Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lý luận văn học vào bài làm văn nghị luận văn học - Pdf 44

A. PHẦN MỞ ĐẦU
Là một GV, không ai trong chúng ta không mong muốn một ngày nào đó
những học sinh thân yêu gặt hái thành công trong học tập, đặc biệt là đối với các
GV dạy môn Ngữ văn ở trường Phổ thông. Bởi lẽ trong một thời đại mà tất cả
các môn Khoa học xã hội đều đang mất dần chỗ đứng, vì nhiều lí do khách quan
và chủ quan, học sinh còn ít em quan tâm yêu thích thì đó là niềm khích lệ vô
cùng lớn lao cho người dạy.
Vậy làm thế nào để HS đạt kết quả cao trong môn Ngữ văn ? Đây là câu hỏi
lớn, cũng là trăn trở của nhiều GV tâm huyết. Nhưng có một thực tế là: HS
chúng ta hiện nay khi viết văn NLVH có một thói quen cố hữu là phân tích rất
sâu những vấn đề nội dung tư tưởng mà quên đi những giá trị nghệ thuật, mà
những giá trị nghệ thuật này muốn lí giải cho đúng, cho hay phải nhìn từ góc độ
lí luận văn học. Hơn nữa, trong quá trình học môn Ngữ văn, nhất là khi làm bài,
nhận thức của các em HS còn hiện tượng hay hiểu sai hoặc nhầm lẫn các khái
niệm, thuật ngữ... Quan trọng hơn, từ đó dẫn đến HS chưa giải quyết được một
cách chính xác, đầy đủ các nội dung theo yêu cầu đề bài, hoặc viết rất sơ sài, mơ
hồ, chung chung.
Trong khi đó, những bài viết tốt thường là những bài mang tính lí luận cao.
Những bài viết đó đã phát hiện được vấn đề, cảm nhận sâu sắc, diễn đạt trôi
chảy, giàu cảm xúc. Thành quả ấy, phần lớn do các em được thu nhận và biết
vận dụng kiến thức LLVH vào quá trình làm bài. Sự thăng hoa trong cảm xúc,
sự trưởng thành trong suy nghĩ, sự đầy đủ trong kiến thức là các yếu tố quyết
định sự thành công trong bài làm của các em.
Qua thực tiễn giảng dạy, tôi nhận thấy rằng việc vận dụng kiến thức LLVH
vào làm bài là vô cùng cần thiết, thao tác này được ví như một nền móng vững
chắc cho bài làm, là chìa khóa giúp cho bài làm của các em sâu sắc hơn về ý
tưởng, chặt chẽ hơn về lập luận, thuyết phục hơn khi đưa ra luận cứ.
Xuất phát từ thực tế đó, nhằm giúp cho HS nắm được tầm quan trọng của
những kiến thức LLVH đối với bài làm văn NLVH từ đó hình thành cho các em
kĩ năng sử dụng kiến thức LLVH trong khi viết văn như một thói quen cần thiết,
tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Hướng dẫn Học sinh vận dụng kiến thức Lý luận

LLVH? Khi viết một bài văn NLVH, HS cần phải hiểu và nắm vững hệ thống
kiến thức lí luận đề lồng ghép, găm cài vào việc giải thích, đánh giá và diễn đạt
để ý kiến đưa ra khi bình luận hoặc phân tích, bình giảng có một cơ sở vững
chắc, có chiều sâu. Khi bài viết có kiến thức LLVH thì lập luận, hành văn diễn
đạt sẽ có chủ kiến, lý lẽ, lập luận bảo vệ những ý kiến bàn luận sẽ được đúng
đắn, khoa học và cảm xúc. Những kiến thức LLVH giúp HS phát hiện vấn đề,
phát hiện những tín hiệu thẩm mỹ mang mầu sắc khúc chiết và lô gic.
II.

THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

1. Đối với Giáo viên
Bên cạnh nhiều GV ý thức được tầm quan trọng của kiến thức LLVH đưa
vào bài làm văn thì một số GV chưa thực sự chú trọng vào kiến thức LLVH. Họ
quan niệm giờ dạy Ngữ văn chủ yếu dạy đọc - hiểu văn bản bởi điều này góp
phần lớn trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Tuy nhiên, sẽ toàn diện hơn
2


nếu GV một mặt bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ cho HS, mặt khác nâng cao nhận
thức, phát huy tối đa năng lực độc lập suy nghĩ ở HS bằng những thao tác tư duy
khái quát, trừu tượng để bài làm của các em tránh thiên về chủ nghĩa duy cảm.
Hơn nữa, nhiều GV chúng ta chưa thật sự đầu tư thỏa đáng trong các tiết dạy
phân môn LLVH để từ đó tích hợp với phân môn đọc- hiểu văn bản và làm văn.
Kiến thức GV đưa vào hời hợt, HS không nắm chắc, từ đó kĩ năng vận dụng
kiến thức LLVH vào bài làm là hạn chế, không muốn nói là không có.
2. Đối với Học sinh
Từ trước tới nay, nói tới LLVH, tâm lí chung của các em HS đều ngại, ngại
vì một ý nghĩ đầy ám ảnh rằng đây là mảng kiến thức khô khan, cho nên các em
không có tinh thần, không có hứng thú để học, nói gì là vận dụng vào để bài văn

bàn luận về vấn đề lý luận nhưng trong quá trình làm bài, Hs cần phải dùng kiến
thức LLVH vào lập luận, khi ấy bài viết sẽ chặt chẽ và có chiều sâu.
1.2: Tùy thuộc từng dạng đề mà vận dụng kiến thức LLVH
Việc vận dụng kiến thức LLVH phải hợp lý thì bài văn mới có sức nặng.
Chính vì vậy, tôi đã hướng dẫn HS tùy từng dạng đề để đưa vào những kiến thức
LLVH hợp lý
Ví dụ 1: Bình luận về truyện ngắn “Hai đứa trẻ” ( Thạch Lam)
HS có thể viết: “Một truyện ngắn hay không chỉ hấp dẫn ở cốt truyện mà nhà
văn phải chọn lọc được những tình huống độc đáo. Dường như nhà văn nào
cũng tìm cho mình một lối viết mang tính đặc thù. Bởi nghệ thuật là lĩnh vực
mang tính cá thể, không lặp lại ai, không lặp lại cả chính mình. Chính vì thế đến
với Thạch Lam ta thấy truyện của ông là loại truyện không có cốt truyện, một
loại truyện tâm tình...”
Ví dụ 2: Khi bình những câu thơ bất kì của bài thơ nào đó, tôi hướng dẫn HS
có thể vận dụng một số quan niệm về thơ của các nhà thơ xưa, nay, các nhà phê
bình, nghiên cứu để đưa vào bài làm của mình như:
- Bàn về ngôn ngữ trong thơ, Nguyễn Đình Thi viết: “Điều kì diệu của thơ là
mỗi tiếng, mỗi chữ ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng tên sự vật, bỗng tự
phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh
không ngờ, tỏa ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất
của câu thơ là sức gợi ấy”
- “Thơ luôn giữ được phẩm chất đẹp và sức sống thanh xuân của mình nhờ ở sự
sáng tạo” (Hà Minh Đức)
- “Thơ không cần nhiều từ ngữ. Nó cũng không quan tâm đến hình xác của sự
sống. Nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông
qua linh hồn thi sĩ” (Nguyễn Đăng Mạnh)
- “ Thích một bài thơ thực chất là thích một con người đồng điệu” (Hoài Thanh)
...
Ví dụ 3: Khi bình những câu thơ hay, không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra cái
hay, cái đẹp của từ ngữ, hình ảnh mà còn phải đan xen những lí lẽ có tính lí luận

cái nhìn đầy cảm thông đau xót của Nam Cao đối với những con người bị tước
đoạt mất cái quyền được làm người...”...
2. Những kiến thức LLVH cần thiết cung cấp cho HS
Ngoài những kiến thức trong SGK mà HS đã tìm hiểu và nghiên cứu, GV
cần phải cung cấp thêm một số khái niệm, định nghĩa và những vấn đề có liên
quan đến lý luận để giúp HS có cái nhìn phong phú về LLVH:
a. Những hiểu biết về thơ và văn xuôi:
- Bản chất của thơ là thể hiện cảm xúc bằng phương pháp trữ tình, thơ không chỉ
diễn tả những rung cảm ngọt ngào, thơ mộng, trữ tình mà thơ còn diễn tả những
trạng thái trần trụi, mộc mạc, khỏe khoắn một cách giản dị, chân chất.
- Câu thơ hay là câu thơ có thể níu giữ được lòng người. Một từ được nhà thơ
chọn lọc là một từ không thể thay thế bất kì từ khác vì: Văn học là nghệ thuật
của ngôn từ, không có ngôn ngữ không có văn học, không có từ hay không có “
nhãn tự”.
5


- Mỗi rung động của nhà thơ là một xúc cảm mãnh liệt dồn tụ trên đầu ngọn bút,
song rung động ấy bao giờ cũng phụ thuộc vào thế giới quan, nhân sinh quan
của nhà thơ.
- Nhịp điệu trong văn xuôi là nhịp điệu không bền vững, luôn thay đổi và
chuyển chỗ không ngừng.
- Về hình thái biểu hiện của văn xuôi là tiếng nói đi sát và gần như trùng với
tiếng nói hàng ngày, đó là tiếng nói tự nhiên, giàu chất liệu và sức sống hiện
thực.
- Bất kì tác phẩm văn xuôi nào có sức hấp dẫn kì diệu đều có cái thi vị của chất
thơ. Những đoạn văn hay bao giờ cũng có màu sắc của chất thơ.
b. Những hiểu biết về chất thơ trong đời sống và văn học:
- Đặc điểm của thơ là gắn với sự rung động và cảm xúc, không có cảm xúc
không có thơ. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy

những câu hỏi hoặc không trả lời những câu hỏi.
- Tính đa nghĩa của từ ngữ tạo nên vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ ca. Một tác phẩm
văn chương vượt qua được sự băng hoại của thời gian là tác phẩm luôn làm nảy
sinh nhiều cách hiểu khác nhau.
- Khái niệm: Điển hình nghệ thuật, cảm hứng lãng mạn chủ nghĩa, cảm hứng
hiện thực chủ nghĩa, cảm hứng hiện thực xã hội chủ nghĩa, tính dân tộc, tính
nhân dân...
3. Một vài ví dụ có vận dụng kiến thức LLVH khi viết văn
Ví dụ 1: Cuộc đời tự nó là một nửa của trang văn, nửa kia là người nghệ sĩ
và Thạch Lam là một trong những tác gia văn học xuất sắc. Tuy có chân trong
Tự Lực Văn Đoàn nhưng trái tim Thạch Lam luôn thức dậy cùng nhịp với kiếp
người nghèo khổ, xác xơ, lắt lay, tù đọng. Hiện thực cuộc sống ấy là mảnh đất
màu mỡ để ông gieo mầm nghệ thuật và bao tác phẩm đã được hoài thai, nhen
nhóm. “ Hai đứa trẻ” là trang viết tài hoa tinh tế của ông.
Ví dụ 2: “ Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn in đậm dấu ấn phong cách nghệ
thuật của Thạch Lam. Phong cách nghệ thuật là cá tính sáng tạo, cái “ tạng”
riêng, là nét riêng độc đáo của mỗi người nghệ sĩ để họ có thể tự khẳng định vị
thế riêng trên văn đàn, thi đàn dân tộc và nhờ nét riêng đó mà người đọc nhận
biết được tác giả này, tác giả kia. Phong cách nghệ thuật thường thể hiện trên cả
hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Phong cách một khi đã xác định thì
định hình rõ nét, rất ít biến đổi. Đến với trào lưu văn học lãng mạn hiện đại,
Thạch Lam cũng tự khẳng định mình bằng một phong cách riêng khó lẫn- văn
nhân sáng tạo ra loại truyện không có cốt truyện đặc biệt, mỗi truyện như một
bài thơ trữ tình đượm buồn, với giọng điệu nhỏ nhẹ, tâm tình, ngôn ngữ tinh tế,
giàu hình ảnh, giàu sức gợi, ở đó chất hiện thực và lãng mạn đan xen. Truyện
ngắn “ Hai đứa trẻ” chính là linh hồn của phong cách ấy.
Ví dụ 3: Nhân vật điển hình là con người được miêu tả trong văn học nhưng
mang được đặc tính chung tiêu biểu cho một bộ phận, một tầng lớp người hay
một giai cấp trong xã hội, đồng thời, con người đó phải có cá tính riêng biệt độc
đáo không giống ai và được nhà văn miêu tả một cách sinh động trên trang viết,

đến nghệ thuật sử dụng từ ngữ của tác giả trong tác phẩm, nhất là những tác
phẩm trữ tình.
Chuyên đề 4: “ Thể loại văn học- tác phẩm tự sự và tác phẩm trữ tình”
giúp HS có những hiểu biết về đặc trưng của từng thể loại khác nhau, để khi làm
bài văn có những xử lí thích hợp. Nhất là với tác phẩm trữ tình, khi phân tích,
HS thường chỉ quan tâm bài thơ đó nói gì chứ ít quan tâm cách nói thế nào, ít
khi thấy được hiện tượng độc đáo thường thấy trong thơ là “ nhãn tự”, “ thi
nhãn”...Nếu có kiến thức LLVH sâu, khi làm bài các em sẽ có những lí giải sâu
sắc, bài làm sẽ chất lượng hơn.
Bốn chuyên đề này tôi sẽ tập trung dạy vào những tiết học LLVH. Ngoài ra,
tôi cũng sẽ chọn những thời điểm thích hợp: tích hợp với đọc- hiểu văn bản và
làm văn để lồng, xen kẽ vào bởi những tiết LLVH thường rơi vào thời điểm cuối
kì, cuối năm mà lúc đó HS sẽ tiếp thu một cách thụ động và uể oải.

8


2. Lấy dẫn chứng tiêu biểu trong quá trình học để làm rõ vấn đề
LLVH có tính chất của một môn lí thuyết. Vì vậy, để những kiến thức đó
không quá xơ cứng và khô khan, khó hiểu, xa lạ với HS, để HS vận dụng một
cách nhuần nhuyễn, GV cần đưa ví dụ vào trong quá trình dạy phân môn làm
văn.
Ví dụ 1: Kiến thức LLVH về giá trị của văn bản văn học, tôi lấy những ví
dụ để định hướng cho HS nắm bắt rõ vấn đề. Theo SGK, TPVH có bốn giá trị
cơ bản: thẩm mĩ, nghệ thuật, nhận thức và giáo dục, từ đó tôi giúp các em vận
dụng kiến thức LLVH để làm bài văn như sau:
- Những khía cạnh giá trị thẩm mỹ của TPVH sẽ giúp các em rất nhiều trong
việc phân tích vẻ đẹp của những áng văn, đoạn thơ. Ví dụ: vẻ đẹp của khí phách,
phong thái hiên ngang, bất khuất của nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn “
Chữ người tử tù”; vẻ đẹp của phong cảnh nên thơ, mơ mộng, thấm đẫm tình

vật. Các em cần phân tích được quá trình, diễn biến tâm lí của những nhân vật
ấy.
- Kiến thức về giá trị giáo dục của văn học có thể giúp HS có những định
hướng tư duy để rút ra những luận điểm sâu sắc về ý nghĩa nhân văn của tác
phẩm. Những nội dung này thường thích hợp trong những đoạn văn có tính chất
tổng kết hoặc để ở phần kết bài.
Ví dụ 2: Phần kiến thức LLVH về những biểu hiện của phong cách văn học
sẽ là cơ sở để có thể có những định hướng trong việc nêu lên những nhận xét về
tác phẩm một cách chính xác và có sức thuyết phục cao. Phân tích, bình luận
văn học không có gì khác chính là nêu bật được những biểu hiện của phong
cách văn học của mỗi tác giả. Vậy thì HS chỉ cần căn cứ vào những khía cạnh
biểu hiện của phong cách văn học đã nêu trong SGK , từ đó “ soi” vào tác phẩm
cần phân tích. Cụ thể, tôi hướng dẫn HS hãy tìm ra những giá trị độc đáo của
mỗi nhà văn trong:
- Cách nhìn, giọng điệu.
- Việc lựa chọn đề tài, xác định chủ đề, tìm hình ảnh, sắp xếp sự phát
triển của cốt truyện.
- Việc sử dụng ngôn ngữ, thể loại.
Trong việc nêu phong cách văn học của một tác giả, tôi hướng dẫn HS nên
phát huy tư duy so sánh. Ví dụ như: nếu gặp đề yêu cầu phân tích về cảm xúc
tình yêu trong bài thơ hoặc một đoạn trích bài thơ “ Tương tư” (Nguyễn Bính),
sau khi nêu được những luận điểm về cảm xúc yêu đương trong thi phẩm này,
các em còn biết so sánh để làm bật lên sự khác biệt về cách thể hiện cảm xúc
yêu đương của Nguyễn Bính với cách thể hiện tình yêu trong bài “ Vội vàng”
(Xuân Diệu) thì chắc chắn bài viết của các em sẽ sâu sắc.
3. Tích hợp linh hoạt với phân môn đọc - hiểu văn bản và làm văn

Ở môn Ngữ văn, với sự góp mặt của các phân môn: Đọc- hiểu VB, văn học
Sử, LLVH thì: Người GV cần phải biết giải quyết mối quan hệ nội tại giữa các
phân môn bằng cách tích hợp. Lấy VB VH làm trung tâm, điều quan trọng GV

tuyên ngôn về vai trò, sứ mệnh của người cầm bút. Người cầm bút là người có
đủ tinh tế để phát hiện ra những cái đẹp và có đủ khả năng để khiến những cái
đẹp ấy cháy sáng. Khi ấy, HS sẽ thể hiện sâu sắc hơn trong bài làm văn của
mình.
4. Kiểm tra cách vận dụng kiến thức LLVH vào bài văn thông qua hình
thức kiểm tra, đánh giá
Sau khi HS đã có những kiến thức LLVH nhất định, tôi sẽ yêu cầu trình bày
lại kiến thức các em đã nắm được thông qua những hình thức như: thuyết trình
trước tiết học, viết bài kiểm tra trên giấy... Khi đó, HS sẽ tái hiện kiến thức theo
cách hiểu của mình, GV sẽ bổ sung nếu chưa đầy đủ, sửa chữa nếu hiểu chưa
đúng.
Trên cơ sở nắm vững lý thuyết, tôi sẽ đưa ra đề bài cụ thể, yêu cầu HS phải
vận dụng được ít nhất 3 vấn đề LLVH trong bài làm của mình.

11


Ví dụ: Khi bình câu thơ: “ Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên” (Đây thôn Vĩ
Dạ - Hàn Mặc Tử), tôi yêu cầu HS trong bài làm của mình phải có:
- Vận dụng 1 số quan niệm về thơ của các thi nhân xưa, nay để đan cài
vào quá trình phân tích, bình giảng
- Không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra cái hay, cái đẹp của từ ngữ, hình ảnh,
biện pháp tu từ của câu thơ mà phải đưa vào kiến thức LLVH đặc trưng của thơ:
“ Thơ là tiếng nói của trái tim, thơ phát khởi từ trái tim nhà thơ, thơ cũng chính
là âm vang cất lên từ hiện thực của đời sống và trái tim nhà thơ cùng rung lên
nhịp điệu của cuộc sống muôn người.”
- Đưa vào một số nhận định hay của các nhà nghiên cứu, phê bình về
câu thơ này của Hàn Mặc Tử để tăng sức nặng cho lời bình của mình.
5. Hướng dẫn HS vận dụng kiến thức LLVH vào trong phần mở bài, kết
bài và chuyển luận điểm trong bài văn

Trong bài làm của mình, HS thường yếu ở khâu chuyển luận điểm. Có nhiều
cách chuyển luận điểm, tôi thường hướng dẫn HS chuyển luận điểm bằng việc
vận dụng kiến thức LLVH. Việc làm này giúp HS hình thành 2 ý thức: Phải có
chuyển luận điểm và chuyển bằng kiến thức LLVH. Và chắc chắn đấy là những
đoạn chuyển luận điểm ấn tượng.
Ví dụ 1: Nhưng “ thơ là tiếng lòng” (Diệp Tiếp). Thơ là hiện thực tâm trạng,
là nỗi lòng của một ai đó cất lên trong một hoàn cảnh nào đó. “Đây thôn Vĩ Dạ”
là tiếng lòng của Hàn Mặc Tử khi hướng về cảnh và người thôn Vĩ. Vì thế, câu
thơ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” chính là lời hỏi của thi nhân, là sự phân
thân của chủ thể trữ tình [...]
Ví dụ 2: Khi chuyển sang luận điểm: Tiếng nói nhân đạo không dừng ở sức
đồng cảm tố cáo mà chứa đựng những giá trị riêng hết sức sâu sắc, mới mẻ (Khi
phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao), tôi hướng
dẫn HS chuyển bằng một câu nói chứa đựng kiến thức LLVH: “Một nhà nghệ sĩ
chân chính phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê Khốp) và Nam Cao đích
thực là nghệ sĩ của người nông dân khi ông “cúi mình xuống tận đáy” (Hugo) để
cứu vớt cuộc đời họ, đồng cảm xót thương cho họ và đặc biệt nâng niu, trân
trọng khát vọng sống mãnh liệt của người lao động.
V.

KIỂM NGHIỆM

Qua kinh nghiệm của bản thân, sau 4 năm tiến hành hướng dẫn HS vận dụng
kiến thức LLVH vào bài làm văn, tôi nhận thấy kết quả từng năm học rất khả
quan.
Đối với GV, thời gian đầu tư giáo án cần kĩ lưỡng và có sự chỉnh sửa theo
từng năm học. Cách thức tôi đưa ra kiến thức LLVH cho các em và hướng dẫn
các em đưa vào bài làm hợp lý đã giúp các em không còn ngại những kiến thức
LLVh khô khan, khó hiểu nữa.
Trong 4 năm qua, tôi đã trực tiếp áp dụng đề tài này lần lượt qua 3 lớp: 11T3


51

15

35

2

5

6

15

27

62

10

23

0

0

Bảng số liệu 2: Lớp 11T1- 12T1- sĩ số 44
XẾP LOẠI ( 2012-2013)
GIỎI


0

7

16

25

56

12

28

0

0

Bảng số liệu 3: Lớp 11C2- 12C2- sĩ số 48
XẾP LOẠI ( 2014-2015)
GIỎI

KHÁ

TB

XẾP LOẠI ( 2015-2016)
YẾU



54

10

21

0

0

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Đề tài được nghiên cứu xuất phát từ những vấn đề nảy sinh trong thực tế
giảng dạy. Vấn đề còn nhiều những kiến thức cần có sự đầu tư chuyên sâu hơn
nữa của GV trong quá trình giảng dạy.
Để phát huy hơn nữa hiệu quả hiệu quả của việc hướng dẫn HS vận dụng
kiến thức LLVH vào bài làm văn NLVH, chúng ta cần làm tốt một số điểm sau:
- Đối với GV: Mỗi GV cần phải tu dưỡng, rèn luyện năng lực nghiên cứu,
năng lực xây dựng thiết kế giáo án, năng lực tổ chức các hoạt động học tập và
giảng dạy thật nhuần nhuyễn, kết hợp tốt giữa lý thuyết và thực hành.
- Đối với HS: Cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về LLVH, có ý
thức chủ động vận dụng thường xuyên kiến thức LLVH vào bài làm văn NLVH.
- Đối với cấp quản lí: Thường xuyên chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn theo
hướng đổi mới, áp dụng các PPDH tích cực, tạo điều kiện cơ sở vật chất để nâng
14


cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường. Khuyến khích, động
viên kịp thời các GV tích cực đầu tư hướng dẫn HS làm văn NLVH hiệu quả
hơn nữa.


2

1. Đối với giáo viên

2

2. Đối với học sinh
3
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

3

1. Vận dụng kiến thức LLVH vào làm bài văn

3

2. Những kiến thức LLVH cần thiết cung cấp cho HS

5

3. Một vài ví dụ có vận dụng kiến thức LLVH khi viết văn

7

IV. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

8

1. Dạy kiến thức LLVH theo từng chủ đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status