“Tâm lý người Việt và văn hoá pháp lý với việc thực hiện pháp luật trong tiến
trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay”
Bất cứ một nền văn minh lớn nào cũng có những bộ luật lớn để điều chỉnh
các quan hệ xã hội, giúp cho xã hội đó phát triển, đồng thời cũng tạo ra niềm tự
hào cho con người xây dựng nên những nền văn minh đó. Điều đó chứng tỏ rằng
pháp luật vừa là công cụ để điều chỉnh xã hội văn minh, vừa là phẩm của xã hội
văn minh.
Cái hay cái tốt của pháp luật có lẽ không phải bàn cãi nhưng thái độ của
con người trong việc sử dụng pháp luật và cách hình thành nên một nền văn hoá
pháp lý thì lại cần có sự nghiên cứu một cách đầy đủ để tìm ra sự khác biệt giữa
các nền văn minh ấy từ nhiều nguyên nhân như tập quán sản xuất, chiến đấu,
sinh hoạt, quá trình giao lưu, tiếp nhận hay hoà nhập các yếu tố ngoại lai… đồng
thời chỉ ra những nguyên nhân góp phần làm hình thành nên tâm lý của một dân
tộc, một quốc gia. Tâm lý con người của một dân tộc, một quốc gia là một yếu tố
cực kỳ quan trọng tham gia vào việc hình thành nên đời sống văn hóa pháp lý.
Trải qua mấy nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt nam đã tạo cho mình
những sắc thái văn hóa đặc sắc riêng biệt, trong đó có sắc thái của văn hoá pháp
lý. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp. Nó cần được đánh giá ở nhiều
khía cạnh, nhiều góc độ để tìm ra những cái hay, cái dở qua đó để xây dựng một
nền văn hoá pháp lý phù hợp với điều kiện mới.
NỘI DUNG
1. Tâm lý người Việt và văn hoá pháp lý ở Việt nam
Nếu văn hoá pháp lý là những giá trị tốt đẹp mà pháp luật tạo ra từ quá
trình đấu tranh sinh tồn và phát triển của con người và được chọn lọc qua thời
gian thì ở Việt nam, văn hoá pháp lý gắn liền với với quá trình hình thành, phát
triển và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống mang đặc sắc Việt nam. Trong
quá trình hội nhập và phát triển, văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng
có ý nghĩa vô cùng quan trọng để chúng ta hoà nhập mà không bị hoà tan, vừa
được mình trước sự xâm lược và nguy cơ bị đồng hoá bởi các thế lực ngoại bang,
thậm chí với truyền thống này, người Việt đã lấy lại được nước sau cả ngàn năm
Bắc thuộc vì họ giữ lại được làng Việt với truyền thống đặc biệt đó để không thể
bị đồng hoá. Tuy nhiên việc tạo ra cố kết bền chặt đó lại tạo nên tính bảo thủ, trì
trệ của con người vì những lý do :
Thứ nhất, cố kết đó làm cho con người trở nên lệ thuộc vào cộng đồng, ít
có sự độc lập- yếu tố quan trọng tạo nên bản lĩnh của con người và cả của một
cộng đồng hay một dân tộc. Điều này làm cho con người trở nên thụ động trong
các quan hệ, ít dám làm và cũng từ đó cũng không dám chịu trách nhiệm trước
cộng đồng và người khác. Do vậy mà người ta lười suy nghĩ và cũng dễ nảy sinh
tâm lý ỷ lại, né tránh việc đối mặt với những cái mới, cái đòi hỏi từ chính nhu
cầu của bản thân. Khi đó cá tính của con người, cái cá nhân chìm trong cái chung
của cộng đồng làng xã. Khi cái đặc tính của làng xã càng đậm nét bao nhiêu thì
cái cá nhân càng mờ nhạt bấy nhiêu. Cũng chính vì vậy mà ý thức về cộng đồng
của con người thì rất cao (do tâm lý e ngại dè dặt, sợ dư luận nên luôn phải để ý
xung quanh) nhưng ý thức về lợi ích cộng đồng lại rất thấp. Điều này có vẻ như
mâu thuẫn nhưng lại là hai mặt đối lập của một thể thống nhất. Ví dụ như trong
quan hệ một gia đình, một dòng tộc, con người ràng buộc nhau bằng gia quy, gia
pháp vì sĩ diện với các dòng họ khác, với làng, với xã nên cá nhân trong gia đình
hay dòng họ ấy phải tự khép kín, ai về phận nấy với bổn phận của con cái hay
của một thành viên. Nhưng thực ra người ta không thực sự quan tâm đến cộng
đồng mà làm như vậy cốt để yên thân và khỏi bị ai động đến. Đây là nguyên
nhân dẫn đến tâm lý thờ ơ, lẩn tránh pháp luật. Rõ ràng, đối với văn hoá pháp lý
thì đây là một yếu tố tiêu cực làm hạn chế sự chủ động của con người khi tham
gia vào các hoạt động xã hội. Còn nếu có sự tham gia vào các hoạt động này thì
do a dua mà theo nhau một cách tự phát thiếu ý thức. Khi đó người ta ít suy xét
những hậu quả xấu có thể xảy ra như những hoạt động cưỡng chế cộng đồng
kiểu “bè chuối trôi sông” đối với những người “trót dại” hoặc tham gia với thái
không chỉ do một dân tộc, một quốc gia tạo nên. Sự liên kết để phổ biến các giá
trị do loài người sáng tạo ra sẽ giúp cho con người phát triển nhanh hơn. Nhìn ra
bên ngoài, ta thấy sự gần gũi về văn hoá của các nước phương Tây như chữ viết,
lối sống, kiến trúc vv… cho thấy những giá trị văn hoá đó không phải do người
Ý, người Pháp, hay người Anh sáng tạo ra mà là do sự du nhập, rồi pha trộn và
dung nạp lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc. Từ chỗ nghi ngờ các giá trị đến từ
bên ngoài, người ta có thái độ chống đối, không tiếp nhận hoặc chỉ tiếp nhận khi
bị cưỡng bức, cái gì của nhà mình, làng mình, xã mình cũng là nhất nên có
chuyện “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Ví dụ về phương
diện pháp luật, án lệ là một hình thức pháp luật được sử dụng khá phổ biến ở các
nước phát triển như Anh, Mỹ nhưng chúng ta thường coi đây là một hình thức
pháp luật có quá nhiều hạn chế nên nó gần như bị tẩy chay ở Việt nam. Tất nhiên
không phải cái gì tốt với người ta thì cũng tốt với mình nhưng chắc chắn những
cái đến từ bên ngoài thì không phải bao giờ cũng xấu. Việt nam là một dân tộc
chịu quá nhiều các cuộc chiến tranh xâm lược, luôn phải gồng mình lên để chống
chọi các thế lực ngoại bang trong suốt chiều dài của lịch sử dựng nước và giữ
nước nên ngay cả khi đất nước hoà bình trong những khoảng thời gian khá dài
nhưng tâm lý nghi ngờ này vẫn không bị triệt tiêu. Chính sách của các triều đình
phong kiến nhiều khi cũng tốt đẹp nhưng đã không được tiếp nhận bởi các làng
xã nên “phép vua” phải “thua lệ làng” bởi nói chung quan niệm của các nhà cầm
quyền là dùng pháp luật để cai trị, còn người dân Việt nam cũng như một số dân
tộc phương Đông khác coi pháp luật là hình phạt. Một minh chứng cho điều này
là các bộ luật lớn của các nhà nước phong kiến Việt nam đều được gọi là “Quốc
triều hình luật” Từ đó con người Việt nam trở nên bảo thủ, trì trệ và không chịu
đổi mới. Lịch sử Việt nam đã có những thời kỳ phát triển mạnh mẽ như thời nhà
Trần nhưng do bảo thủ, không chịu thay đổi mà trở thành lực cản cho sự phát
triển, đặc biệt là sự trung quân mù quáng của các thế lực quý tộc phong kiến nhà
Trần khi bằng mọi cách chống lại cải cách của Hồ Quý Ly. Ngoài ra, Việt nam
tộc. Chẳng hạn như Bộ luật Gia long gần như là sự sao chép nguyên xi luật nhà
Thanh, thậm chí có những nội dung hoàn toàn chẳng liên quan đến cuộc sống
của người Việt Nam. Vì sống theo cảm tính nhiều, sự xét đoán bằng lý trí không
được coi trọng vì người ta coi “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” cho
nên ngay trong hoạt động của các cơ quan công quyền cũng rơi vào tình trạng cả
nể, từ đó mà sinh ra tâm lý coi thường pháp luật. Không thể phủ nhận vai trò của
đạo đức trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, tuy nhiên không thể dùng đạo
đức thay pháp luật được mà chỉ có thể coi đó là công cụ bổ sung.
Bên cạnh đó, có thể thấy rằng lối sống duy tình cũng phản ánh một trật tự
xã hội rất đơn giản, con người yêu thương nhau, ưa sống hoà bình, không thích
tranh chấp, cho nên pháp luật cũng không đòi hỏi ở mức độ quá phức tạp do đó
không hình thành một nền văn hoá pháp lý có mức độ phát triển cao như ở các
dân tộc hay quốc gia mà các điều kiện kinh tế có sự phát triển phức tạp. Ở Việt
nam, chúng ta không thấy có những trường phái pháp luật thực sự, cũng không
có một hệ tư tưởng pháp lý có tầm vóc, chưa có sự xung đột đáng kể giữa các
quan điểm hay trường phái pháp luật và vì vậy mà hầu như không có chuyện
cạnh tranh thúc đẩy sự cọ sát, va chạm để phát triển khoa học pháp lý. Vì vậy, tư
duy pháp luật có thể là sự tiếp nhận một cách không chủ động và lựa chọn tư duy
pháp lý ngoại lai của những kẻ mang tư tưởng cai trị là chủ yếu. Khi đó, tư tưởng
độc lập dân tộc càng làm cho mức độ nghi ngờ đối với tư tưởng pháp luật đến từ
bên ngoài tăng lên. Từ tâm lý này, người Việt nam trở nên co cụm lại trong một
phạm vi hẹp để tự vệ và cũng từ đó mà hình thành nên phương thức sản xuất,
sinh hoạt có tính chất manh mún nhỏ lẻ và hình thành nên tình trạng cục bộ địa
phương. Chính mối liên hệ trong phạm vi hẹp này mà con người không có một
tư tưởng vượt tầm để có thể nhìn xa trông rộng ra bên ngoài và đi trước thời
gian. Điều đáng nói nữa là tâm lý của người Việt lại được thể hiện đậm nét trong
tư duy của các nhà làm luật hiện nay. Do bị ảnh hưởng bởi quan niệm giai cấp
nặng nề đến mức cực đoan, coi pháp luật chỉ là ý chí của giai cấp thống trị nên
thực sự tuân thủ các quy tắc sống khi có sự cưỡng bức. Điều đó làm phân tán lực
lượng do mỗi người tự đặt ra cho mình một quy tắc sống, hạn chế khả năng kết
hợp để tạo ra sức mạnh cộng đồng. Biểu hiện manh mún trong phương thức sinh
hoạt, sản xuất chính là kết quả của sự tuỳ tiện, vô kỷ luật này đã diễn ra kéo dài
trong lịch sử dân tộc. Nếu nói đến việc để xây dựng một nhà nước pháp quyền
thì có thể coi đây là một sự cản trở đáng kể, làm hạn chế, thậm chí tước đi cơ hội
tốt nhất để thực hiện quyền con người. Rất dễ dàng để lấy ví dụ cho thói quen
tuỳ tiện này như việc con người tham gia giao thông thì mạnh ai lấy đi, bất chấp
quy tắc, hay xây dựng thì thiếu quy hoạch có tầm nhìn xa, để rồi làm xong lại
phá để làm lại hoặc bổ sung, vừa mất mỹ quan vừa tốn kém cho xã hội.
Về việc xây dựng một nền văn hoá pháp lý, không thể không nói tới một
sự định hướng cơ bản bằng các chính sách, bằng những quan điểm và ở mức độ
cao hơn là một hệ tư tưởng và cũng không thể thiếu một nền dân trí tương đối
đồng đều được hình thành từ một nền giáo dục quốc dân căn bản. Văn hoá pháp
lý không nên và không chỉ được xây dựng trên cơ sở của tâm lý pháp lý vì tính
chất không hệ thống, thiếu ổn định nhưng lại có tính chất bảo thủ. Nó không tạo
ra được sự thống nhất trên phương diện xã hội cho văn hoá pháp lý của đất nước.
Những hạn chế trong tâm lý của người Việt như phân tích ở trên càng không
phải là nguyên liệu tốt cho việc xây dựng một nền văn hoá pháp lý hiện đại. Hiện
nay, có một sự thuận lợi là sự hội nhập của Việt nam với thế giới ngày càng sâu
rộng. Yếu tố tâm lý cũng đã có nhiều sự thay đổi theo xu hướng tích cực. Sự
truyền bá các giá trị phổ biến, tốt đẹp của thế giới và có sự kiểm nghiệm ở Việt
nam, trong đó có giá trị của pháp luật như giá trị công bằng, giá trị nhân đạo và
giá trị nhân văn mà hầu như cả thế giới đã thừa nhận ngày càng nhiều và thuận
lợi hơn. Với Việt nam, các giá trị đạo đức cũng có nhiều điều khá gần gũi với
những giá trị đó như các mục đích phấn đấu của loài người là chân, thiện, mỹ.
Do vậy việc xây dựng văn hoá pháp lý phải có sự dung nạp các yếu tố ngoại lai,
yêu thương nhau, phải biết giữ và sửa mình, tính cộng đồng khá cao nên các quy
tắc chung của cộng đồng được mọi người tôn trọng và tuân thủ một cách tự
nguyện. Tuy nhiên, đây cũng chính là một yếu tố có khả năng tác động xấu đến
quá trình thực hiện pháp luật. Người ta dễ dị ứng với pháp luật, chỉ coi pháp luật
là một giải pháp không thể tránh được. Đạo đức là một loại quy phạm không thể
thiếu trong đời sống xã hội vì nó cũng là những chuẩn mực về cái thiện, cái ác,
cái tốt, cái xấu, về lương tâm, trách nhiệm hay bổn phận của con người. Khi
chưa có pháp luật hay pháp luật bất lực thì đạo đức nói lên tiếng nói của nó, giúp
cho xã hội trở nên ổn định, khơi dậy những đức tính tốt đẹp của con người
nhưng thiếu tính thống nhất, mang tính cảm tính, tùy thuộc của vào quan niệm
sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng hay mỗi địa phương hay theo giới tính, lứa
tuổi, theo hoàn cảnh sống…Người ta tuân theo các chuẩn mực đạo đức vì để
“được tiếng tốt” nên nhiều khi không dám làm những gì mà mình cho là đúng.
Pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý xã hội một cách thống nhất nên nó rất
rành mạch. Vì vậy truyền thống duy tình làm cho ứng xử của con người dễ theo
cảm tính khi cho rằng “trăm cái lý chẳng bằng một tý cái tình”. Người ta có thể
có nhiều cách ứng xử khác nhau trong cùng một hoàn cảnh và sẽ vô hiệu hóa
pháp luật ngay từ trong suy nghĩ của mỗi con người cụ thể đến dư luận x ã h ội n
ói chung. Người ta sợ dư luận mà không sợ pháp luật nên pháp luật khó mà được
thực hiện. Mặt khác, đạo đức là những quan niệm đã ăn sâu vào trong tâm thức
của con người rất khó thay đổi nên không dễ theo kịp sự thay đổi và phát triển.
Hơn nữa, yêu cầu của công nghiệp hóa và hiện đại hóa cùng rất nhiều tri thức
khoa học được phát minh đòi hỏi cách nhìn nhận, đánh giá chính xác thì tâm lý
bảo thủ sẽ trở thành lực cản rất lớn đối với sự phát triển. Bản thân pháp luật phải
vận động và biến đổi theo các điều kiện kinh tế- xã hội nên sự trì trệ trong tâm lý
“trọng tình, duy tình”của người Việt vốn ưa sự ổn định sẽ không thể đáp ứng
kịp. Sự không bắt nhịp kịp các quá trình quốc tế hóa làm cho thiệt thòi thường
nghiêng về phía chúng ta. Người Việt nam không thực sự tin tưởng vào những gì
công đồng dân cư, “phép vua thua lệ làng”. Người Việt tiếp nhận pháp luật với
một thái độ nghi ngờ và không tự giác một phần theo tập quán, phần vì sự ngại
đổi mới. Người ta “dĩ hòa vi quý”, “chín bỏ làm mười”, “một điều nhịn, chín
điều lành” mà bỏ qua cho nhau dẫn đến cả sự dung túng những lỗi lầm. Các
tranh chấp xã hội xảy ra cũng được giải quyết bằng tình cảm vì người ta ngại
“đáo tụng đình” nên nhiều quan hệ xung đột không được giải quyết dứt điểm
bằng pháp luật, không thích “vạch áo cho người xem lưng” kể cả khi đã có thiệt
hại cho bản thân. Khi có sự bất công, nhất là khi nó đến từ phía các cơ quan công
quyền thì có thói quen trong nếp nghĩ “con kiến mà kiện củ khoai” vì không tin
vào pháp luật. Mô hình tổ chức dân cư của người Việt, đặc biệt là ở nông thôn
Bắc bộ được thể hiện khá đậm nét ở các công xã nông thôn sau những lũy tre
làng làm cho tính cục bộ địa phương trở nên có tính phổ biến. Quan hệ quần cư
bền vững có nhiều điểm tốt là tạo ra sức mạnh cho cộng đồng nhưng làm cho
người ta dễ bao che cho người cho nhau vì sợ điều tiếng hoặc bị tẩy chay. Do
vậy, các hành vi tố giác tội phạm gần như không diễn ra mặc dù đó là hành vi
phạm tội đã được luật hình sự quy định. Trong trường hợp này thì người ta còn
sợ dư luận hơn cả hình phạt.
2.2. Sự phát triển của các điều kiện kinh tế – xã hội.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang được tiến hành với những
thành tựu đáng kể của nó đã và đang tác động đến các yếu tố truyền thống, trong
đó nhiều giá trị truyền thống tiếp tục được phát huy nhưng cũng có không ít các
yếu tố truyền thống bị thay đổi, đào thải. Lối tư duy cũ, đặc biệt là tư duy tiểu
nông trở thành lực cản đáng kể đến việc tiếp nhận cách thức quản lý mới của xã
hội, việc tiếp nhận khoa học kỹ thuật tiên tiến. Nếu có cơ hội mà không phải
dùng đến pháp luật thì người ta nhất đinh không dùng đến pháp luật.
Việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại càng cần hơn sự hiểu biết và
vận dụng pháp luật. Ở Việt nam, tiền lệ pháp chưa chính thức được sử dụng như
một nguồn luật, trong khi đó chúng ta vẫn phải chấp nhận các phán quyết trong
được triển khai, việc thực hiện pháp luật của các cơ quan công quyền trong bộ
máy nhà nước càng được giám sát chặt chẽ đã tác động tích cực đến cả phía công
dân cũng như cơ quan công quyền về trách nhiệm của họ nên pháp luật càng có
điều kiện được thực hiện một cách thuận lợi.
2.4. Hệ thống pháp luật.
Hệ thống pháp luật Việt nam trong thời gian gần đây đã đáp ứng ngày
càng tốt hơn các yêu cầu của đời sống xã hội. Tuy nhiên, pháp luật của chúng ta
còn thiếu và chưa đồng bộ. Việc ký kết nhiều điều ước quốc tế, nhất là trong lĩnh
vực thương mại đã làm cho pháp luật của chúng ta có sự sai biệt nhất định mà
chắc chắn trong một thời gian ngắn chúng ta chưa thể sửa đổi và bổ sung kịp.
Việc áp dụng pháp luật gặp không ít khó khăn nhất là khi trong các văn bản pháp
luật của chúng ta thường có một quy định mang tính tình thế, đại thể là nếu
những quy định trong văn bản có sự khác biệt với điều ước quốc tế mà Việt nam
tham gia thì sẽ thực hiện theo điều ước quốc tế. Chúng ta chưa thừa nhận tiền lệ
pháp là nguồn để áp dụng cho việc giải quyết các vụ việc pháp lý nhưng vẫn
chấp nhận các phán quyết của các cơ quan tài phán nước ngoài có sử dụng án lệ.
Điều này làm cho cả hai phía Việt nam cũng như phía nước ngoài thấy không
thỏa mãn nhất là về phía Việt nam khi chưa chuẩn bị tinh thần cũng như điều
kiện con người cho tình trạng này. Việc chuyển đổi pháp luật này còn đòi hỏi
một đội ngũ các nhà tư vấn pháp lý được đào tạo bài bản, có trình độ để tranh
tụng quốc tế cũng như việc chúng ta phải chủ động trong việc thừa nhận và tạo
ra án lệ.
2.5. Hệ thống chính trị.
Gần đây, hệ thống chính trị Việt Nam có khá nhiều đổi mới. Nhận thức về
nhiệm vụ chính trị của mỗi thiết chế trong hệ thống đã trở nên rõ ràng hơn. Việc
tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cũng như hiểu
biết pháp luật cho các thành viên đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Sự tồn tại
của hệ thống chính trị đã tạo ra một cơ chế kiểm soát khá tích cực đối với các
Xã hội ngày càng phát triển, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao,
pháp luật ngày càng chứng minh được giá trị của nó trong cuộc sống. Hy vọng
những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật sẽ phát huy tác dụng tích
cực, những tác động tiêu cực của nó sẽ bị hạn chế để việc thực hiện pháp luật sẽ
trở thành một lối sống của người Việt Nam hiện đại trong yêu cầu của việc xây
dựng một nhà nước pháp quyền xã hội hội chủ nghĩa.