Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở quận thủ đức, thành phố hồ chí minh hiện nay - Pdf 44

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực
(NNL), quan tâm nhất là NNL chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
(KT – XH) nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
đất nước nói riêng. Thực tế nó đã chứng minh những quốc gia, những địa phương
nào đã quan tâm đến đào tạo, phát triển, nâng cao chất lượng NNL, đồng thời sử
dụng hợp lý và có hiệu quả NNL đều đạt được những thành công. Sự thành công
của một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Singapore,... là những minh chứng
tiêu biểu cho việc đó.
Sức mạnh của con người và các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam phải thể
hiện thành sức mạnh của đội ngũ nhân lực, trong đó có bộ phận nhân tài, trên nền
sức mạnh dân trí với cốt lõi là nhân cách, nhân phẩm đậm đà bản sắc dân tộc của
từng người, từng nhà, cộng đồng, giai cấp và dân tộc.
Vì thế, trong bối cảnh hiện nay việc phát huy nguồn lực con người nhằm phục
vụ quá trình CNH, HĐH đưa sự nghiệp đổi mới đất nước đi đến thành công không
chỉ có ý nghĩa lý luận to lớn mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đặc biệt là đối với
một quận có nhiều tiềm năng phát triển như Quận Thủ Đức.
Quận Thủ Đức nằm về phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích
tự nhiên là 4.776 ha, dân số 463.368 người, là một quận đang trên đà phát triển đô
thị hóa với tốc độ tương đối cao; trên địa bàn Quận có các Khu chế xuất Linh
Trung 1, Linh trung 2, Khu công nghiệp Bình Chiểu, có chợ đầu mối nông sản Thủ
Đức, có các trường ĐH đào tạo gần 100.000 sinh viên mỗi năm như: ĐH Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, trường đại học (ĐH) Nông Lâm Thành phố Hồ Chí
Minh, trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh, trường ĐH Ngân
hàng Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) và một số trường cao đẳng (CĐ), trung học

1



Bộ máy quản lý nnận sự và cơ cấu nguồn nhhân lực quận Thủ Đức tới

2015.

2


-

Các nhân tốc ảnh hưởng tới sự phát triển và chất lượng nguồn nhân

lực tại Quân Thủ Đức.
Phạm vi nghiên cứu:
-

Thời gian: Nghiên cứu thực trạng NNL phục vụ CNH, HĐH quận Thủ

Đức giai đoạn 2010 – 2015 và đề xuất giải pháp phát triển NNL cho giai đoạn
2016 – 2020.
- Không gian: Nghiên cứu NNL phục vụ CNH, HĐH quận Thủ Đức thành
phố Hồ Chí Minh..
4.

Phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản, kết hợp với phương pháp phân
tích – thống kê, so sánh – tổng hợp, suy luận Loogic – Lịch sử,… nhằm làm rõ vấn
đề nghiên cứu.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Luận văn giúp hệ thống hóa cơ sở


1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thời gian gần đây, vấn đề NNL phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ngày càng được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Nhiều
công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này đã được thực hiện và công bố dưới
dạng sách tham khảo, luận án, bài báo khoa học,… Tiêu biểu có thể kể đến các
nghiên cứu của các tác giả như: Nolwen Henaff, Fiona Howell, Nguyễn Hữu
Dũng, Võ Đại Lược, Trần Tiến Cường, Nguyễn Thanh, Đoàn Văn Khải, Đào
Quang Vinh,…
Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên ta thấy, việc nghiên cứu về phát
triển NNL phục vụ cho CNH, HĐH đây là chủ đề nóng được nhiều người lựa chọn
nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu về phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH cho phạm
vi cấp quận hiện nay chưa nhiều. Đặc biệt, theo hiểu biết của tác giả hiện chưa có nghiên
cứu nào về nâng cao chất lượng NNL phục vụ CNH, HĐH quận Thủ Đức.

1.2 Nguồn nhân lực và chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
1.2.1 Nguồn nhân lực
Khái niệm NNL (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên con người) được
sử dụng những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước
châu Á, và hiện nay khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò,
vị trí con người trong sự phát triển.Ở Việt Nam, khái niệm này được sử dụng khá
rộng rãi từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Vì vậy, hiện nay có nhiều quan
5


niệm khác nhau về NNL, nhưng chung quy lại, NNL tiếp cận theo hai góc độ chủ
yếu sau:
Thứ nhất, NNL với tư cách là tiềm năng, là nguồn lực chung của con người.
Thứ hai, NNL với tư cách là tổng thể nguồn lực con người trong các đơn vị

sự phát triển, điều đó có nghĩa là “con người luôn là mục đích vừa là tác nhân của
sự phát triển”. Quan điểm này nhận được sự ủng hộ của nhiều quốc gia và nó phát
triển này càng phong phú về lý luận cũng như thực tiễn. Cụ thể hóa nội dung trên,
UNESCO cho rằng, phát triển con người toàn diện, trong đó phải quán triệt bản
chất và ý nghĩa của các giá trị nhân văn, nhân đạo – đó là nguyên tắc chỉ đạo các
con đường phát triển, đến lượt mình, các giá trị nhân văn, nhân đạo này lại chỉ đạo
các con đường, chương trình phát triển.
Năm 1990, Báo cáo phát triển con người (Human Development Programme –
UNDP) được xuất bản, đánh dấu một bước quan trọng trong việc khẳng định vai
trò của con người trong phát triển thông qua tuyên ngôn: “của cải đích thực của
một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và mục đích để phát triển là để tạo ra
một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, khỏe
mạnh và sáng tạo”.
Trong đó, UNDP chọn ba chỉ số cơ bản (sức khỏe, học vấn, mức sống) để đánh
giá thành tựu về sự phát triển con người ở cộng đống và quốc gia. Trên cơ sở đó,
UNDP cho rằng phát triển NNL được quy định bởi 5 yếu tố chủ yếu: GD - ĐT, sức
khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người. Năm yếu tố
này luôn liên hệ với nhau, tác động trực tiếp đến quá trình phát triển NNL; trong
đó, GD - ĐT là nhân tố cơ bản và trở thành nền tảnh của các nhân tố khác. Các
nhân tố khác như sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con
người là hết sức cần thiết để duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững của NNL.

7


Trong công trình “Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH”, Giá sư
Phạm Minh Hạc đã nhấn mạnh:” Phát triển NNL được hiểu về cơ bản là tăng giá
trị cho con người trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực...làm
cho con người trở thành những NLĐ có những năng lực và phẩm chất mới và cao,
đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển KT - XH, của sự nghiệp

người như sức khỏe, trí tuệ, chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng,
kinh nghiệm...của NLĐ. Trong đó, nâng cao trí tuệ, đạo đức và năng lực chuyên
môn là những yếu tố cơ bản. Để nâng cao được giá trị NNL, trước hết và chủ yếu,
cần phải tập trung các nguồn lực để nâng cao trình độ và chất lượng của nền GD ĐT; đồng thời, phải nâng cao hiệu sử dụng NNL.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả sử dụng NNL tức là tạo điều kiện tối ưu để hiện
thực hóa giá trị NNL trong thực tiễn. Để làm được điều này, cần hoàn thiện hệ
thống cơ chế và chính sách đồng bộ; đồng thời phát triển phương pháp và nghệ
thuật dùng người, khẳng định và tôn vinh giá trị con người, nhất là giá trị của tài
năng cống hiến nhiều cho xã hội.
Các mặt trên có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, do vậy phải
được giải quyết một cách đồng bộ.
1.3 Vai trò của nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.3.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Trên phạm vi toàn thế giới, trong khu vực và ở nước ta hiện nay, cả lý luận
và thực tiễn khẳng định CNH, HĐH là giai đoạn phát triển tất yếu mà mỗi quốc gia
sớm hay muộn đều phải trải qua. Vấn đề được đặt ra đối với các nước là thực hiện
CNH, HĐH như thế nào cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước mình để
đạt hiệu quả cao nhất với thời gian ngắn nhất để rút ngắn được khoảng cách so với
các nước phát triển.
Lịch sử các nước phát triển trên thế giới đều khẳng định rằng: nhờ thực hiện
thành CNH, HĐH nhiều nước trên thế giới đã chuyển từ văn minh nông nghiệp lên
9


văn minh công nghiệp và trở thành các nước phát triển. Thế giới đã chứng kiến có
nhiều loại mô hình CNH, HĐH diễn ra tuần tự từ thấp đến cao, nhưng có những
nước con đường CNH, HĐH có thể rút ngắn mà không trải qua tuần tự của các
nước phát triển đi trước.
Cho đến nay, mô hình công nghiệp hóa theo hướng hội nhập quốc tế vẫn
đang trong quá trình hình thành khảo nghiệm. Tuy nhiên, mô hình này tỏ ra phù

tiện chủ đạo, là con đường tất yếu phải trải qua của các nước đang phát triển. Đối
với Việt Nam, một nước nông nghiệp lạc hậu tiến hành CNH, HĐH cũng là một
yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hang đầu trong suốt
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thông qua CNH, HĐH, chúng ta sẽ tạo ra
được một trình độ phát triển mới về KT - XH, tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn
so với các nước trong khu vực và trên thế giới, cải thiện được đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, có điều kiện củng cố quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn
định chính trị, bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc.
Nắm được tính tất yếu khách quan của quá trình CNH, HĐH đối với công
cuộc xây dựng đất nước, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng ta đã xác
định phải tiến hành công nghiệp hóa đất nước để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đến nay nhiệm vụ đó vẫn là trung tâm,
nhưng công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay phải gắn với hiện đại hóa.
Hiện nay nền kinh tế nước ta vẫn mang nặng tính chất nông nghiệp, công
nghiệp vẫn còn nhỏ bé, thu nhập đầu người còn thấp nhiều lần so với thế giới. Nếu
cứ tiếp tục dựa vào nền kinh tế nông nghiệp thì khó có thể phát triển nhanh, nếu
không nói là tụt hậu. Lịch sử các nước đi trước trên thế giới cho thấy chưa có nước
nào bằng con đường nông nghiệp hóa mà trở thành nước phá triển. Vì vậy, muốn
thoát khỏi tình trạng nước nghèo và chậm phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn
về kinh tế so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, nước ta không có
con đường nào khác ngoài tiến hành CNH, HĐH đất nước, công nghiệp hóa phải
gắn liền với hiện đại hóa. Thấy được thực tế khách quan đó của đất nước, Hội nghị
11


đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII(1- 1994) của Đảng ta đã xác định là
phải đưa đất nước chuyển dần sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một
bước CNH, HĐH đất nước. Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“đẩy mạnh CNH, HĐH từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản

mục tiêu CNH, HĐH ở nước ta là “xây dựng nước ta thành một nước có cơ sở vật
chất- kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
trình độ phát triển của LLSX, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an
ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Từ nay đến
2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp”. Đường lối
CNH, HĐH được Đảng ta tiếp tục khảng định tại đại hội, đại biểu toàn quôc lần
thứ IX và lần thứ X. Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006) của Đảng ta
tiếp tục khẳng định; “đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước…Đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, giữ vững ổn định
chính trị và trật tự an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế Việt Nam trong khu vực và trên
trường quốc tế.
Như vậy, có thể khẳng định rằng sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta được tiến
hành trong bối cảnh phức tạp, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đang xen
nhau. Do vậy, cùng với việc khẳng định tính tất yếu khách quan của sự nghiệp
CNH, HĐH với việc nhận thức rõ các điều kiện thuận lợi, thời cơ và những khó
khăn, thách thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định đường lối
chiến lược, mục tiêu nội dung và phương pháp tiến hành CNH, HĐH cho phù hợp
để phát huy mọi tiềm năng của đất nước, củng cố quyết tâm, chủ động nắm bắt thời
cơ để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm khác với CNH, HĐH
của các nước khác. Vì vậy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải tiến hành CNH, HĐH
như thế nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế của nước ta. CNH, HĐH trong bối
cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển đang phát
triển mạnh mẽ trên phạm vi thế giới, xu thế toàn cầu hóa đồi sống kinh tế- xã hội
13


ngày càng sâu rộng, mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp (kết hợp giữ thay thế nhập
khẩu với đẩy mạnh xuất khẩu)theo hướng hội nhập quốc tế có triển vọng hơn cả. Ở

kế hoạch hóa cao độ với các chỉ tiê pháp lệnh ngiêm ngặt từ trên xuống đã làm triệt
tiêu mọi động lực phát triển kinh tế- xã hội. Sau đại hội toàn quốc lần thứ VI của
Đảng (12-1986), CNH, HĐH được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lí
của nhà nước. Trong có chế thị trường, CNH, HĐH phải tôn trọng các quy luật giá
trị, cung cầu, cạnh tranh, còn kế hoạch chỉ mang tính chất định hướng. Cơ chế thị
trường tạo ra những cơ hội và những điều kiện để NLĐ tham gia vào các hoạt động
kinh tế- xã hội, nó kích thích tính tích cực, chủ động sáng tạo của NLĐ. Cơ chế thị
trường tạo điều kiện để chuyển dịch cơ câu LĐ, cả người sử dụng LĐ lẫn người lao
động đều có thể chủ động trong việc lựa chọn LĐ việc làm. Tuy nhiên, cơ chế thị
trường bên cạnh mặt tích cực cũng còn những hạn chế nhất định, nếu không chủ
động khắc phục quá trình CNH, HĐH sẽ khó có thể đạt được những mục tiêu đã
xác định về xã hội, về an ninh quốc gia cũng như về môi trường. Bởi vậy, cơ chế
thị trường phải có sự quản lí của nhà nước, thông qua các công cụ chủ yếu như
định hướng kế hoạch phát triển, hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế- xã hội,
các quĩ quốc gia để điều tiết quá trình CNH, HĐH đất nước.
Ba là: công nghiệp hóa - hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ via trò chủ đạo. Cách mạng là sự
nghiệp sáng tạo của quần chúng nhân dân, chân lý đó được chứng minh trong lịch
sử của các dân tộc trên thế giới cũng như ở nước ta. Cũng cần nói rằng, CNH,
HĐH trước đây cũng như hiện nay đều xuất phát từ nhân dân, đều nhằm nâng cao
đời sống vật chất của nhân dân. Nhưng trước đây, trong quá trình công nghiệp hóa
chúng ta chưa có cơ chế chính sách phù hợp để nhân dân phát huy tốt vai trò của
mình đối với sự nghiệp đó. Công nghiệp hóa thời kỳ này được hiểu là công việc
của Nhà nước, được thực hiện thông qua một thành phần kinh tế - thành phần KT XH chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu nhà nước và tập thể. Chuyển sang cơ chế
thị trường, thực hiện nhiều hình thức sở hữu với nhiều thành phần kinh tế đã khơi
dậy và phát huy được mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế. Nhân dân, bằng
sức LĐ, bằng tài năng, sức sáng tạo, tiền vốn, tài sản của mình đã phát huy sức
mạnh của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là
15




và công nghệ, tri thức của NLĐ thực sự đóng vai trò là nền tảng và động lực của
quá trình CNH, HĐH.
Sáu là: CNH, HĐH phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố
cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; CNH, HĐH phải gắn với mục tiêu
phát triển bền vững. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khao học và công nghệ hiện ddai dã và đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã
hội. Nếu như trước đây, quá trình CNH, HĐH tập trung khai thác nguồn lực tự
nhiên thì ngày nay, CNH, HĐH lại hướng vào khai thác nguồn lực con người, mà
đặc biệt tiềm năng trí tuệ của con người. Mặc khác, CNH, HĐH không chỉ đơn
thuần tăng trưởng kinh tế, mà quan trọng hơn cả là phải đạt được mục tiêu phát
triển nhanh và bền vững. Đó là sự tăng trưởng không chỉ về tổng sản phẩm quốc
nội (GDP), mà còn là sự tăng lên vể phúc lợi xã hội. Do đó, trong sự nghiệp CNH,
HĐH đòi hỏi phải biết nuôi dưỡng, phát huy và khai thác hợp lý, có hiệu quả
nguồn lực con người, CNH, HĐH phải do con người và vì con người.
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của quá trình CNH, HĐH ở nước ta
hiện nay. Đồng thời, đó cũng chính là một số quan điểm cơ bản chi phối việc
hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
1.3.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với công cuộc công nghiêp hóa, hiện đại
hóa
Trong tổng thể các nguồn lực thì NNL luôn ở vị trí trung tâm và giữ vai trò
quyết định không những đối với các nguồn lực khác, mà còn quyết định toàn bộ
quá trình phát triển kinh tế- xã hội, của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Bởi vì NNL được coi là nguồn lực vô tận, phong phú, vô giá, quý báu nhất, duy
nhất sang tạo và có khả năng sinh ra giá trị lớn hơn nhiều lần bản thân nó trong quá
trình sản xuất xã hội. Các nguồn lực khác chỉ là nguồn tiềm năng muốn phát huy
tác dụng phải thông qua nhân tố con người, một nội lực cơ bản nhất. Các nguồn
lực khác tự mình không tự động phát huy tác dụng, không trở thành động lực của



18


kinh tế- xã hội còn kém phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế còn
thấp, cơ sở vật chất- kỹ thuật chưa xây dựng được bao nhiêu.
Từ một xuất phát điểm quá thấp, với thu nhập bình quân đầu người ở những
quốc gia nghèo nhất, CNH, HĐH sẽ là con đường cơ bản đưa nước ta thoát khỏi
tình trạng lạc hậu và nguy cơ tụt hậu, đảm bảo đi lên chủ nghĩa xã hội văn minh,
hiện đại. Đó chính là lời giải cho bài toán phát triển tăng nhanh tốc độ phát triển ở
nước ta, tiến hành CNH, HĐH “không chỉ là đẩy nhanh nhịp độ và nâng cao tỷ
trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, mà còn chuyển dịch cơ cấu kinh tế
gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh,
hiệu quả cao và lâu bền của nền kinh tế”.
Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay cũng như nhiều nước đang phát triển
khác, được đặc trưng bằng sự chiếm ưu thế của sản phẩm nông nhiệp là LĐ thủ
công ở nông thôn, dù công nghiệp hóa đã bắt đầu. Muốn phát triển phải cấu trúc lại
toàn bộ nền kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu theo hướng đẩy mạnh CNH,
HĐH. Nền kinh tế từ nặng về nông nghiệp sẽ chuyển dần về phía công nghiệp chế
biến và các dịch vụ xã hội, dịch vụ kinh tế, dịch vụ trí tuệ ... Đặc biệt coi trọng
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông- lâm- ngư nghiệp
gắn với công nghiệp chế biến nông lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp ưu tiên
các ngành chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dung, hàng xuất
khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát
triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính, viễn thông …
phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại.
CNH, HĐH là một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ, đòi hỏi một ý chí và
bản lĩnh vững vàng để sẳn sang tạo lập, nắm bắt lợi thế của người “đi sau” mà bỏ
qua các thế hệ công nghệ trung gian, đi ngay vào công nghệ tiên tiến ở những lĩnh

lượng NNL nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; NNL công
nhân là 9,5 triệu người, chiếm gần 10% dân số; NNL trí thức, tốt nghiệp ĐH, CĐ
trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; NNL từ các doanh

20


nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu
người … . Đó là tiềm năng song lại là áp lực đối với nền kinh tế nước ta. Sự
nghiệp CNH, HĐH sẽ “ cho phép khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân,
nhân tố con người, giải phóng con người và phát triển xã hội, xác lập quan niệm
con người là nguồn lực lớn nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực sáng tạo và phát
triển”.
Vậy là trong thời đại ngày nay, không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng
mọi giá mà không tính đến yếu tố con người. Cần nhớ rằng công nghệ tiên tiến của
nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng hay bị lãng phí, thậm chí bị phá
hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố con người khi sử dụng chúng. Do đó, chúng
ta phải biết lựa chọn công nghệ thích hợp để toàn dụng LĐ.
Kinh nghiệm của thế giới cho thấy, tốc độ công nghiệp hóa của các nước
trên thế giới rất không giống nhau. Quốc gia nào chuẩn bị tốt NNL và thừa hưởng
những thành quả của khoa học công nghệ hiện đại của nhân loại thì sẽ rút ngắn
được quá trình CNH, HĐH, nhanh chóng tạo ra “bước ngoặt” phát triển đất nước.
Rõ ràng, trong xu thế phát triển thế giới, dĩ nhiên đối với Việt Nam, phát
huy NNL có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để bảo đảm cho sự thành cong sự nghiệp
CNH, HĐH. Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, chỉ có phát huy tốt NNL mới
tạo ra cho mọi người có cơ hội tìm kiếm công ăn, việc làm, giải quyết được nạn
thất nghiệp. Đồng thời đó cũng là nhân tố cần thiết để các công ty nước ngoài có
thể chuyển nhượng các công nghệ hiện đại vào Việt Nam.
1.3.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trƣớc yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
Dân số vừa cung cấp NNL vừa là mẫu số của các chỉ số phát triển của KT XH. Việt Nam chúng ta đang có NNL dồi dào với dân số cả nước gần 87 triệu

vực nông nghiê ̣p chuyể n dich
̣ sang khu vực công nghiê ̣p và dich
̣ vu ̣.
Nguồ n nhân lực phân bố không đề u giữa các điạ phương

. Dưới tác đô ̣ng

của toàn cầu hóa kinh tế , tại các thành phố , đă ̣c biê ̣t là thành phố lớn

(Hà Nội ,

Thành phố Hồ Chí Minh , Đà Nẵng), các cơ sở đào tạo , dạy nghề phát triển mạnh .
Đặc biệt phát triển các ngành nghề : công nghê ̣ thông tin , điê ̣n tử , điê ̣n la ̣nh , xây
dựng, may mă ̣c , du lich
̣ , cơ khí chế ta ̣o và sửa chữa , điê ̣n công nghiê ̣p… ta ̣o ra
22


cung lớn nhưng cung lao đô ̣ng chuyên môn kỹ thuâ ̣t thường lớn hơn cầ u rấ t nhiề u .
Tình trạng thất nghiệp của lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật tại các thành
phố lớn khá phổ biế n.
Trong khi đó , tại nhiều địa phương (đă ̣c biê ̣t là các tin̉ h vùng núi phiá Bắ c ,
miề n núi các tin
̉ h miề n Trung , đồ ng bằ ng sông Cửa Long… ) thiế u các cơ sở đào
tạo, dạy nghề và thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật . Các chính sách thị trường
lao đô ̣ng chưa có tác du ̣ng nhiề u đố i với các vùng

, điạ phương thiế u nhân lực

chuyên môn lành nghề và lành nghề cao . Đây là khó khăn lớn cho phát triể n kinh

hội duy nhất, “có một không hai” trong quá trình quá độ nhân khẩu học.
Năm 2010, trên 60% người Việt Nam ở độ tuổi LĐ (15 – 64 tuổi). Giai
đoạn 2011 – 2020, LLLĐ Việt Nam tăng 1%/năm, tương ứng 47,82 triệu người
năm 2011, 50,4 triệu người năm 2015 và 53,15 triệu năm 2020 .
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy “cơ hội dân số vàng” đóng góp khoảng
1/3 tăng trưởng kinh tế ở các nước Đông Á thần kỳ. Tuy nhiên, các nghiên cứu này
cũng khẳng định rằng lợi tức từ “cơ hội dân số vàng” không tự đến với các nước.
Các nước có “cơ hội dân số vàng”đã tận dụng thành công cơ hội này bằng cách
đầu tư lớn và có hiệu quả cho y tế, phát triển GD - ĐT và NNL – những nhân tố
tích cực đến kỹ năng, trình độ của LLLĐ trong việc xây dựng nền kinh tế thị
trường nhanh nhạy và bền vững. Ngược lại, việc quản lý hiệu quả nền kinh tế tăng
trưởng cao cho phép các nước này tích lũy được nguồn lực để đầu tư mạnh hơn
nữa cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục, đẩy mạnh đào tạo tiên tiến và phát triển
năng lực.
Muốn khai thác được lợi ích của cơ cấu dân số vàng thì nhóm dân số trẻ
tuổi và những nhóm thuộc độ tuổi có năng suất LĐ cao nhất cần phải được trang bị
đầy đủ kiến thức và các kỹ thuật chuyên môn. Theo tiêu chuẩn quốc tế, độ tuổi 25
trở lên được coi là độ tuổi mà mỗi cá nhân đã trải qua tất cả các bậc giáo dục cơ
bản cũng như đào tạo nghề hay ĐH. Việt Nam mặc dù đã thực hiện tương đối tốt
việc phổ cập giáo dục đối với tiểu học và xóa mù chữ nhưng vẫn phải đối mặt với

24


một thách thức lớn trong việc đào tạo các kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng
nhu cầu hiện đại. Điều này liên quan tới tỷ lệ phần trăm người lớn có trình độ học
vấn bậc trung (tương đương với cấp 3 – giáo dục bật trung – và bậc 4 – giáo dục
trung học nâng cao không phải ĐH – trong phân loại chuẩn quốc tế về giáo dục
ISCED của UNESCO) và trình độ học vấn bậc cao (tương đương với bậc 5 – bước
đầu của giáo dục bậc 3 (ĐH trở lên) – và bậc 6 – bước hai của giáo dục bậc 3, dẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status