------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LỜI MỞ ĐẨU
Như chúng ta đã biết, Việt Nam đã tham gia vào tổ chức kinh tế lớn nhất thế
giới là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Chúng ta đang trong giai đoạn thực hiện
việc hội nhập vào tổ chức kinh tế này và nền kinh tế của nước ta đã mở rộng để đón
nhận các luồng kinh tế nước ngoài tham gia vào thị trường nước ta. Vì vậy cần có một
loại đối tượng đúng ra làm trung gian giữa trong nước và nước ngoài, đó có thể là
những công ty tài chính, các ngân hàng quốc tế, các doanh nhân hoạt động trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu và các công ty dịch vụ quốc tế.
Công ty cổ phần thương mại và vận tải quốc tế JSC là một công ty hoạt động về
thương mại và thực hiện các dịch vụ vận tải quốc tế. Đây là một hoạt động rất quan
trọng, nó giúp cho hàng hóa trong nước và ngoài nước có thể dễ dàng lưu thông giúp
cho nền kinh tế trở nên hoạt động mạnh mẽ hơn và nhanh chóng hội nhập với nền
kinh tế quốc tế.
Hợp đồng vận tải quốc tế là một loại hợp đồng kinh tế quan trọng. Nó là công
cụ pháp lý của Nhà nước để xây dựng và phát triển thương mại quốc tế, đồng thời xác
lập và gắn chặt mối quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên. Trong xu thế ngày nay, mọi sự vật luôn biến đổi và sửa đổi rất
nhanh, vì vậy hệ thống pháp luật cũng cần nhanh chóng sửa đổi và sửa đổi không
ngừng để bắt kịp với sự phát triển của xã hội và ngày càng hoàn thiện. Bài tiểu luận
này trình bày một cách hệ thống cơ sở lý luận và thực hiện pháp luật hợp đồng về vận
chuyển hàng hóa quốc tế tại công ty cổ phần thương mại và vận tải quốc tế JSC, từ đó
đề ra các kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vận tải quốc tế
cũng như tại công ty cổ phần thương mại và vận tải quốc tế JSC.
1
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
tế - kỹ thuật mới để thực hiện mục đích chung. Hợp đồng này không phản ánh quan
hệ hàng hoá tiền tệ, không mang tính chất đền bù. Các bên chủ thể có thể thoả thuận
góp vật chất, góp sức lao động để lập ra cơ sở kinh doanh mới. Song chủ thể của loại
hợp đồng này phải có tư cách pháp nhân đầy đủ. Tuỳ theo tính chất của tổ chức, hợp
đồng không chỉ có 2 bên chủ thể mà có nhiều bên cùng tham gia.
- Căn cứ vào thời hạn thực hiện hợp đồng, hợp đồng kinh tế chia làm 2 loại :
* Hợp đồng kinh tế dài hạn :
Là những hợp đồng kinh tế có thời hạn thực hiện từ 1 năm trở lên nhằm thực
hiện kế hoạch dài hạn
* Hợp đồng kinh tế ngắn hạn :
Là những hợp đồng kinh tế có thời hạn thực hiện từ 1 năm trở xuống, gồm hợp
đồng năm, nửa năm, quý, tháng để thực hiện kế hoạch năm và những phần kế hoạch
trong năm.
Như vậy, tuỳ theo đối tượng của hợp đồng, tính chất của mối quan hệ, giá cả thị
trường.... mà các chủ thể có thể ký kết hợp đồng ngắn hạn hay dài hạn.
- Căn cứ vào tính kế hoạch của hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm :
* Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh :
Là những hợp đồng kinh tế được ký kết nhằm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh do
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho các doanh nghiệp Nhà nước. Việc ký kết
hợp đồng kinh tế giữa những đơn vị kinh tế được giao nhiệm vụ kế hoạch là nghĩa vụ,
là kỷ luật của Nhà nước. Hợp đồng này mang tính kế hoạch cao, vì thế, tính tự nguyện
và bình đẳng giữa các chủ thể của hợp đồng bị hạn chế. Tuy nhiên, trong cơ chế mới
loại hợp đồng này không còn được áp dụng phổ biến nữa mà chỉ những doanh nghiệp
Nhà nước hoạt động công ích mới thực hiện nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao.
* Hợp đồng kinh tế thông thường :
Loại hợp đồng này được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các bên
như đã thoả thuận.
6
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1.2. Khái quát hợp đồng kinh doanh trong vận tải biển
1.2.1. Khái niệm về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng được giao kết
giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu tiền
cước vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng
hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng. Như vậy, theo quy định của Bộ luật thì có
thể hiểu hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là văn bản cam kết giữa
người vận chuyển và người thuê vận chuyển. Người vận chuyển cam kết sẽ vận
chuyển hàng hóa từ cảng này đến cảng khác theo yêu cầu của người thuê, còn người
thuê vận chuyển cam kết sẽ thanh toán cước phí.
Hàng hóa vận chuyển theo quy định của Bộ luật bao gồm tất cả các loại hàng
hóa, kể cả súc vật sống hay vỏ container hoặc các dụng cụ vận tải khác được sử dụng
khi vận chuyển hàng mà không do người vận chuyển cung cấp. Hàng hóa được vận
chuyển theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển được quy định trong luật đa dạng
và phong phú nhưng lại rất cụ thể.
1.2.2. Phân loại hợp đồng
1.2.2.1. Hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu chợ - thuê tàu
chợ
- Khái niệm
Hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng tàu chợ (lưu khoang tàu chợ) là sự thỏa
thuận theo đó người chuyên chở dành một phần chiếc tàu để chở hàng hóa của người
thuê chở từ cảng này đến một cảng khác, còn người thuê chở phải trả cước phí theo
biểu cước định sẵn.
giải quyết tranh chấp quyết định. Đó là những trường hợp khi vận đơn không chỉ ra
nguồn luật điều chỉnh.
+ Tập quán hàng hải
Tập quán hàng hải là thói quen hàng hải được lặp lại nhiều lần, được nhiều
nước công nhận và áp dụng liên tục đến mức nó trở thành quy tắc mà các bên mặc
nhiên tuân theo. Tập quán hàng hải được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng và giải
8
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
quyết tranh chấp khi mà vận đơn, luật áp dụng cho vận đơn không điều chỉnh hay điều
chỉnh không đầy đủ mối quan hệ, tranh chấp đó.
1.2.2.2. Hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chuyến - thuê tàu
chuyến
- Khái niệm
Hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chuyến là văn bản được ký
kết giữa hai bên, theo đó một bên là người chuyên chở có nghĩa vụ dành toàn bộ hay
một phần chiếc tàu để chở hàng từ cảng này đến cảng khác và bên kia là người thuê
chở có nghĩa vụ trả tiền cước chuyên chở.
Hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chuyến là văn bản pháp lý
điều chỉnh trực tiếp quyền và nghĩa vụ của người chuyên chở và người thuê chuyên
chở. Nó không điều chỉnh mối quan hệ giữa người chuyên chở với người nhận hàng
không phải là người ký hợp đồng.
- Luật điều chỉnh
Điều ước quốc tế: Cho đến nay chưa có một điều ước quốc tế nào được ký kết
để điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chuyến. Để tạo điều
kiện thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa bằng tàu chuyến các hang tàu, tổ chức
hàng hải quốc tế IMO đã soạn thảo nhiều mẫu thuê tàu chuyến, trong đó mẫu hợp
đồng hay được dùng nhất để chở hàng bách hóa là mẫu GENCON hoặc có mẫu hợp
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là bắt đầu thời kỳ
Việt Nam mở cửa. Nền kinh tế mở cửa làm cho nhu cầu trong xã hội tăng lên rất
mạnh, do vậy đòi hỏi cần có một doanh nghiệp đứng ra hoạt động trong lĩnh vực vận
tải. Công ty JSC đã được thành lập, ban giám đốc của công ty đã nắm bắt được điều
này và đã phát triển công ty. Tuy mới thành lập nhưng công ty đã đạt được nhiều kết
quả rất tích cực.
2.1.2. Tổng quan về Công ty cổ phần thương mại vận tải quốc tế JSC
* Chức năng của công ty:
- Vận chuyển hàng hóa quốc tế.
- Vận chuyển hàng hóa trong nước.
- Thực hiện ủy thác xuất nhập khẩu.
* Nhiệm vụ:
- Thực hiện chế độ thu chi hóa đơn chứng từ theo chế đọ hạch toán của Nhà
nước.
- Chấp hành nghiêm chỉnh Luật pháp trong sản xuất kinh doanh, thực hiện đúng
đường lối chính sách bảo vệ tài nguyên môi trường.
11
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
* Đặc điểm:
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường xây dựng mô hình quản lý gọn nhẹ phải
có hiệu quả với phục vụ tốt cho chiến lược kinh doanh đáp ứng yêu cầu mở rộng thị
trường, cũng như tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên của công ty phát huy hết
năng lực để giúp cho công ty ngày càng phát triển.
2.1.3. Thực tiễn hoạt động kinh doanh của công ty thương mại và vận tải JSC
Là công ty thương mại và vận tải nhưng công ty JSC hoạt động chủ yếu trong
lĩnh vực vận tải. Vận tải trong những năm qua rất phát triển ở Việt Nam, nhất là ở các
51,563,019,610 19,419,508,130
12,412,359,670 5,119,402,690
179,090,490
4,875,250
70,841,030
98,829,460
34,500,000
98,829,460
7,013,715,740
5,506,893,390
4,822,484,570
202,963,910
4,000,000
(4,000,000)
5,502,893,390
1,210,636,546
4,292,256,844
0
202,963,910
44,652,060
158,311,850
12
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Sau khi hợp đồng kinh tế về giao nhận vận chuyển hàng hóa được ký kết và có
giá trị pháp lý, công ty cùng đối tác phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
Việc thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng theo nguyên tắc nhất định. Đó là:
- Nguyên tắc chấp hành thực hiện: Theo nguyên tắc này công ty phải thực hiện
đúng điều khoản đối tượng của hợp đồng. Công ty không được tự ý thay đổi đối
tượng này bằng một đối tượng khác hoặt không được thay thế việc thực hiện nó bằng
cách trả một số tiền nhất định hoặc không thực hiện nó. Nguyên tắc này đòi hỏi công
ty thỏa thuận vấn đề gì thì thực hiện đúng vấn đề đó.
- Nguyên tắc chấp hành đúng: Đây là nguyên tắc đòi hỏi công ty và đối tác phải
thực hiện đúng và đầy đủ tất cả các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng giao nhận
vận chuyển hàng hóa, tức là tất cả các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp
đồng giao nhận vận chuyển hàng hóa phải được thực hiện đầy đủ. Cụ thể là công ty
phải thực hiện đúng đối tượng, đúng thời gian, số lượng, đảm bảo an toàn cho hàng
hóa, đúng phương thức thanh toán và các thỏa thuận khác trong hợp đồng giao nhận
vận chuyển hàng hóa. Nguyên tắc này có phạm vị rộng hơn, bao trùm cả việc thực
hiện đúng đối tượng của hợp đồng và nhìn chung công ty luôn thực hiện nguyên tắc
này một cách đầy đủ, đúng đắn và chính xác.
- Nguyên tắc hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng giao nhận vận chuyển hàng hóa, công ty thường
xuyên hợp tác chặt chẽ với đối tác để theo dõi, giúp đỡ nhau khắc phục khó khăn,
đồng thời thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ cam kết.
Thực tiễn cho thấy công ty cổ phần thương mại và vận tải JSC luôn tuân thủ
các nguyên tắc thực hiện hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây dựng theo đúng
pháp luật. Chính điều này đã giúp cho quá trình thực hiện hợp đồng giao nhận vận
chuyển hàng hóa của công ty được thuận lợi và làm tăng uy tín của công ty trên thị
trường.
14
15
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
2.2.4. Thẩm quyền ký kết hợp đồng giao nhận vận chuyển hàng hóa.
Người có thẩm quyền ký kết hợp đồng giao nhận vận chuyển hàng hóa cho
công ty là đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc đại diện theo sự ủy quyền. Đại
diện theo pháp luật của pháp nhân chính là người đứng đầu của pháp nhân (hay còn
gọi là đại diện đương nhiên, đại diện chính thức). Đại diện theo sự ủy quyền là người
được đại diện theo pháp luật ủy quyền. Đại diện hợp pháp bao hàm cả đại diện theo
pháp luật và cả đại diện theo sự ủy quyền. Nhưng đại diện theo pháp luật khác đại
diện theo ủy quyền ở chỗ: Đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền đại diện
cho pháp nhân trong tất cả các mối quan hệ, còn đại diện theo ủy quyền thì chỉ được
đại diện trong những quan hệ nào được ủy quyền. Người đại diện có trách nhiệm rang
buộc trong việc ký kết hợp đồng bao gồm: trách nhiệm tài sản, trách nhiệm hành
chính và cả trách nhiệm hình sự để có thể ngăn chặn tiêu cực có thể xảy ra. Mặt khác
cũng có quy định trách nhiệm của người được ủy quyền khi ký kết hợp đồng giao
nhận vận chuyển hàng hóa trong trường hợp hành vi của họ có thể gây thiệt hại cho
Nhà nước.
2.2.5. Giải quyết tranh chấp
Trong hoạt động kinh doanh của bất cứ một doanh nghiệp nào thì không thể
tránh khỏi những tranh chấp, tranh chấp do khi một bên bị ảnh hưởng đến quyền lợi
do bị tác động của các tình huốn xảy ra mà không thể tránh khỏi. Quy tắc giải quyết
tranh chấp của công ty JSC cũng theo quy định về vận tải quốc tế. Trong hợp đồng
vận tải hàng hóa quốc tế quy định về tranh chấp và giải quyết tranh chấp như sau:
Trong trường hợp bất khả kháng vì một lý do nào đó (bão tố, chiến tranh, hỏa
hoạn, động đất…) mà hàng hóa bị hỏng hóc, mất mát hay chậm trễ thì bên vận chuyển
sẽ thông báo cho bên thuê vận chuyển bằng văn bản được biết.
Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các điều khoản đã ghi trong hợp
2
104
16/03/2013
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
3
105
20/03/2013
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
4
106
30/03/2013
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
5
107
20/04/2013
22/06/2013
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
10
112
30/05/2014
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
11
113
22/07/2013
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
12
114
08/09/2013
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
13
55
5/1/2013
2
56
16/02/2013
3
57
17/03/2013
4
58
22/04/2013
5
59
16/05/2013
6
10
64
14/12/2013
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa(Thái Lan)
Nội dung hợp đồng
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa (Nhật)
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa(Trung
Quốc)
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa (Nhật)
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa(Trung
Quốc)
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa (Nhật)
18
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
CHƯƠNG III : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC ÁP DỤNG HỢP ĐỒNG
VẬN TẢI QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI
JSC
3.1. Một số kiến nghị về phía Nhà nước
Về khái niệm, chi phí làm hàng tại cảng (THC) còn chưa thống nhất giữa giá
CIF và giá FOB nên xảy ra nhiều vấn đề. Do tập quán thương mại hiện nay tại Việt
Nam là mua CIF, bán FOB, nên để tránh tranh chấp, chủ động đối phó với việc này,
các doanh nghiệp cần thực hiện ngay việc ghi rõ điều khoản ràng buộc về trách nhiệm
+ Tận dụng vốn của các bạn hàng, chủ hàng, đối chiếu thanh toán kịp thời khi
hoàn thành nhằm làm tăng vòng quay của vốn và không để nợ quá hạn thông qua các
biện pháp “mềm, dẻo”.
+ Xây dựng mối qua hệ bền vững, tốt đẹp với các tổ chức tín dụng để tranh thủ
việc giúp vốn để tăng nguồn vốn kinh doanh của công ty.
- Thứ hai, trên cơ sở kiểm tra số, chủng loại, chất lượng, cơ cấu tài sản, vật tư,
thiết bị, có kế hoạch điều động sắp xếp và đầu tư thích hợp trang thiết bị, dụng cụ
quản lý phù hợp với tình hình thực tế để phát huy hiệu quả của đầu tư, tăng năng lực
sản xuất.
- Thứ ba, xây dựng một hệ thống chuyên trách về Marketing trong công ty
nhằm thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, xây dựng kế hoạch dự báo giá cả để
có thể linh hoạt ứng biến kịp thời với sự biến động của thị trường. Trên thực tế quốc
tế mới trải qua gần 30 năm phát triển theo cơ chế thị trường, nhưng công tác
Marketing đã trở thành công cụ hỗ trỡ đắc lực cho các nhà kinh doanh. Hiện nay, hầu
hết các doanh nghiệp, dù ít nhiều cũng đã chú ý đến công tác này. Marketing tạo ra
chất lượng, hiệu quả, giá cả, sự phục vụ phù hợp với yêu cầu thị trường.
- Thứ tư, cần tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao trình độ của công ty trên
tất cả các mặt như: các vấn đề chuyên ngành, ngoại ngữ, pháp luật và kinh nghiệm
thực tế. Mục tiêu đặt ra là phải có những cán bộ giỏi chuyên môn nghiệp vụ và hiểu
biết sâu sắc cũng như có khả năng phân tích tình hình chính xác thực tế trong và ngoài
20
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
nước. Để nâng cáo kiến thức pháp luật kinh doanh cho đội ngũ cán bộ công ty có thể
thực hiện các biện pháp sau:
+ Tổ chức đào tạo tại chỗ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên.
+ Cử cán bộ chuyên môn đi học nâng cao nghiệp vụ tại các trung tâm đào tạo
như các trường đại học, các vụ, viện…
Nền kinh tế còn nghèo thì việc hòa nhập nền kinh tế nước ta vào sự phát triển
của nền kinh tế thế giới là rất cần thiết. Nó sẽ tạo ra cho chúng ta rất nhiều cơ hội để
phát triển. Nhưng để có thể thực hiện việc này một cách nhanh chóng thì việc đầu tiên
chúng ta cần làm là hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế. Sự cải cách về pháp luật,
đặc biệt là pháp luật về kinh tế. Sự cải cách pháp luật tạo ra một hệ thống pháp luật
vững chắc chặt chẽ, tiến bộ sẽ tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể.
Từ đó chúng ta có thể dễ dàng trong việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế cũng như
nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới.
Lĩnh vực vận tải quốc tế là một lĩnh vực quan trọng, liên quan đến rất nhiều
ngành khác. Vì vậy việc củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật về vận tải quốc tế
là rất cần thiết. Bài viết này đã nghiên cứu tổng quan chế độ pháp lý về hợp đồng vận
tải quốc tế như khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc ký kết, cách thức ký kết. Trên cơ
sở phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng chế độ pháp lý đó tại công ty cổ phần
thương mại và vận tại quốc tế JSC, bài viết có một số kiến nghị góp phần cho việc sửa
đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật về vận tải quốc tế.
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian khảo sát thực tế chưa nhiều
nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Mong được sự góp ý của của giảng
viên để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
22
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế đầu tư - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
2. Tài liệu, văn bản, hợp đồng của công ty cổ phần thương mại và vận tải JSC.
3. Website Bộ Tài Chính : www.mof.gov.vn.
4. Website Tổng cục thống kê : www.gso.gov.vn.