SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRIỆU THỊ TRINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ TRONG DẠY
ÔN LUYỆN VĂN BẢN VĂN HỌC Ở TRƯỜNG
THPT THEO LOẠI THỂ
**************************
Người thực hiện : Mai Xuân Huấn
Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc môn : Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2016
MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU
1
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
3
2.1. Cơ sở lí luận…………………………………………………………………. 3
2.1.1 Xây dựng một chuyên đề dạy học phải tuân theo những yêu cầu, quy trình và
Dạy học theo chuyên đề theo tài liệu hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo
đã được ứng dụng ở nhiều bộ môn và thu được nhiều kinh nghiệm tốt có thể ứng
dụng rộng rãi hơn. Trong dạy học bộ môn Ngữ văn, dạy học theo chuyên đề là một
trong những phương hướng khắc phục hạn chế của chương trình hiện hành. Nhiều
giáo viên cũng đã áp dụng cách thức này, đặc biệt ở phần dạy học các văn bản văn
học. Tuy nhiên đó vẫn là những kinh nghiệm riêng của từng giáo viên mà chưa có
được sự ứng dụng rộng rãi, các tài liệu bộ môn về dạy học theo chuyên đề còn
thiếu. Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi tìm được cuốn Chuyên đề ôn tập
và luyện thi Ngữ văn 12 của tác giả Khuất Thế Khoa (NXB Hà Nội, 2009), nhưng
tác giả vẫn biên soạn theo giai đoạn văn học, việc biên soạn chuyên đề kết hợp giai
đoạn và loại thể vẫn chưa được chú ý.
Chọn đề tài Xây dựng chuyên đề trong dạy ôn luyện văn bản văn học ở
trường THPT theo loại thể chúng tôi vận dụng cách dạy học theo chuyên đề để
xây dựng các chuyên đề ôn luyện các văn bản văn học qua cả ba khối lớp 10, 11,
12. Qua đó có một cái nhìn hệ thống về các thể loại chủ yếu trong các giai đoạn
văn học được đưa vào giảng dạy trong chương trình THPT. Trong khuôn khổ một
đề tài Sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi nêu ra các chuyên đề sẽ thực hiện ở từng
khối lớp và trình bày trên những nét lớn quá trình thực hiện nội dung 1 (Ôn luyện
về các văn bản truyện ngắn) của chuyên đề Ôn luyện về các văn bản truyện Văn
học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu xây dựng các chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng dạy học các
thể loại văn bản văn học trong chương trình THPT.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu hệ thống các văn bản văn học được đưa vào giảng dạy trong
chương trình THPT (theo thể loại, theo giai đoạn) để xây dựng các chuyên đề
nhằm giúp người học nắm vững giá trị của văn bản, biết ứng dụng để đọc hiểu các
dạng văn bản cùng thể loại, biết vận dụng để giải quyết các dạng đề nghị luận văn
kĩ năng cho học sinh.
2.1.1.2. Quy trình xây dựng chuyên đề
- Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa và những ứng dụng
phương pháp dạy học trong thực tiễn, người dạy xác định các nội dung kiến thức
liên quan với nhau, có những điểm tương đồng được thể hiện ở một số bài/ tiết
hiện hành, từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành một chuyên đề dạy
học. Mỗi chuyên để có thời lượng ít nhất là 2 tiết.
- Xác định chuẩn kiến thức và kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành
và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học
tích cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh
theo chuyên đề đã xât dựng.
- Xây dựng nội dung chuyên đề : Giáo viên lựa chọn các nội dung của
chuyên đề từ các bài/ tiết trong sách giáo khoa và tham khảo các tài liệu khác để
xây dựng nội dung chuyên đề.
Vấn đề cần giải quyết trong chuyên đề có thể là một trong các loại sau: Vấn
đề tìm kiếm, xây dựng kiến thức mới; vấn đề kiểm nghiệm, ứng dụng kiến thức;
vấn đề tìm kiếm, xây dựng, kiểm nghiệm và ứng dụng kiến thức mới.
Tùy nội dung kiến thức; điều kiện thực tế của địa phương, nhà trường; năng
lực của giáo viên và học sinh, có thể xác định một trong các mức độ sau:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện
cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả
làm việc của học sinh.
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn
đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần.
Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát
hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa chọn
giải pháp. Học sinh thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh
thái độ và những phẩm chất, năng lực của học sinh có thể hình thành và phát triển
trong dạy học chuyên đề chỉ cần trình bày một lần.
Các câu hỏi/bài tập tương ứng với mỗi loại/mức độ yêu cầu được mô tả dùng
trong quá trình tổ chức hoạt động học của học sinh gồm : nhận biết, thông hiểu,
vận dụng, vận dụng cao.
III. Tiến trình dạy học chuyên đề được thiết kế thành các hoạt động thể hiện
tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được lựa chọn.
1. Nội dung 1: Tên nội dung ( Thời lượng)
Hoạt động 1. ( Thời lượng)
Hoạt động 2. ( Thời lượng)
Hoạt động 3. ( Thời lượng)
……….
2. Nội dung 2: Tên nội dung ( Thời lượng)
Hoạt động 1. ( Thời lượng)
Hoạt động 2. ( Thời lượng)
Hoạt động 3. ( Thời lượng)
……….
2.1.2. Hệ thống các văn bản văn học được đưa vào chương trình, sách giáo
khoa thuận lợi cho việc xây dựng các chuyên đề dạy học.
Qua thực tiễn giảng dạy bộ môn ở các khối lớp chúng tôi nhận thấy hệ thống
các văn bản văn học được đưa vào chương trình rất thuận lợi cho việc xây dựng
các chuyên đề dạy học theo loại thể:
- Chương trình lớp 10:
+ Bộ phận văn học dân gian tập trung vào các loại thể: sử thi, truyền thuyết, cổ
tích, truyện cười, ca dao.
+ Bộ phận văn học viết trung đại tập trung vào các loại thể: thơ Đường luật, phú
cáo, truyện thơ.
- Chương trình lớp 11:
2.3.1. Hình thành các chuyên đề cụ thể cho các khối lớp.
Từ thực trạng trên, chúng tôi nhận thấy việc ôn luyện về các văn bản văn
học theo chuyên đề là cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu chương trình và sách giáo
khoa từng khối lớp, chúng tôi tổng hợp và hình thành các chuyên đề cụ thể sau:
*Khối 10:
- Chuyên đề ôn luyện về một số thể loại văn học dân gian
+ Nội dung 1: Văn bản tự sự dân gian (sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười)
+ Nội dung 2: Văn bản trữ tình dân gian (ca dao)
- Chuyên đề ôn luyện về một số thể loại văn học trung đại
+ Nội dung 1: Thơ Đường luật
+ Nội dung 2: Các thể loại khác của văn học trung đại (phú, cáo, truyện truyền kì,
ngâm khúc)
- Chuyên đề truyện thơ: Truyện Kiều của Nguyễn Du
* Khối 11:
- Chuyên đề ôn luyện về các văn bản truyện văn học Việt Nam giai đoạn 1930 1945.
+ Nội dung 1: Văn bản truyện ngắn
+ Nội dung 2: Đoạn trích tiểu thuyết
- Chuyên đề ôn luyện về các văn bản thơ ca văn học Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945.
+ Nội dung 1: Thơ mới
+ Nội dung 2: Thơ ca cách mạng
*Khối 12:
- Chuyên đề ôn luyện về các văn bản thơ ca văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945
đến hết thế kỉ XX.
+ Nội dung 1: Thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Pháp
+ Nội dung 2: Thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Mĩ
+ Nội dung 3: Thơ ca thời kì đổi mới (những năm 80)
- Chuyên đề ôn luyện về các tác phẩm truyện văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945
học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề
với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.
III. Tiến trình thực hiện chuyên đề.
HOẠT ĐỘNG I : ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI VÀ
TRUYỆN NGẮN GIAI ĐOẠN 1930 – 1945.
Giáo viên vận dụng các câu hỏi gợi mở cho học sinh thảo luận và thuyết
trình về đặc điểm của văn bản truyện, đặc điểm riêng nổi bật của thể loại truyện
ngắn hiện đại và truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945. Đây là bước cần thiết giúp học
sinh có cái nhìn khái quát về đặc trưng thể loại, định hình những nét riêng của thể
loại từ đó biết vận dụng để tiếp nhận, củng cố kiến thức của từng văn bản cụ thể.
* Đặc điểm văn bản truyện ngắn hiện đại:
- Truyện ngắn hiện đại phát triển theo nhiều hướng khác nhau, tuỳ theo cách sử
dụng các yếu tố cốt truyện, nhân vật, trần thuật và kết cấu của truyện. Có truyện
ngắn, cốt truyện dựa vào các sự kiện độc đáo, bất ngờ; có truyện ngắn, tâm lí
hướng vào “hành động bên trong”, chú ý đến diễn biến tâm trạng hơn là sự kiện
(thường gọi là “phi cốt truyện”); có truyện ngắn kể sự kiện hoang tưởng, hư ảo; có
truyện ngắn kể các sự kiện “đời thường”.
- Về dung lượng, truyện ngắn thường có dung lượng nhỏ. Nhà văn chỉ cắt lấy một
lát, chọn lấy một khoảnh khắc đời sống để xây dựng nên tác phẩm của mình.
- Về kết cấu, truyện ngắn hiện đại thường không kể theo trật tự tự nhiên của sự
kiện mà bắt đầu ở giữa hay đoạn cuối, sử dụng lối hồi thuật, hồi tưởng, vận dụng
các hình thức ghép nối tạo hiệu quả đối sánh.
- Truyện ngắn hiện đại còn có xu hướng tổng hợp, đan xen, xâm nhập về mặt loại
hình giữa các thể loại (truyện ngắn với kịch, với tiểu thuyết hoặc với thơ). Sự đan
xen, xâm nhập như thế tạo nên các dạng truyện khác nhau : truyện ngắn giàu tính
kịch (truyện ngắn Nguyễn Công Hoan), truyện ngắn giàu tính trữ tình (truyện ngắn
Thạch Lam), truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết (Chí Phèo của Nam Cao)…
* Truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945:
văn học cụ thể.
* Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
- Về tác giả:
+ Con người đôn hậu, có quan niệm về văn chương lành mạnh, tiến bộ.
+ Có biệt tài về truyện ngắn: truyện không có cốt truyện, tập trung ở cảm xúc
mong manh, mơ hồ của nhân vật; viết nhiều về những con người nhỏ bé, bất
hạnh…
- Về tác phẩm:
+ Bức tranh đời sống phố huyện lúc chiều tối.
+ Diễn biến tâm trạng nhân vật Liên (qua ba cảnh: lúc chiều tối, phố huyện về
đêm, khi đợi xem chuyến tàu đi qua).
+ Gía trị hiện thực và nhân đạo.
+ Thành công về nghệ thuật : truyện ngắn giàu chất thơ.
* Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
- Về tác giả:
+ Nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp.
+ Phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác.
- Về tác phẩm:
+ Hình tượng nhân vật Huấn Cao (vẻ đẹp tài năng, thiên lương, khí phách).
+ Hình tượng nhân vật quản ngục (qua những ứng xử với Huấn Cao).
+ Cảnh cho chữ - cảnh tượng xưa nay chưa từng có.
+ Ý nghĩa tư tưởng và thành công về nghệ thuật (truyện ngắn giàu kịch tính).
* Chí Phèo (Nam Cao)
- Về tác giả:
+ Đề cao giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học, coi đó là yêu cầu tất yếu của một
tác phẩm hay, có giá trị.
+ Có khuynh hướng tìm vào nội tâm, đi sâu vào thế giới tinh thần của con người;
đặc biệt sắc sảo trong việc phân tích và diễn tả những trạng thái, những quá trình
Đề 3 : Phân tích tình huống truyện trong truyện Chữ người tử tù
* Chí Phèo
Đề 1 : Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Chí Phèo buổi sáng sau khi gặp thị
Nở.
Đề 2 : Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo.
Đề 3 : Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện Chí Phèo.
* Một số đề tổng hợp, so sánh
Đề 1 : Tương quan ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và
Hai đứa trẻ (Thạch Lam).
Đề 2 : Suy nghĩ về giá trị nhân đạo trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chí Phèo
(Nam Cao)
Đề 3 : Trong bài Khoảnh khắc truyện ngắn nhà văn Bùi Hiển nhận định: “Khoảnh
khắc, đúng vậy, phải là cái “khoảnh khắc cốt yếu”, khi nhân vật đặt trong một
hoàn cảnh nhất định, tất phải bộc lộ tính cách chủ yếu của mình, cái tính cách chi
phối cách sống, cách nghĩ, cách ứng xử, đường đi nước bước và số phận của đời
mình” (Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1; Nhà xuất bản Giáo dục, 2008)
Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên và phân tích cái “khoảnh khắc” trong
tuyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân và Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
Trong hoạt động này, giáo viên cũng có thể tổ chức cho học sinh ôn luyện
các văn bản theo hướng rèn luyện các dạng đề nghị luận về văn bản truyện (dựa
trên những đặc trưng nổi bật của thể loại):
* Dạng đề phân tích, cảm nhận về nhân vật: Phân tích vẻ đẹp tâm hồn nhân vật
Liên, phân tích bi kịch của nhân vật Chí Phèo, phân tích vẻ đẹp hoàn mĩ của hình
tượng nhân vật Huấn Cao.
* Dạng đề phân tích một khía cạnh nội dung đặc sắc của văn bản : Phân tích giá trị
nhân đạo trong truyện Hai đứa trẻ; phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong
truyện Chí Phèo; phân tích quan niệm của Nguyễn Tuân về cái Đẹp trong truyện
Chữ người tử tù…
là một cô gái có tâm hồn nhạy cảm và rất tinh tế. Cảnh chiều tàn được khắc họa với
rất nhiều hình ảnh và màu sắc: phương Tây đỏ rực như lửa cháy, những đám mây
ánh hồng như hòn than sắp tàn, dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên
nền trời…Phép tu từ so sánh được dùng liên tiếp để cụ thể hóa rõ nét vẻ đẹp hùng
vĩ, tráng lệ của bầu trời chiều bùng lên trong khoảnh khắc trước khi tắt, diễn tả một
cách gợi cảm bóng chiều theo bước đi của thời gian chùm lên không gian, nó
nhuộm đỏ trời, nhuộm hồng những đám mấy và nhuộm đen dãy tre làng rồi sa
xuống mặt đất. Tất cả những miêu tả đó gợi một cảm giác buồn man mác, khiến
Liên giật mình hoảng hốt: “Chiều, chiều rồi”. Cùng với đó, là những âm thanh
quen thuộc: văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, muỗi đã bắt đầu
vo ve, tiếng trống thu không…Tác giả đã dùng nghệ thuật lấy động tả tĩnh kết hợp
với các từ láy để nhấn mạnh âm thanh của cuộc sống con người đang tắt dần để
nhường chỗ cho bản nhạc đồng quê. Ngoài âm thanh, còn có mùi vị đó là mùi âm
ẩm bốc lên của rác rưởi, mùi cát bụi, mùi riêng của đất của quê hương này. Tất cả
những điều này đã gieo vào tâm hồn Liên cái buồn của buổi chiều quê, thấm thía
vào tâm hồn ngây thơ của chị, chị thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của
ngày tàn. Chính sự giao hòa giữa tâm hồn Liên với thiên nhiên đã giúp nhà văn vẽ
nên một bức tranh đồng quê quen thuộc, gần gũi, bình dị, nghèo nàn mà vẫn thấm
đượm hồn quê.
Liên luôn khát khao một cuộc sống tốt đẹp và có ý nghĩa hơn. Điều này
được thể hiện qua cảnh đợi tàu của hai chị em Liên. Đêm nào, Liên cũng thao thức
đợi chuyến tàu đi qua như “mong đợi một cái gì tươi sáng” cho sự sống nghèo khổ
hằng ngày. Hình ảnh chuyến tàu đêm với ánh sáng của đèn ghi chiếu sáng cả
đường phố huyện khác hẳn với những khe sáng, hột sáng, chấm sáng của bác phở
Siêu, ngọn đèn của chị Tí…nơi phố huyện tối tăm. Âm thanh của đoàn tàu thật rộn
rã, đó là tiếng còi xe lửa vọng lại, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tiếng hành khách ồn
ào khe khẽ…tất cả gợi sự sôi động, nhộn nhịp, tưng bừng khác hẳn tiếng côn trùng
hoang dã, tiếng muỗi vo ve, tiếng ếch nhái kêu ran và tiếng trống thu không của
chốn Hà thành nhộn nhịp, huyên náo. Nhưng tương lai của Liên thì mờ mịt lắm,
còn hiện tại thì bóng tối tràn đầy. Tuy vậy, nhưng trong Liên lúc nào cũng tồn tại
những ước mơ, hoài bão về một cuộc sống mới mà ở đó có đầy đủ ánh sáng và âm
thanh chứ không phải là một nơi tĩnh lặng, tù túng như phố huyện này. Thạch Lam
đã dẫn dắt câu chuyện đi theo mạch tâm trạng của nhân vật, ông đi sâu vào đời
sống nội tâm và đặc biệt trân trọng, nâng niu những ước mơ của họ như ước mơ
muốn thay đổi cuộc sống của Liên và An cùng những con người nơi phố huyện.
Cả truyện ngắn cứ nhẹ nhàng theo dòng tâm trạng của nhân vật Liên, để lại
trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên về hình ảnh của Liên cùng những
con người nhỏ bé nơi phố huyện với ước mơ thoát khỏi cuộc sống tù túng, chật hẹp
nơi phố huyện tiêu điều, tối tăm.
Bài làm 2 : Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn "Chữ người tử
tù" của Nguyễn Tuân.
Nguyễn Tuân là một nhà văn xuất sắc trên văn đàn Việt Nam. Ông sáng tác
bằng nhiều thể loại, nhưng nổi tiếng hơn cả là tuỳ bút. Trước Cách mạng tháng
Tám, nhà văn được nhiều người ngưỡng mộ qua tác phẩm Vang bóng một thời.
Đây là tác phẩm tập hợp hơn một chục truyện ngắn viết về một thời vàng son đã
qua, nhưng nay vẫn còn "vang bóng". Ở đây, Nguyễn Tuân vừa thể hiện niềm trân
trọng vốn văn hóa cổ truyền dân tộc, vừa bộc lộ sự nuối tiếc cái thời xa xưa. Chữ
người tử tù là truyện ngắn nổi tiếng rút trong tập Vang bóng một thời. Trong truyện
ngắn này, Nguyễn Tuân đặc biệt thành công trong việc khắc hoạ hình tượng nhân
vật Huấn Cao.
Đọc tác phẩm Chữ người tử tù, nhiều người nhận xét, Nguyễn Tuân đã dựa vào
Cao Bá Quát - một nhà thơ, văn hay chữ tốt, có bản lĩnh kiên cường, lãnh tụ của
phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình nhà Nguyễn, vào giữa thế kỉ
XIX. Bằng tài năng kiệt xuất của mình Nguyễn Tuân đã từ nguyên mẫu nói trên
xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao với vẻ đẹp kì vĩ, hiếm thấy.
Khác với phần nhiều những nhân vật chính trong Vang bóng một thời, Huấn
cho người đọc.
Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao còn được nhà văn khắc họa thông qua việc
xây dựng nhân vật quản ngục và thầy thơ lại. Sự nhẫn nhục của quản ngục, niềm
khao khát xin được chữ ông Huấn Cao, sự lo lắng mai mốt ông Huấn Cao sắp bị
giải đi hành hình, việc "tái nhợt người" khi biết ông Huấn Cao sắp bị giải về kinh,
thái độ cung kính nhận chữ và nỗi xúc động khi nghe lời người tử tù dạy bảo...
khiến cho quản ngục trở thành nhân vật khá sống động. Nhưng quan trọng hơn,
chúng đã cùng tôn vinh Huấn Cao, tô đậm thêm những phẩm chất tuyệt vời của
nhân vật này theo lối "vẽ mây nảy trăng", như cách nói của người xưa.
Thực ra Huấn Cao, quản ngục và thầy thơ lại đều là những nhân cách đẹp đẽ
phi thường. Trong nhà tù, ông Huấn đã tìm được những người tri âm, tri kỉ. Như
vậy, ngay trong chốn xấu xa, tội lỗi, cũng không ít người tốt đẹp. Cái đẹp, cái cao
thượng sẽ được giữ gìn, trân trọng, tuy nhất thời nó có thể bị vùi dập. Phải chăng
điều này cũng có thể rút ra qua hình tượng Huấn Cao, mà lâu nay hầu như chưa ai
nói đến.
****
Ghi chú: Trong quá trình thực hiện chuyên đề, hoạt động II, III, IV, V có thể
tiến hành kết hợp cho từng văn bản. Sau khi giúp học sinh củng cố kiến thức cơ
bản về tác giả, tác phẩm, giáo viên đưa ra các dạng đề, sau đó hướng dẫn học sinh
luyện tập xây dựng hướng giải đề và dàn ý mỗi đề cho từng văn bản. Cuối cùng
các em đọc các bài làm tốt, rút kinh nghiệm về kĩ năng làm văn và vận dụng viết
bài theo năng lực của mình (về nhà hoặc tổ chức trên lớp).
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường.
* Qua quá trình thực hiện các chuyên đề trong dạy ôn luyện cho các khối lớp
ở trường THPT Triệu Thị Trinh (Nông Cống) từ năm học 2010 – 2011 đến nay
chúng tôi nhận thấy học sinh có những biểu hiện sau đây trong học tập bộ môn:
- Học sinh có hứng thú, tập trung hơn cho môn học. Các em có ý thức chuẩn bị bài
Điểm khá
Điểm TB
Ghi chú
Điểm yếu,
kém
11 A3
40
3
7
27
3
dạy theo
(2009 – 2011)
11 A3
chuyên đề
43
* Với bản thân, trong quá trình biên soạn và hướng dẫn học sinh học tập
theo các chuyên đề chúng tôi có sự tập trung, đào sâu hơn cho từng thể loại. Trong
cái nhìn so sánh về các văn bản cùng thể loại chúng tôi cảm nhận rõ hơn về giá trị
của từng văn bản và những sáng tạo riêng của mỗi nhà văn, đặc biệt có ý thức tìm
tòi sâu hơn về văn bản và thể loại để nâng cao chất lượng cho mỗi chuyên đề.
* Với đồng nghiệp và nhà trường : Trong quá trình dạy học theo các chuyên
đề chúng tôi có sự phối hợp với các đồng nghiệp để bổ sung thêm nguồn tài liệu,
tham khảo ý kiến để hoàn thiện một số chuyên đề. Qua đó nhận thấy các đồng
nghiệp cũng tích cực trong việc sưu tập tài liệu sâu về từng thể loại, từ đó nâng cao
chất lượng dạy ôn luyện trong điều kiện phải tự thiết kế nội dung ôn luyện bộ môn
cho học sinh. Với nhà trường, chúng tôi cũng đã đề xuất phương hướng xây dựng
các chuyên đề trong dạy ôn luyện bộ môn thực hiện với các lớp khối C. Các giáo
viên được phân công hoặc phối hợp với nhau xây dựng các chuyên đề và giảng dạy
một số buổi nhất định cho các lớp ngoài lớp mình phụ trách về chuyên đề mình đã
chuẩn bị chu đáo.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Thực hiện dạy học các chuyên đề theo loại thể giúp chúng tôi luôn có ý thức
tìm tòi, xây dựng kiến thức cho mỗi chuyên đề một cách cơ bản, cập nhật. Qúa
trình thực hiện một chuyên đề theo chúng tôi ngoài vận dụng những hướng dẫn của
Bộ, cần thể hiện rõ được các bước:
- Cung cấp và hướng dẫn học sinh nắm vững đặc trưng của từng loại thể trong từng
giai đoạn văn học.
- Hướng dẫn học sinh củng cố những đơn vị kiến thức trọng tâm nhất về tác giả,