Một vài kinh nghiệm ứng dụng đặc trưng thể văn chính luận để giảng dạy thành công văn bản tuyên ngôn độc lập của hồ chí minh - Pdf 44

I.

PHẦN MỞ ĐẦU:

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1. Xuất phát từ thực tiễn đổi mới chương trình và phương pháp dạy học
(PPDH) Ngữ văn ở trường THPT:
“Văn học là nhân học” (M.Gorki) - học văn là học cách làm người hoàn
thiện.Vì vậy, nội dung chương trình đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn ngày càng
được phong phú và đa dạng hóa. Nếu trước đây, học sinh chủ yếu tiếp cận với các
văn bản nghệ thuật thì hiện nay, các em đã được làm quen với rất nhiều thể loại,
đặc biệt là các văn bản chính luận.
Việc bổ sung lượng văn bản chính luận trong chương trình Ngữ văn ở bậc
THPT là xuất phát từ nhu cầu hội nhập mà trước hết là nhu cầu nhật dụng hàng
ngày. Đó là hình thành cho học sinh tư duy lôgic văn học và làm rõ vai trò của văn
chương trong cuộc sống . Giúp các em am hiểu sâu rộng những kiến thức đa dạng
về đời sống – xã hội, phát triển tư duy lôgic, khả năng diễn đạt, nâng cao năng lực
ứng xử trước những vấn đề của hiện thực cuộc sống.
Vì vậy, dạy học văn càng không thể theo một mô hình chung cho tất cả các
thể loại, bởi mỗi văn bản đều gắn với một thể loại, mỗi thể loại đều có những tính
chất, đặc trưng riêng. Nghĩa là cần thiết phải khám phá văn bản tác phẩm theo đặc
trưng riêng của từng thể loại để học sinh cảm nhận được đầy đủ những giá trị mới
mẻ và làm phong phú thêm hiểu biết về văn bản tác phẩm.
“Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh thuộc chương trình Ngữ văn 12, là
áng văn chính luận mẫu mực của văn học hiện. Hướng dẫn học sinh tiếp cận tác
phẩm này theo đặc trưng thể loại cũng là để các em có điều kiện được học tập môn
Ngữ văn theo quan điểm tích hợp –Dạy học theo hướng tích hợp đang là một trong
những PPDH mới của thời hiện đại. Nghĩa là khi học văn bản này, các em sẽ được
tích hợp với kiến thức Tiếng Việt như: “Phong cách ngôn ngữ chính luận” (Ngữ
văn 11); “Phép liên kết văn bản” mà các em đã học từ cấp 2… Như vậy, “Tuyên
ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh sẽ trở thành minh chứng cụ thể, sinh động mang

3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Thực trạng giờ dạy học văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ chí Minh
trong tổ bộ môn ở trường THPT Hoằng Hóa 3 trước và sau khi ứng dụng đặc trưng
thể văn chính luận để dạy học văn bản.
- Đặc trưng của văn bản chính luận và tính chính luận mẫu mực của văn bản
“Tuyên ngôn Độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Trên cơ sở nghiên cứu đó, chúng tôi tổng kết, khái quát lại thành Một vài
kinh nghiệm ứng dụng đặc trưng thể văn chính luận để giảng dạy thành công
văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh các tài liệu có liên quan để xây
dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế, thu thập thông tin về kết quả học
tập của học sinh trước và sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trong các giờ
dạy học văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh ở tổ bộ môn.

2


II.

NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1.1. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn bản theo đặc trưng thể loại:
Việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông, trong đó có
đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) bộ môn văn theo tinh thần khoa học hiện đại
đã và đang diễn ra sôi động, thu được nhiều kết quả đáng mừng. Việc yêu cầu đổi
mới PPDH đã được quy định tại khoản 2, điều 5, Luật Giáo dục ra ngày 14 tháng
06 năm 2005 như sau: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác,

đấu. Nhiệm vụ của nó không phải là bày tỏ và giải thích những vấn đề chính trị
3


quan trọng, mà còn thuyết phục người đọc, người nghe, làm cho họ trở thành
những người tham gia tích cực vào việc giải quyết những vấn đề xã hội trước
mắt”.
Vì vậy, lời hùng biện có thuyết phục được người đọc, người nghe hay không
chủ yếu thể hiện ở đặc điểm tư duy, mạch lập luận chặt chẽ và sự diễn đạt hùng
hồn, ngôn ngữ chính luận phải được sử dụng một cách chính xác, không lan man.
Văn chính luận cũng thường sử dụng các hình thức tu từ quen thuộc như điệp từ,
điệp ngữ, điệp cú pháp, đảo câu.
1.3. Những đặc trưng cơ bản của văn chính luận:
a. Tính xác định của đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp, không gian và
thời gian giao tiếp của văn bản chính luận:
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, người ta nói ra một vấn đề nào đó
không đơn giản chỉ là để truyền thông tin mà còn nhằm một ý định, mục đích nào
đó. Văn chính luận cũng vậy, nhưng đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp, không
gian và thời gian giao tiếp đều mang tính xác định cụ thể, rõ ràng. Cụ thể:
Thứ nhất: Tính xác định của đối tượng giao tiếp trong văn bản chính luận:
Nếu các tác phẩm thuộc thể loại tự sự và trữ tình, do đối tượng hướng tới rất
đông đảo, lâu dài nhưng cũng rất mơ hồ nên các tác giả của những thể loại văn học
này thường dùng hình tượng để tác động tới tâm hồn người đọc và thể hiện mục
đích tư tưởng… thì văn chính luận, đối tượng giao tiếp được xác định cụ thể. Nên
trước khi cầm bút, bao giờ người viết cũng phải tự đặt ra câu hỏi: “Viết cho ai?”“ai” ở đây là những người đang tồn tại cùng thời với tác giả, họ thuộc về một loại
người, lớp người, một giai cấp, cộng đồng có quan hệ xác định với tác giả. Ví dụ:
- “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn là lời của chủ tướng với binh sĩ nhằm
kêu gọi đấu tranh chống lại quân Nguyên Mông xâm lược nước ta lần thứ hai.
- “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh, đối tượng giao tiếp là “Đồng bào
cả nước”, là nhân dân thế giới - nhất là những kẻ đang nhân danh Đồng Minh để

tộc được mở ra: Kỉ nguyên độc dập – tự chủ.
b. Tính luận đề rõ ràng:
Tính luận đề là đặc trưng nổi bật nhất của văn chính luận. Văn bản chính
luận nào cũng tập trung làm rõ một luận đề. Văn bản tự sự, trữ tình cũng hướng vào
một chủ đề nhưng thường bộc lộ một cách gián tiếp, không rõ ràng và mang tính
hình tượng. Ngược lại, văn bản chính luận, vì được ra đời từ nhu cầu thực tiễn nên
chủ đề luôn gắn với những vấn đề thiết yếu, quan trọng trong cuộc sống.
Và luận đề của văn chính luận thường được thể hiện đầy đủ ngay từ nhan đề
của văn bản. Vì thế, người đọc, người nghe dễ dàng nắm bắt và xác định. Ví dụ:
- Luận đề của văn bản “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS,
ngày 1/12/2003” của Côphianan chính là: Lời kêu gọi(nghĩa đơn giản của từ “thông
điệp”) cùng chung tay hành động để phòng chống AIDS.
- Luận đề của văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh là: Tuyên bố
về chủ quyền độc lập của dân tộc.
Do đó, xác định được luận đề của văn bản chính luận được xem là “cánh
cửa đầu tiên để khám phá vẻ đẹp của văn bản chính luận, khám phá vẻ đẹp tài
năng và trí tuệ của người viết”(Phó GS, TS Đoàn Đức Phương).
c. Lập luận và tính lôgic:
Lập luận là cách tổ chức lí lẽ và dẫn chứng sao cho mạch lạc, lôgic, rõ ràng.
Lập luận là cách nêu lên những luận điểm, vận dụng lí lẽ và dẫn chứng sao cho
luận điểm nổi bật và có sức thuyết phục. Lập luận được sử dụng trong suốt chiều
dài tác phẩm và thường được triển khai theo bốn dạng thức chính: Phân tích, giải
thích, chứng minh và bình luận.
Tính lôgic được hiểu là kết cấu của hệ thống luận điểm, luận cứ và luận
chứng theo một trình tự hợp lí nhằm làm nổi bật luận đề của văn bản. Khác với
kiểu triển khai theo mạch cảm xúc của loại hình trữ tình; cũng không theo cốt
truyện của thể văn tự sự, Văn chính luận được triển khai theo hệ thống luận điểm,
5



phải bằng tư duy hình tượng, vì thế sẽ
Nhưng tính hình tượng không có ở cấp độ toàn văn bản mà chỉ có ở cấp độ
bộ phận, chi tiết vì văn chính luận là sản phẩm của tư duy lôgic chứ không phải tư
duy hình tượng song nó cũng góp phần rất lớn làm nên giá trị của văn bản, ví dụ:
Trong “Tuyên ngôn Độc lập”, Hồ Chí Minh lại vẽ lên tư thế đê hèn và phản bội phe
Đồng minh của thực dân Pháp bằng một vài hình ảnh giàu sức gợi : “quỳ gối đầu
hàng, mở cửa nước ta rước Nhật” …
Tóm lại: Tìm hiểu đặc trưng của văn chính luận, chúng tôi đi đến khẳng
định: Văn chính luận là thể văn đặc biệt trong văn học – đặc biệt từ đối tượng, mục
đích giao tiếp đến bố cục mạch lạc, rõ ràng, ngắn gọn về mặt hình thức; nội dung là
vấn đề có tính thời sự; giọng điệu hùng hồn, giàu sức thuyết phục; lí lẽ , biện luận
6


sâu sắc và dẫn chứng không ai “bắt bẻ” được, … Vì vậy văn chính luận được xem
vũ khí lợi hại, đấu tranh có hiệu quả của các nhà chính trị, nhà văn hóa, người nghệ
sĩ lớn trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN BẢN “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” CỦA
HỒ CHÍ MINH TRƯỚC KHI ỨNG DỤNG ĐẶC TRƯNG THỂ VĂN CHÍNH
LUẬN:
“Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh được đánh giá là một “áng thiên cổ
hùng văn”, một áng văn chính luận kiệt xuất, mẫu mực. Trước đây, khi chưa áp
dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học văn bản này, các giáo viên trong tổ bộ
môn chúng tôi thường hướng dẫn học sinh khai thác văn bản theo hai cách:
Cách thứ nhất: Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác văn bản theo cách
phân chia bố cục thành ba phần: Đoạn mở đầu, đoạn nội dung và đoạn kết.
Cách thứ hai: Giáo viên hướng dẫn khai thác văn bản trên cơ sở hình thành
các ý (các luận điểm): Cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và phần Tuyên ngôn.
Với hướng khai thác văn bản theo cách thứ nhất, giáo viên sẽ không làm rõ
được đặc trưng của văn bản chính luận. Vì vậy các kết luận rút ra thường mang tính

3.1. Những chuẩn bị cần thiết trước giờ dạy học văn bản:
Phân phối chương trình Ngữ văn 12 giành tiết 04 – 05 để dạy “Tuyên ngôn
Độc lập” của Hồ Chí Minh (Trong đó, tiết 04 dạy tác giả; tiết 05 dạy tác phẩm) Với
thời lượng chỉ có 01 tiết, làm sao vừa chuyển tải hết lượng kiến thức phong phú,
vừa kích thích hứng thú học tập cho học sinh thực sự là một bài toán khó của mỗi
giáo viên. Để giờ dạy học văn bản này thành công theo đặc trưng thể loại, nhất thiết
cả giáo viên và học sinh đều phải chuẩn bị tốt một số vấn đề sau:
- Giáo viên:
+ Đọc văn bản theo hướng nghiên cứu bài học để tích hợp với phân môn
Tiếng Việt như: Phép liên kết văn bản; Phong cách ngôn ngữ chính luận…; Chuẩn
bị trước một số câu hỏi để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
+ Soạn và in giáo án giảng dạy kèm theo một số phần của bài giảng được
thiết kế trên giáo án Powpoint và dùng máy chiếu để hỗ trợ cho tiết dạy. Ví dụ phần
“Tiểu dẫn”, phần “Tổng kết” (Có hướng dẫn cụ thể trong tiến trình bài giảng bên
dưới); Sưu tập để có thể trình chiếu một số hình ảnh chụp về nạn đói năm 1945 của
nhà báo Võ An Ninh; Sưu tầm băng đĩa ghi lại giọng đọc “Tuyên ngôn Độc lập của
Bác” và loa đài để phát cho học sinh nghe trong phần “Hướng dẫn học sinh đọc –
hiểu văn bản” (Phần đọc mở đầu và phần kết bản Tuyên ngôn).
+ Về phần kiểm tra bài cũ của học sinh, giáo viên thực hiện lồng ghép trong
quá trình tìm hiểu văn bản tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”(Hồ Chí Minh)
- Học sinh: Chuẩn bị bài học theo hướng dẫn học bài của giáo viên, cụ thể:
+ Đọc kĩ văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh và soạn bài theo
hệ thống câu hỏi trong phần “Hướng dẫn học bài”, sgk. Ngoài ra, còn tìm hiểu
trước về văn bản qua một số câu hỏi được giáo viên cung cấp:
1, Xác định luận đề của bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh?
2,Giá trị biểu cảm của đại từ “Chúng” (thay cho cụm từ “Thực dân Pháp”
được Bác sử dụng trong văn bản)?
3,Qua phần cơ sở thực tiễn của bản “Tuyên ngôn Độc lập”, hãy nêu cảm
nhận của bản thân về hình tượng thực dân Pháp và dân tộc Việt Nam ta dưới ngòi
bút chính luận của Bác?

diện nào để thuyết phục người đọc, người nghe tin và làm theo mình?”
Trả lời câu hỏi này là học sinh đã nắm được cấu trúc (bố cục) thông thường
của văn bản chính luận. Vậy là ta đã gợi nhớ lại kiến thức lí thuyết về “phong cách
ngôn ngữ chính luận” và đã học lớp 11, có minh chứng bằng văn bản cụ thể. Và cụ
thể hơn nữa, ta tiếp tục yêu cầu các em: “Dựa vào văn bản, hãy xác định ranh giới
các phần ấy của bản Tuyên ngôn?”
Thứ ba: Từ luận đề của văn bản, chúng ta sẽ lần lượt hướng dẫn học sinh đọc
–hiểu tài năng chính luận bậc thầy của Bác qua ba luận điệu bác bỏ:
- Bác bỏ công khai hóa Đông Dương của thực dân Pháp.
- Bác bỏ công ảo hộ Đông Dương của thực dân Pháp.
- Bác bỏ quyền của Pháp quay trở lại tái chiếm Đông Dương.
Và một luận điệu khẳng định: Khẳng định chỉ có nhân dân Việt Nam mới
xứng đáng là chủ nhân chân chính của đất nước Việt Nam.
Như vậy, tiếp cận văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh từ
phương diện xác định luận đề này sẽ đảm bảo được tính hệ thống của văn bản bởi
các em sẽ nhận thấy các luận điểm, luận chứng, luận cứ được sắp xếp theo trình tự
hợp lôgic, hướng đến làm rõ luận đề. Hơn thế, các em cảm nhận được vẻ đẹp của
người cầm bút: Tư duy lôgic, trí luệ mẫn tiệp, tầm vóc tư tưởng lớn lao, tình yêu
nồng nàn, sâu sắc với nhân dân, đất nước mình, … khi tìm hiểu từng nội dung ấy.
9


Tất cả là minh chứng rõ nét cho vai trò của việc xác định chính xác luận đề
của văn bản chính luận vì điều này sẽ giúp các em mở được “cánh cửa đầu tiên
để khám phá vẻ đẹp của văn bản chính luận, khám phá vẻ đẹp tài năng và trí tuệ
của người viết”.
3.2.2. Giảng dạy văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh từ đặc
trưng của đối tượng giao tiếp và mục đích giao tiếp trong văn chính luận:
a. Cách thức hướng dẫn học sinh xác định đối tượng giao tiếp và mục đích
giao tiếp của “Tuyên ngông Độc lập”:

tự do và bình đẳng về quyền lợi”.(“Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của
Cách mạng Pháp năm 1791).
Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu phần “Cơ sở pháp lí của bản Tuyên ngôn” từ
góc độ đặc trưng của đối tượng giao tiếp và mục đích giao tiếp trong văn chính luận
sẽ giúp các em sẽ thấy rõ bút lực chính trị của Người , cùng với đó là vốn kiến thức
uyên bác, tầm hiểu biết sâu rộng, siêu việt về lịch sử, văn hóa nhân loại của một
bậc Đại nhân, Đại trí, Đại dũng Hồ Chí Minh. Cụ thể:
Thứ nhất: Thấy rõ bút lực trong văn chính luận của Người qua thủ pháp đấu
tranh chính trị khôn khéo, quyết liệt “gậy ông đập lưng ông”.
Mục đích cuối cùng của văn chính luận là thuyết phục người đọc, người nghe
làm theo ý mình. Muốn vậy thì lập luận phải chặt chẽ, lí lẽ không ai có thể phản
bác lại và phải xuất phát từ một chân lí hiển nhiên hoặc một ý kiến đã được nhiều
người thừa nhận.
“Tuyên ngôn Độc lập” của nước Mĩ năm 1776 và “Tuyên ngôn Nhân quyền
và Dân quyền” của Cách mạng Pháp năm 1791 đều là những danh ngôn, những
chân lí bất hủ của nhân loại, không ai có thể phủ nhận. Đặc biệt hơn, đây lại là lời
11


lẽ của chính tổ tiên người Mĩ và người Pháp(nghĩa là trích dẫn của Bác rất phù hợp
với đối tượng hướng đến của bản Tuyên ngôn là người Mĩ và người Pháp). Đó
chẳng phải là sự khôn khéo nhưng rất quyết liệt trong đấu tranh chính trị của Hồ
Chí Minh - dùng thủ pháp “gậy ông đập lưng ông ?! Không dừng lại ở đó, thủ pháp
“gậy ông đập lưng ông” này còn tạo được hiệu quả cao trong giao tiếp là khóa
miệng và ngăn chăn được mâm mưu xâm lược nước ta của thực dân Pháp và đế
quốc Mĩ, Trung Quốc.
Bên cạnh đó Người còn dùng lập luận so sánh: đặt vai trò của Cách mạng
Việt Nam ngang hàng với Cách mạng Pháp và Mĩ để khẳng định: Độc lập dân tộc
Việt Nam ngang hàng với độc lập dân tộc của Pháp và Mĩ, thể hiện niềm tự hào, tự
cường, tự tôn dân tộc của Người đồng thời một lần nữa gián tiếp khóa miệng và



chính là vẻ đẹp của văn chính luận. Vẻ đẹp lập luận ấy được thể hiện rất rõ trong
“Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chủ tịch. Điều này được minh chứng rõ nhất qua
nghệ thuật lập luận nhằm tạo cơ sở thực tế cho bản Tuyên ngôn.
Để tạo cơ sở thực tế cho bản “Tuyên ngôn Độc lập”, Hồ Chí Minh đã xây
dựng hai luận điểm lớn:
-Luận điểm 1: Tố cáo những tội ác tày trời mà thực dân Pháp đã gây ra cho
nhân dân ta trong suốt hơn 80 năm qua nhằm bác bỏ luận điệu kể công “khai hóa,
bảo hộ và quyền quay trở lại Đông Dương” của thực dân Pháp.
-Luận điểm 2: Khẳng định nhân dân Việt Nam xứng đáng là chủ nhân chân
chính của đất nước mình, dân tộc mình.
a. Ở luận điểm 1, Hồ Chí Minh đã lập luận như thế nào để bác bỏ “công” và
“quyền” của Pháp trên đất nước Việt Nam:
(Dưới đây là trình tự hướng dẫn của chúng tôi)
Thứ nhất: Bác bỏ luận điệu kể công “khai hóa” Pháp:
?Bác Hồ đã bác bỏ luận điệu kể “công khai hóa Đông Dương” của thực dân
Pháp bằng việc tố cáo những tội ác nào của chúng?(Yêu cầu hs dựa vào văn bản
sgk để liệt kê).
-Bác đã lên án, tố cáo hàng trăm tội ác của thực dân Pháp trên các bình diện:
+ Về chính trị (…)
+ Về Kinh tế: (…)
- Nghệ thuật:
?Nhận xét về cách diễn đạt và sử dụng kiểu câu của Bác khi kể tội TdP?
Hiệu quả diễn đạt?(Hs dựa vào văn bản sgk, thảo luận theo bàn để nhận xét).
+ Cách viết xuống dòng, kiểu câu có kết cấu trùng lặp(Phép lặp cú pháp), Hồ
Chí Minh đã phơi bày rõ ràng, dồn dập, tăng dần những tội ác tày trời của thực dân
Pháp.
?Theo em, tại sao Bác dùng đại từ “Chúng” thay cho “ thực dân Pháp”?
Hãy phân tích giá trị biểu cảm của đại từ này?(Hs trình bày cảm nhận của cá

công “bảo hộ Đông Dương” của thực dân Pháp?(Hs dựa vào văn bản sgk để trả
lời câu hỏi)
?Hai lần bán nước ta cho Nhật, Cụ thể đó là hai lần nào?(Hs dựa văn bản
sgk để nhận biết).
-Tuyên ngôn Độc lập đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
+ Trong năm năm Pháp bán nước ta hai lần cho phát xít Nhật, gây nên thảm
họa nạn đói năm 1945: Hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói(chiếm hơn 1/10 dân số
Việt Nam đương thời).
* Lần 1: Mùa thu năm 1940, Pháp đã “mở cửa nước ta rước Nhật”.
*Lần 2: Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội pháp, bọn
thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.
+Tội phản bội phe Đồng minh, bắt tay với Nhật.
?Ấn tượng của em về cách dùng từ ngữ của Bác để nói về thực dân Pháp ở
đoạn văn bản này? Cụ thể là từ ngữ nào? Hãy phân tích?(Hs thảo luận theo bàn
và trả lời câu hỏi).
- Cách dùng từ ngữ diễn đạt giàu hình ảnh: “quỳ gối, đầu hàng, mở cửa nước
ta rước Nhật” đã cho ta cảm nhận đầy đủ bản chất đê hèn, nhu nhược, phản bội của
thực dân Pháp.
Thứ ba : Bác bỏ luận điệu “Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp”:
?Hồ Chí Minh bác bỏ luận điệu “Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp”
bằng những “sự thật” lịch sử nào?(Hs dựa vào văn bản sgk để nhận biết).
- Bác bỏ bằng những “sự thật”:
+ “Sự thật là mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ
không phải thuộc địa của Pháp nữa”.
+ “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ
tay Pháp”.
 Đây cũng chính là những dẫn chứng không ai có thể chối cãi được.
14



+ Thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp.
+ Xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về Việt Nam.
+Xóa bỏ tất cả những đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
?Đồng thời Người cũng nêu lên quyết tâm gì của dân tộc?
- Quyết tâm: Chống lại mọi âm mưu xâm lược.
?Căn cứ vào điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở hai
Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn, Hồ Chủ tịch kêu gọi cộng đồng quốc tế điều
gì?
- Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt
Nam.
?Nghệ thuật lập luận của Bác ở phần này?
15


- Kiểu câu trùng lặp: “Dân tộc đó phải được tự do? Dân tộc đó phải được độc
lập!”  Giọng văn hùng hồn, đanh thép, lời khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc
trở thành một chân lí hiển nhiên.
 Các chứng cứ, lí lẽ của Bác đều thấu tình đạt lí. Và người đọc, người nghe
hoàn toàn bị thuyết phục.
?Văn chính luận cũng có tính hình tượng nhưng chỉ dừng lại ở cấp độ bộ
phận, chi tiết. Song, nó đã góp phần nâng cao hiệu quả “đánh địch” bằng ngòi
bút. Và Bác cũng đã xây dựng thành công hai hình tượng thẩm mĩ: Thực dân Pháp
và dân tộc Việt Nam. Qua đây, hãy trình bày cảm nhận của em về hai hình tượng
ấy?
-Hai hình tượng thẩm mĩ:
+ Thực dân Pháp: ban đầu hiện lên ngang ngược, bạo tàn, bất nhân, vô đạo.
Nhưng kết thúc tác phẩm là kẻ đớn hèn, thảm hại.
+ Dân tộc ta từ trong đau thương, khổ cực, lầm than đã “rũ bùn đứng dậy
sáng lòa” bằng sự kiên cường, bền bỉ đấu tranh anh dũng; Tấm lòng nhân hậu, vị
tha, yêu hòa bình, chính nghĩa.

“Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ra ba chế độ khác nhau
ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân
tộ ta đoàn kết.
“Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết
những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta
trong những bể máu”…
“Chúng” là từ thuộc thanh “trắc”, tạo ngữ điệu mạnh và là chủ thể của hàng
loạt các hành động phi nhân đạo như “Tuyệt đối không cho dân ta một chút quyền
tự do dân chủ nào”; “không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”; “bóc lột dân ta đến
tận xương tủy”, …Bác không chỉ tố cáo những tội ác mà Pháp gây ra cho nhân dân
ta là vô cùng tàn nhẫn về tính chất, mức độ. Mà còn vạch trần: Những tội ác ấy là
cố ý và hoàn toàn nằm trong âm mưu mang tính chiến lược của “chúng”, nhằm đưa
dân tộc ta trở về thời mông muội để dễ cai trị…
Thứ ba: Vẻ đẹp của lập luận trong văn chính luận còn được thể hiện ở việc
khai thác những quan hệ chiều sâu giữa hình thức ngôn ngữ và mục đích biểu
đạt. Một văn bản chính luận hay thường là những văn bản chứa đựng nhiều hàm ý
sâu sắc, có sức chinh phục lòng người, có sức cuốn hút mãnh liệt. Điều này đã
được chúng tôi lồng ghép trong hoạt động hướng dẫn học sinh đọc – hiểu phần “Cơ
sở thực tế của bản Tuyên ngôn”. Ví dụ trong phần Bác bỏ luận điệu kể công “khai
hóa” Pháp, chúng tôi yêu cầu học sinh liệt kê những đối tượng bị “Chúng”(Thực
dân Pháp) áp bức, bóc lột: “nhân dân ta”; “nước nhà của ta”; “những người yêu
nước thương nòi của ta”; “nòi giống ta”; “dân ta, nhất là dân cày và dân buôn”;
“các nhà tư sản ta”; “công nhân ta”. Từ đó, chỉ ra cho học sinh thấy đối tượng mà
Pháp áp bức, bóc lột trong sốt hơn 80 năm qua là tất cả mọi tầng lớp, giai cấp, mọi
công dân Việt Nam- Không trừ một ai. Vì vậy, thông điệp mà Người gửi gắm đến
đồng bào mình thật sâu sắc:
+ Khẳng định: Thực dân Pháp là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam, không trừ
một giai tầng nào.
+ Kêu gọi: Tất cả các giai tầng trong xã hội phải đoàn kết lại để bảo vệ chủ
quyền độc lập vừa mới dành được nếu kẻ thù tái chiếm Việt Nam.

chúng tôi đã thực hiện bài kiểm tra với hai đối tượng học sinh thuộc 2 lớp khác
nhau nhưng tương đương về mức độ (Lớp 12B5 và 12B6 của trường THPT Hoằng
Hóa 3). Trong đó, lớp 12B5 được nghiên cứu vận dụng đặc trưng thể văn chính
luận để giảng dạy, còn lớp 12B6 chưa được nghiên cứu vận dụng. Và tôi đã thu
được những kết quả như sau:
Lớp
12B5
12B6

Từ 8 – 10 điểm
SL
TL
06
12.8
13
27.7

Từ 5 – 7.5 điểm
SL
TL
24
51
28
59.5

Từ 3.5 – 4.5 điểm
SL
TL
13
27.7

trọng phát huy tính tích cực chủ động chiếm lĩnh tri thức của học sinh để dẫn dắt
các em khám phá cuộc sống phong phú, rộng lớn trong văn học qua mỗi tác phẩm.
Thông qua việc tổng kết hiệu quả của SKKN, chúng tôi có thể khẳng định:
Ứng dụng đặc trưng thể loại văn chính luận vào giảng dạy “Tuyên ngôn Độc lập”
của Hồ Chí Minh thực sự đã nâng cao hiệu quả giờ dạy, kích thích được hứng thú
học tập của học sinh thông qua việc am hiểu những kiến thức đa dạng về đời sống
xã hội; hình thành và phát triển năng lực tư duy lôgic, nâng cao hiệu quả diễn đạt
và năng lực ứng xử trước những vấn đề của hiện thực cuộc sống. Với đề tài: Một
vài kinh nghiệm ứng dụng đặc trưng thể văn chính luận để giảng dạy thành
công “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh, cá nhân tôi đã thử nghiệm thành
công, xin được chia sẻ với các đồng nghiệp để cùng trao đổi, rút kinh nghiệm nhằm
nâng cao hiệu quả giảng dạy văn bản này cũng như góp phần đổi mới hương pháp
dạy học theo hướng tích hợp.
2. KIẾN NGHỊ:
Tổ chuyên môn cần tư vấn để nhà trường mua thêm một số đầu sách tham
khảo về phương pháp dạy học văn bản tác phẩm trong nhà trường như cuốn“Vấn
đề giảng dạy tác phẩm theo đặc trưng thể loại” (Trần Thanh Đạm, NXBGD, Hà
Nội, 1971); “Phương pháp giảng dạy văn trong nhà trường phổ thông”
(A.Nhicônxki), NXB Giáo dục, Hà Nội dịch và phát hành, 2005.
Sở GD & ĐT nên chỉ đạo chuyên môn thực hiện một số hội thảo về ứng
dụng đặc trưng thể loại trong dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tích hợp
nhằm tạo điều kiện cho giáo viên cốt cán có điều kiện trao đổi về phương pháp và
hiệu quả. Từ đó nhân rộng PPDH mới này cho các trường THT trên địa bàn tỉnh.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Hoằng Hóa, ngày 16 tháng 5 năm 2016.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết đề tài:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status