1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, giáo dục và đào tạo đã có những chuyển biến tích
cực cả về quy mô lẫn chất lượng nhằm đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam có đủ trình độ
“đủ đức, đủ tài” để đưa đất nước ta tiến kịp các nước phát triển trong khu vực và
trên thế giới. Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ 8, khoá XI đã xác định “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt Nam ta thấy từ đời xưa ông cha ta đã rất coi
trọng, chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và đã đúc rút thành một kinh
nghiệm quý báu “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đến thăm Văn miếu Quốc Tử
Giám chúng ta thấy trên văn bia còn ghi: “Các bậc hiền nhân là yếu tố cốt tử đối
với một chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước tăng tiến mạnh mẽ và phồn
thịnh. Khi yếu tố này kém thì quyền lực đất nước bị suy giảm” và “Những người
tài giỏi, có học thức là một sức mạnh đặc biệt đối với đất nước”. Ngay sau khi
Cách mạng tháng tám thành công, ngày 20/11/1946, trong bài viết “Tìm người tài
đức” Hồ Chủ Tịch khẳng định “Nước nhà còn phải kiến thiết, kiến thiết phải có
người tài, trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu gì người có tài, có đức…”.
Thực tiễn quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cho thấy dân tộc Việt Nam có
tiềm năng, trí tuệ vô cùng phong phú. Có điều chúng ta chưa phát hiện, chăm sóc,
bồi dưỡng để có thể phát huy hết tiềm năng trí tuệ còn tiềm ẩn.
Ngày nay GD&ĐT được ưu tiên, ưu đãi. đặt giáo dục ở vị trí quốc sách hàng
đầu. Nhà nước và xã hội có cơ chế, chính sách khuyến khích cho giáo dục phổ
thông và hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì vậy, việc tổ chức bồi dưỡng học
sinh giỏi trên cơ sở phát triển toàn diện nhân cách học sinh là một nhiệm vụ quan
trọng, nhưng cách tổ chức như thế nào không thể không nói đến công tác quản lí,
chỉ đạo của ban giám hiệu trường tiểu học.
Việc chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm phát hiện ra học sinh có năng
khiếu để bồi dưỡng. Động viên khích lệ học sinh học tập, khích lệ giáo viên dạy
giỏi góp phần nâng cao chất lượng của quá trình dạy-học. Bồi dưỡng học sinh giỏi
Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng chất lượng giáo dục nói chung
và chất lượng giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng của nhà trường cũng
như điều kiện chủ quan, khách quan của nhà trường, của địa phương Quảng Nham,
từ đó đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng cho đội ngủ giáo viên ôn thi học sinh
giỏi và chất lượng đội tuyển học sinh giỏi ngày càng được nâng lên.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu công tác quản lý, phát hiện, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng học sinh
giỏi ở trường Trung học cơ sở Quảng Nham – Quảng Xương.
2
- Nghiên cứu giáo viên dạy các đội tuyển học sinh giỏi và những học sinh có tố
chất trong học tập, rèn luyện.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp lý luận
- Nghiên cứu cẩm nang quản lý giáo dục
- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị và hướng dãn về nhiệm vụ năm học2015-2016.
- Luật giáo dục, Điều lệ trường THCS, THPT và THPT có nhiều cấp học, các văn
bản liên quan đến hoạt động chuyên môn.
- Nghiên cứu đề cương ôn thi học sinh giỏi các môn văn hóa do phòng GD&ĐT
biên soạn, tập huấn.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong thời đại khoa học và công nghệ ngày nay, nhân lực có trình độ cao không
chỉ là tiền đề mà còn là yếu tố có tính quyết định cho sự phát triển của một đất
+ Khối 7: 5 lớp với số học sinh là 218 em.
+ Khối 8: 4 lớp với số học sinh là 162 em.
+ Khối 9: 3 lớp với số học sinh là 121 em.
- Năm học 2015 – 2016 Trường THCS Quảng Nham có 20 lớp, với 847 học
sinh, trong đó:
+ Khối 6: 6 lớp với số học sinh là 278 em.
+ Khối 7: 6 lớp với số học sinh là 246 em.
+ Khối 8: 5 lớp với số học sinh là 192 em.
+ Khối 9: 3 lớp với số học sinh là 131 em.
2.2.3. Đội ngũ CBGV, NV
- Năm học 2015 – 2016: Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 41 (CBQL: 2;
GV: 37; nhân viên: 2)
- Biên chế: 29; Hợp đồng: 12
- Trình độ đào tạo: Thạc sĩ: 02; Đại học: 37; Cao đẳng: 02.
- 100% CBGV, NV đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ
chuyên môn nghiệp vụ theo quy định trường chuẩn quốc gia.
- 100% giáo viên có đủ hồ sơ theo quy định (loại tốt 75%, khá 25%).
- 100% giáo viên lên lớp có bài soạn, giờ dạy đạt từ khá trở lên.
- Tỉ lệ CBGV đạt chuẩn 100%; trên chuẩn: 95,1%.
4
2.2.4. Cơ sơ vật chất
- Nhà trường có diện tích 3600m2. Phòng học: gồm 10 phòng học 2 tầng
kiên cố-chỉ đủ phòng học chính khóa cho 20 lớp học cả sáng và chiều, có đầy đủ hệ
thống tường rào, cổng trường.
- Nhà trường chưa có khu nhà Hiệu bộ, phòng thư viện, phòng học bộ môn,
phòng máy vi tính, hệ thống sân chơi, bãi tập thoáng mát.
Như vậy có thể nói, trường THCS Quảng Nham có điều kiện cơ sở vật chất
Nhà trường có đông học sinh (847 em), chất lượng học sinh tương đối đồng
đều, điều này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho giáo viên lựa chọn các em có năng
lực tốt, yêu môn sở trường tham gia vào đổi tuyển HSG.
2.2.6. Kết quả học sinh giỏi 2 năm học gần nhất
Số giải
Năm
2013-2014
2014-2015
Giải HSG cấp tỉnh
Nhất Nhì
Ba
KK
0
0
0
0
0
0
1
0
Giải HSG cấp huyện
Nhất
Nhì
Ba
+ Tuyên truyền thành tích của giáo viên, học sinh trong hội đồng và trong cộng
đồng.
2.3.2. Chỉ đạo phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi phải trở thành một nhiệm
vụ thường xuyên, liên tục ở mỗi giáo viên trong nhà trường
+ Không chỉ có giáo viên được giao nhiệm vụ trực tiếp ôn luyện đội tuyển học sinh
giỏi mới có trách nhiệm ôn mà tất cả giáo viên giảng dạy đều có trách nhiệm và
nghĩa vụ cũng như quyền lợi về bồi dưỡng học sinh giỏi trong từng tiết dạy.
+ Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ của tất cả Cán bộ, giáo viên trong
trường và được tiến hành thường xuyên, liên tục hết đợt bồi dưỡng này đến đợt
khác, năm học này sang năm học khác.
6
2.3.3. Xây dựng nội dung chương trình, kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi,
trong đó việc xây dựng kế hoạch phải cụ thể, rõ ràng chi tiết về hoạt động giáo dục
bồi dưỡng học sinh giỏi, bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của ngành phù hợp với thực
tiễn của nhà trường. Cần tập trung
+ Xây dựng kế hoạch phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ lớp 6 đến lớp 9.
+ Kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi trong 5 năm phải xây dựng kế hoạch theo dõi,
bàn giao cụ thể giữa các giáo viên khi nhận học sinh.
+ Xây dựng kế hoạch thành lập và bồi dưỡng đội tuyển trên cơ sở thực trạng của
trường, của địa phương. Trong bản kế hoạch cần làm rõ: Số lượng học sinh vào đội
tuyển; kế hoạch tuyển chọn; kế hoạch bồi dưỡng: Ai bồi dưỡng? Khi nào bồi
dưỡng? Bồi dưỡng ai? Bồi dưỡng như thế nào?.
+ Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi bám sát vào kế hoạch
của chuyên môn nhà trường và kế hoạch của cấp trên; chỉ đạo tổ viên được phân
công lên kế hoạch, nội dung, chương trình bồi dưỡng.
+ Giáo viên được phân công bồi dưỡng học sinh giỏi xây dựng nội dung chương
trình, kế hoạch bồi dưỡng bám sát vào kế hoạch của tổ chuyên môn và chuyên môn
TDTT cấp huyện, cấp tỉnh).
2.3.5. Bồi dưỡng phương pháp giảng dạy, nâng cao năng lực bồi dưỡng học
sinh giỏi cho giáo viên. Việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên cần tập trung vào những
việc sau
+ Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề: Trước hết giáo viên cần phải xác định
rõ việc tự học, tự rèn là yếu tố nội lực quyết định sự thành công. Giáo viên cần nắm
vững chương trình sách giáo khoa, chuẩn kiển thức kĩ năng môn học làm cơ sở cho
việc phát triển nâng cao kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi. Giáo viên có sự đầu tư,
nghiên cứu chương trình sách giáo khoa ngay từ trong hè để nắm bắt một cách
chuẩn xác kiến thức môn học. Bên cạnh việc nắm vững kiến thức cơ bản, giáo viên
còn phải nghiên cứu thêm các tài liệu tham khảo trong sách báo, trên mạng Internet
một cách có lựa chọn sau đó ghi vào sổ tư liệu những kiến thức cần thiết. Khi đã
nắm được kiến thức cơ bản một cách vững vàng giáo viên sẽ cảm thấy tự tin trong
mỗi bài học, bài giảng của mình và tích cực tham gia vào việc sinh hoạt trong tổ
chuyên môn.
+ Bồi dưỡng trong sinh hoạt tổ chuyên môn: Các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn
được tổ chức đều đặn ít nhất 2 lần/tháng. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ
trưởng cần thông báo cho giáo viên chuẩn bị trước nội dung thảo luận. Chú ý giải
quyết những vấn đề trọng tâm về kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi, giáo viên cùng
nhau trao đổi, chia sẻ những khó khăn và tìm ra những phương pháp giảng dạy phù
hợp với đối tượng học sinh. Qua buổi họp, tổ trưởng tổ chuyên môn cùng với giáo
viên đưa ra nhận định về việc giảng dạy trong tuần đồng thời cùng nhau thảo luận
bàn bạc xác định kiến thức trọng tâm của của từng bài ghi chép vào số chuyên môn
để từ đó đưa ra phương pháp giảng dạy cho phù hợp với nội dung bài cũng như đối
tượng học sinh của từng lớp.
8
+ Tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi: Các chuyên đề này đều do giáo
viên tự đăng kí dạy thực nghiệm cho tổ chuyên môn hoặc cả trường tới dự giờ rút
với đối tượng học sinh giỏi không; kiểm tra sách, vở ghi của học sinh giỏi để nắm
bắt việc học tập, làm bài theo yêu cầu của giáo viên.
9
+ Chỉ đạo giáo viên bộ môn tạo nhóm học sinh giỏi theo môn học để các em giúp
đỡ nhau, thảo luận, học hỏi lẫn nhau để cùng thực hiện tốt các yêu cầu mà giáo viên
giao cho.
2.3.7. Khuyến khích, động viên học sinh, tạo hứng thú cho các em say mê môn
học
+ Chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên về việc lựa chọn những em có khả năng, tư chất, trí
tuệ, lòng đam mê vào đội tuyển, cần khơi dậy niềm đam mê, yêu thích đối với môn
học của học sinh, tạo cho các em có động lực học tập.
+ Ngoài việc dạy kiến thức cho các em, cần phải giáo dục thêm tư tưởng đạo đức,
hình thành niềm tin ở các em.
+ Tuyên truyền, giáo dục các em có nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc học
tập trong đội tuyển; phải yêu thích môn học, say mê trong học tập và ham học hỏi;
phải cần cù, chăm chỉ rèn luyện, đọc nhiều tài liệu tham khảo để nâng cao kiến thức
cho bản thân.
2.3.8. Tổ chức kiểm tra, đánh giá nghiêm túc
+ Nhà trường tổ chức thi, kiểm tra ngay từ vòng đầu (sau khi học sinh đăng ký môn
thi) để chọn ra đội tuyển chính thức và bàn giao cho giáo viên ôn luyện.
+ Trong quá trình ôn nhà trường tiếp tục tổ chức thi khảo sát chất lượng các đội
tuyển học sinh giỏi (khoảng 01 tháng/lần) và đánh giá nghiêm túc từng đội tuyển về
mức độ của từng em học sinh để có biện pháp bồi dưỡng cũng như chọn lọc được
những em xứng đáng nhất đăng ký dự thi học sinh giỏi.
2.3.9. Sưu tầm, cung cấp, giới thiệu tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi, tăng
cường sử dụng trang thiết bị, đồ dùng dạy học
+ Giáo viên dạy ôn cần sưu tầm các bộ đề thi học sinh giỏi các cấp trong tỉnh và
các tỉnh khác thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em tiếp xúc làm quen
Chế độ khen thưởng được nhà trường áp dụng khen thưởng GV có học sinh giỏi
các cấp được tính theo đầu giải (tổng cộng số giải học sinh đạt được trong mỗi kì
thi).
+ Khen thưởng và vinh danh trong sổ truyền thống nhà trường những giáo viên,
học sinh có thành tích cao trong học tập, giáo viên có học sinh giỏi, giáo viên có
học sinh giỏi 3 năm, 4 năm, 5 năm liên tục.
+ Học sinh sau mỗi bài thi khảo sát đội tuyển học sinh giỏi hàng tháng, hàng kì đạt
điểm cao được giáo viên chủ nhiệm tuyên dương ngay trước tập thể lớp. Sau đó
nhà trường sẽ khen thưởng các em đạt điểm cao, đạt giải theo nghị quyết của ban
thi đua đầu năm học trong các buổi sinh hoạt tập thể toàn trường.
+ Cuối mỗi năm học trong các đợt tổng kết nhà trường đã tham mưu hội phụ
huynh học sinh, trích 1 phần nhỏ trong quỹ khuyến học của nhà trường tổ chức cho
các em đi tham quan các di tích lịch sử văn hoá như: Lăng Bác Hồ, Văn miếu
Quốc Tử Giám, đền Hùng... Qua những lần tham quan đó các em được mở mang
11
tầm hiểu biết đồng thời có thêm những kiến thức thực tế về các phong cảnh mà các
em được tận mắt ngắm nhìn.
2.3.11. Phối hợp với địa phương (đặc biệt là Hội cha mẹ học sinh và Hội
khuyến học xã) trong công tác tuyên truyền, khích lệ học sinh
+ Nhà trường, giáo viên thường xuyên phối hợp với các tổ chức Đoàn, đội, hội,
chính quyền ở địa phương quan tâm tạo điều kiện, động viên, khích lệ con em học
tập tốt hơn; trang bị cho con em đầy đủ sách vở và đồ dùng học tập; thường xuyên
liên lạc với nhà trường để nắm được tình hình học tập của con em mình.
+ Nhà trường phối hợp với Hội khuyến học, hội cha mẹ học sinh tạo nguồn lực
khuyến khích giáo viên ôn luyện, khuyến khích học sinh ôn thi học sinh giỏi.
+ Tổ chức các buổi sinh hoạt định kì cho các phụ huynh có con em đang tham gia
ôn luyện học sinh giỏi để họ trao đổi kinh nghiệm trong việc dạy bảo con em khi
học ở nhà, đồng thời tạo mối quan hệ tốt giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
xét kết quả học tập và biết được mức độ nắm kiến thức của học sinh..
+ Mở rộng kiến thức thông qua hoạt động làm các câu hỏi và bài tập. Đối với từng
bài giáo viên cần tổ chức như: Hướng dẫn học sinh định hướng các vấn đề cần giải
quyết, sau đó thảo luận nhóm để giải quyết vấn đề rồi rút ra nhận xét kết luận, cuối
cùng giáo viên đánh giá, nhận xét kết quả giải quyết vấn đề của học sinh đạt được ở
mức độ nào đối với từng câu hỏi và bài tập cụ thể diễn ra trên lớp học cũng như là
nhiện vụ được giao về nhà.
- Nâng cao kiến thức bồi dưỡng cho học sinh, tạo điều kiện cho các em phát
huy năng lực của mình.
- Sau mỗi buổi học, giáo viên dạy bồi dưỡng giao bài tập về nhà và hướng dẫn
cho các em tự học ở nhà.
- Sau mỗi chương hay chuyên đề giáo viên cho học sinh làm bài kiểm tra và
chấm, sửa bài chi tiết, từ đó thấy được khả năng của học sinh từ khâu trình bày đến
khâu vận dụng kiến thức đã học để làm bài kiểm tra.
2.5. Kết quả đạt được
Sau khi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm như đã trình bày ở trên vào thực tế nhà
trường, tôi thấy hiệu quả trong công tác bồi dưỡng HSG được nâng cao rõ rệt, số
lượng và chất lượng học sinh đã đạt được trong các cuộc thi cấp huyện và cấp tỉnh
về các môn thi tăng cao so với các năm trước đó. Nhà trường luôn đứng trong tốp
đầu về tỉ lệ học sinh đạt giải cao môn TDTT so với các trường trong huyện và đứng
trong tốp đầu trong cụm chuyên môn số 4 các môn văn hóa.
Kết quả học sinh giỏi đã đạt được trong năm học 2015-2016 tính đến thời điểm
tháng 4/2016 cụ thể là:
13
Số giải
Năm
1
15
14
6
7
14
15
14
12
27
Ghi
chú
20
17
48
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết trong sự
nghiệp phát triển giáo dục hiện nay nói chung và là nhiệm vụ của mỗi nhà trường.
hội hóa công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm tạo ra sức lôi cuốn, nâng cao đời
sống giáo viên.
- Bổ sung việc Ban hành chính sách hỗ trợ học sinh đạt giải nhất trong các kỳ
thi cấp huyện, hoặc giải nhất, nhì, ba cấp tỉnh (các môn văn hóa) thì được miễn học
phí và hỗ trợ kinh phí học tập 50.000đ/tháng
3.2.2. Đối với Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT
- Tham mưu thường xuyên cho UBND huyện, UBND tỉnh trong việc xây
dựng kế hoạch, điều chỉnh và ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ giáo viên, học
sinh.
- Hàng năm, tổ chức khảo sát chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các bộ
môn trên địa bàn toàn huyện để tuyển chọn giáo viên giỏi.
- Đề nghị Phòng GD&ĐT mở các lớp hội thảo, hỗ trợ tài liệu bồi dưỡng
HSG theo các chuyên đề ở các môn tổ chức thi HSG cấp huyện, cấp tỉnh.
- Có kế hoạch áp dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm về bồi dưỡng học sinh
giỏi nói chung và sáng kiến kinh nghiệm này vào các trường THCS trong địa bàn
huyện, tỉnh.
3.2.3. Đối với nhà trường
- Tổ chức xây dựng kế hoạch, phương án, thời gian ôn luyện, bồi dưỡng học
sinh giỏi theo kế hoạch của Phòng GD.
- Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi
của giáo viên và học sinh.
- Lập kế hoạch tuyển chọn, kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi xuyên suốt
trong năm học, không để bị gián đoạn trong hè.
- Phân công bồi dưỡng học sinh giỏi cho giáo viên vào cuối năm học để giáo
viên trong tháng nghỉ hè có điều kiện kèm cặp, hướng dẫn học sinh ôn thi (vào thời
gian rỗi).
- Tạo cơ chế linh hoạt về thời gian, địa điểm ôn tập và nguồn kinh phí cho
các đội tuyển ôn thi học sinh giỏi (thưởng theo giải như năm học 2015-2016 hoặc
cao hơn)
3.2.4. Đối với giáo viên dạy bồi dưỡng