài để đầu tư các công
trình trọng điểm mà hiện nay tình hình tài chính của đất nước chưa đáp ứng
được vốn. Hiện nay các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Việt Nam chủ yếu
là sử dụng nguồn vốn ODA. Đây là nguồn vốn mà Chính phủ thu hút để tăng
cường và giải quyết nhu cầu về vốn cho các dự án mang lại ít hoặc hầu như
11

Thứ hai, xét về lợi ích trực tiếp của người bỏ tiền đầu tư. Người đầu tư là
doanh nghiệp và tư nhân bao giờ cũng tính đến lợi ích trực tiếp của việc bỏ tiền
đầu tư, nên khu vực doanh ngiệp và tư nhân ở các nước đang phát triển chủ yếu
đầu tư sản xuất, kinh doanh và một số đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo thuận lợi cho sản
xuất, kinh doanh, lôi kéo và tăng mức sinh lời đầu tư khu vực tư nhân. Nếu Chính
phủ đầu tư nhiều vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mà khu vực tư nhân có thể
đảm nhận được thì sẽ lấn át đầu tư tư nhân.
12


Thứ ba, xét về yếu tố lãi xuất của vốn vay đầu tư. Khu vực doanh nghiệp
và tư nhân lựa chọn đối tượng đầu tư có thể đem lại giá trị sinh lời cao, các dự
án hấp dẫn để bù đắp chi phí lãi suất vay thương mại. Ở lĩnh vực kém hấp dẫn,
doanh nghiệp và tư nhân không muốn bỏ vốn đầu tư nên ngân sách Nhà nước
phải đầu tư, đó chính là lĩnh vực hạ tầng kết cấu, nghiên cứu cơ bản… Trong
trường hợp ngân sách Nhà nước cần vay nợ để bổ sung vốn trang trải cho công
cuộc đầu tư thì phải vay các nguồn vốn ưu đãi, thời gian dài, chi phí thấp để đỡ
gánh nặng cho tương lai, đó là các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, viện
trợ không hoàn lại (ODA).
Chính vì vậy mối quan tâm lớn nhất là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH nó có ý nghĩa to lớn đối với
công tác huy động vốn đầu tư. Trong quá trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
KT-XH nếu không tiết kiệm, để vốn lãng phí thất thoát sẽ không đảm bảo chất
lượng và giá trị sử dụng công trình. Trong khi huy động vốn phải coi trọng từ
giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án, xem xét tính khả thi và hiệu quả của dự án, dự
án có phát huy hiệu quả hay không, có huy động vốn nhiều hay ít là do công
việc ở giai đoạn này quyết định. Khi đã xác định rõ mức độ cần thiết khách quan
của dự án đối với mục tiêu phát triển KT-XH của ngành, vùng, địa phương. Xác
định được các yếu tố đầu vào, đầu ra tổng mức đầu tư của dự án, quy mô kết cấu
và khối lượng cơ bản của dự án. Do vậy phải thực hiện tốt ở giai đoạn này nó sẽ

hiện tại

Tổng tiết
kiệm

Tiết kiệm
của nhà nước

Tiết kiệm
của dân cư - DN

Trả nợ, viện

Nguồn vốn

Nguồn vốn

Ngân hàng,

trợ, dự
phòng

đầu tư của
Nhà nước

đâu tư của
dân cư, DN

TCTD trung
gian

ngân hàng và tài chính tín dụng trung gian lại cho các tổ chức vay để đầu tư hạ
tầng. Ngoài các nguồn trên còn huy động từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
và đóng góp của nhân dân thông qua ngày lao động công ích.
- Nguồn vốn nước ngoài.
Bao gồm hỗ trợ phát triển chính thức của các quốc gia, tổ chức và nguồn đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc thu hút vốn đầu tƣ xây dựng
kết cấu hạ tầng KT-XH
1.2.2.1. Kết cấu hạ tầng KT-XH tạo điều kiện đề mở rộng hòa nhập, hội
nhập kinh tế quốc tế
Xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới là khách quan, các quốc gia trên
thế giới không thể đứng tách rời trong xu thế đó, mà chủ động hội nhập để phát
triển. Một trong những nội dung của toàn cầu hóa kinh tế là luân chuyển vốn
trên thế giới thông qua ba hình thức chủ yếu: thị trường chứng khoản, FDI,
ODA. Ở nước ta thị trường chứng khoán mới ra đời đang vận hành mang tính
thực nghiệm, do vậy thu hút luân chuyển vốn chủ yếu tập trung vào FDI, ODA.
Giai đoan hiện nay, môi trường đầu tư trong xu thế toàn cầu hóa sâu rộng hơn,
với phạm vi và mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn thì việc thu hút vốn
đầu tư từ bên ngoài ngày càng khó khăn hơn. Do vậy thu hút đầu tư phải tính
đến yếu tố toàn cầu hóa, yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
1.2.2.2. Huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH tạo môi
trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Các nhà đầu tư chỉ yên tâm bỏ vốn vào những nơi có kết cấu hạ tầng KTXH đảm bảo và ổn định như: thông tin liên lạc nhanh chóng, kịp thời, hệ thống
pháp luật đầy đủ chính sách về tài chính tiền tệ ổn định. Sự ổn định về chính trị
có tính quyết định đến sự hấp dẫn đầu tư. Mức độ rủi ro của đầu tư phụ thuộc
vào sự ổn định của mỗi quốc gia và môi trường đầu tư thuận lợi mà nhà đầu tư
15


bỏ vốn xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH. Cùng với chiến lược

1.2.2.5. Tác động thu hút đầu tư từ cơ chế, chính sách
+ Năng lực quản lý Nhà nước, thủ tục hành chính đơn giản, khoa học,
16


công khai cộng với năng lực trong sạch của bộ máy công quyền sẽ làm giảm chi
phí cho nhà đầu tư trên cơ sở tiết kiệm được tiền bạc, thời gian, đồng thời nâng
cao hiệu quả đầu tư công cộng. Tiêu cực trong bộ máy Nhà nước có thể làm mất
cơ hội đầu tư hoặc giảm hiệu quả đầu tư của một doanh nghiệp, nhưng nghiêm
trọng hơn là làm nản lòng, triệt tiêu mong muốn, sáng tạo của nhà đầu tư và ảnh
hưởng đến nhiều nhà đầu tư khác.
+ Cơ chế chính sách đầu tư, các biện pháp hỗ trợ đầu tư, xúc tiến đầu tư
chính sách kinh tế mà đặc biệt là chính sách đầu tư rõ ràng, hấp dẫn cộng với
các biện pháp hỗ trợ đầu tư tích cực như hoàn thiện cơ sở hạ tầng, mặt bằng đầu
tư thuận lợi, tiếp cận tín dụng dễ dàng, lao động được hỗ trợ đào tạo… làm tính
cạnh tranh của môi trường đầu tư, có tác động lôi cuốn, hấp dẫn các nhà đầu tư.
+ Ngoài ra các yếu tố phong tục tập quán, văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc,
mỗi vùng miền, địa phương khác nhau cũng ảnh hưởng đến kết quả thu hút đầu tư.
1.3. CHƢƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ XÂY DỰNG NTM,
YÊU CẦU KẾT CẤU HẠ TẦNG KT-XH VÀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƢ
TRONG XÂY DỰNG NTM GIAI ĐOẠN 2016-2020

1.3.1. Chƣơng trình mục quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một chương trình
tổng thể về phát triển KT-XH, chính trị và an ninh quốc phòng do Chính phủ
xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc, căn cứ tinh thần của
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (ngày 5 tháng 8 năm 2008).
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020
được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 4 tháng 6 năm 2010 và

trường học, trạm y tế xã;
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hình
sản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần so
với năm 2015.
1.3.1.2. Các nội dung của chương trình
1.3.1.2.1. Quy hoạch xây dựng NTM
a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 01 về quy hoạch và thực hiện quy
hoạch trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM. Đến năm 2018, có 100% số xã đạt tiêu
chí số 01 về quy hoạch và thực hiện hiện quy hoạch;
b) Nội dung:
- Nội dung số 01: Quy hoạch xây dựng vùng nhằm đáp ứng tiêu chí của
Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Thủ tướng Chính
phủ về tiêu chí huyện NTM và quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh
hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM.
- Nội dung số 02: Rà soát, điều chỉnh bổ sung các quy hoạch sản xuất trong đồ
án quy hoạch xã NTM gắn với tái cơ cấu nông nghiệp cấp huyện, cấp vùng và cấp
18


tỉnh; bảo đảm chất lượng, phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, an ninh,
quốc phòng và tập quán sinh hoạt từng vùng, miền.
- Nội dung số 03: Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển hạ tầng
KT-XH - môi trường nông thôn trong đồ án quy hoạch xã NTM đảm bảo hài hòa
giữa phát triển nông thôn với phát triển đô thị; phát triển các khu dân cư mới và
chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã.
1.3.1.2.2. Phát triển hạ tầng KT-XH
a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 trong Bộ tiêu chí
quốc gia NTM.
b) Nội dung:
- Nội dung số 01: Hoàn thiện hệ thống giao thông trên địa bàn thôn, xã.

giới, hải đảo xa trung tâm xã. Đến năm 2020, có 95% số xã đạt chuẩn các nội
dung khác của tiêu chí số 8 về Thông tin - Truyền thông.
- Nội dung số 09: Hoàn chỉnh các công trình đảm bảo cung cấp nước sinh
hoạt cho người dân. Đến năm 2020, có 95% dân số nông thôn được sử dụng
nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 60% sử dụng nước sạch đạt chuẩn của Bộ
Y tế; 100% Trường học (điểm chính) và trạm y tế xã có công trình cấp nước và
nhà tiêu hợp vệ sinh.
1.3.1.2.3. Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân
a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về tỷ lệ
lao động có việc làm thường xuyên, tiêu chí số 13 về tổ chức sản xuất trong Bộ
tiêu chí quốc gia về NTM, nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã thông
qua tăng cường năng lực tổ chức, điều hành, hoạt động, kinh doanh cho các hợp
tác xã, tổ hợp tác. Đến năm 2020, có 80% số xã đạt tiêu chí 10 về thu nhập và
tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, có 85% số xã đạt tiêu
chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất.
b) Nội dung:
- Nội dung số 01: Triển khai có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông
nghiệp theo hướng liên kết chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển
bền vững.
- Nội dung số 02: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình khoa học,
công nghệ phục vụ xây dựng NTM (Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 05 tháng
01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ) giai đoạn 2016-2020; tăng cường công
tác khuyến nông; đảy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ
cao vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
- Nội dung số 03: Tiếp tục thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị gắn kết sản
xuất với tiêu thụ sản phẩm; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn,
trong đó chú trọng công nghiệp chế biến nông sản và công nghiệp thu hút nhiều
lao động.
20

giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.
- Nội dung số 02: Thực hiện các Chương trình an sinh xã hội ở xã, thôn.
1.3.1.2.5. Phát triển giáo dục ở nông thôn
a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 14 về Giáo dục trong Bộ tiêu chí quốc gia
NTM. Đến 2020, có 80% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 14 về giáo dục.
21


b) Nội dung:
- Nội dung số 01: Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 05 tuổi. Bảo đảm
hầu hết trẻ em 5 tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện chăm sóc, giáo
dục 02 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình
cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ
em vào lớp 1.
- Nội dung số 02: Xóa mù chữ và chống tái mù chữ. Đến năm 2020, độ tuổi
15-60: tỷ lệ biết chữ đạt 99% (trong đó, tỷ lệ biết chữ của 14 tỉnh có điều kiện kinh
tế-xã hội khó khăn đạt 96%, tỷ lễ biết chữ của người Dân tộc thiểu số đạt 92%).
100% đơn vị cấp tỉnh, huyện, 95% đơn vị cấp xã đạt chuẩn xóa mù chữ mức 2.
- Nội dung số 03: Phổ cập giáo dục tiểu học. Đến năm 2020, duy trì vững
chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học trên 63/63 đơn vị cấp tỉnh, trong đó ít
nhất 40% số tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học cấp độ 3; huy
động được 99,7% trẻ 6 tuổi vào học lớp 1, tỷ lệ lưu ban và bỏ học ở tiểu học
dưới 0,5%. 100% đơn vị cấp tỉnh, 100% đơn vị cấp huyện và 99,5% đơn vị cấp
xã phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi theo quy định của Chính phủ.
- Nội dung số 04: Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến năm
2020, duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên 63/63
tỉnh, thành phố trong đó ít nhất 40% số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 3.
1.3.1.2.6. Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe
người dân nông thôn

trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch; thu gom và xử lý chất thải, nước thải theo
quy định; cải tạo nghĩa trang; xây dựng cảnh quang môi trường xanh-sạch-đẹp.
- Nội dung sô 03: Khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng
nghề bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng.
1.3.1.2.9. Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính
quyền, đoàn thể chính trị-xã hội trong xây dựng NTM; cải thiện và nâng cao
chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp
cận cho người dân.
a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 về hệ thống chính trị, dịch vụ hành
chính công và tiếp cận pháp luật của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM. Đến 2020, có
95% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 18 về hệ thống chính trị, dịch vụ hành chính công và
tiếp cận pháp luật.
b) Nội dung:
- Nội dung số 01: Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành
chính, quản lý kinh tế-xã hội chuyên sâu cho khoảng 500.000 lượt cán bộ, công
chức xã (bình quân khoảng 100.000 lượt cán bộ/năm) theo quy định của Bộ Nội
vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng NTM.
23


- Nội dung số 02: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã
hội tham gia xây dựng NTM theo Phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng
NTM, đô thị văn minh”.
- Nội dung số 03: Các tỉnh, thành phố trực thuốc Trung ương kiện toàn
Ban Chỉ đạo và bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo các cấp theo hướng dẫn đồng bộ,
chuyên nghiệp.
- Nội dung số 04: Các Bộ, ngành, cơ quan đoàn thể và các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương triển khai Kế hoạch thực hiện Phong trào thi đua “cả
nước chung sức xây dựng NTM”.
- Nội dung số 05: Cải thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành

- Nội dung số 02: Ban hành Bộ tài liệu chuẩn phục cho công tác đào tạo, tập
huấn kiến thức cho cán bộ làm công tác xây dựng NTM các cấp. Tăng cường tập
huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ xây dựng NTM các cấp (nhất là cán bộ
huyện, xã và thôn, bản, cán bộ hợp tác xã, chủ trang trại).
- Nội dung số 03: Xây dựng và triển khai có hiệu quả hệ thống giám sát, đánh
giá đồng bộ, toàn diện đáp ứng yêu cầu quản lý Chương trình trên cơ sở áp dụng
công nghệ thông tin.
- Nội dung số 04: Truyền thông về xây dựng NTM.
1.3.2. Yêu cầu kết cấu hạ tầng KT-XH trong xây dựng NTM
Theo quy định tại Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04 tháng 10
năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ
tiêu chí quốc gia về NTM, trong đó có quy định 08 tiêu chí hạ tầng KT-XH
trong xây dựng NTM, với các nội dung cụ thể:
1.3.2.1. Tiêu chí giao thông
1.3.2.1.1. Xã đạt tiêu chí giao thông khi đáp ứng đủ 04 yêu cầu:
- Đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt tỷ lệ 100%;
- Đường trục thôn được cứng hoá đạt tỷ lệ quy định của vùng;
- Đường ngõ, xóm được cứng hóa, không lầy lội vào mùa mưa đạt tỷ lệ
100%;
- Đường trục chính nội đồng được cứng hóa, đạt tỷ lệ quy định của vùng.
1.3.2.1.2. Quy mô đường giao thông nông thôn:
- [Quy hoạch theo quy định của Bộ Giao thông vận tải: Việc quy hoạch và
thiết kế giao thông nông thôn căn cứ vào tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)
4054:2005 và Quyết định bổ sung số 315/QĐ-BGTVT ngày 23/02/2011;] [3.33]
- [Về xây dựng giao thông: Các xã phải căn cứ vào khả năng nguồn lực
thực tế để xác định công trình ưu tiên, lộ trình thực hiện cho phù hợp. Nếu nguồn
lực có hạn thì tập trung hoàn thành cắm mốc nền đường theo quy hoạch, xây dựng
mặt đường nhỏ hơn, khi có điều kiện sẽ tiếp tục mở rộng đủ quy hoạch;] [3.229]
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status