MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………….. .1
2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………... . 2
3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………….2
4. Phạm vi nghiên cứu ……...………………………………………………2
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………2
2. Nội dung sáng kiến
2.1. Cơ sở lí luận……………………………..………………………………….3
2.2. Thực trạng vấn đề…………………………………………………………..7
2.3. Các giải pháp
2.3.1. Xuân Quỳnh- Cuộc đời gửi lại trong thơ………………………………8
2.3.2. Xuân Quỳnh- Cuộc đời và thơ ca …………………………………….11
2.3.3. Nhịp điệu trong bài Sóng- Sự độc đáo, mới lạ ………………………15
2.4. Kết quả thu được……………………………………………………............18
3. Kết luận……….…………………………………………………………. ….20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mở đầu
1
1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1. Vẻ đẹp của văn chương luôn ẩn ở đằng sau những lớp ngôn từ. Văn
chương ngôn từ để miêu tả, cảm nhận và khái quát tất cả những gì đang diễn ra
trong cuộc sống. M. Goorki nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Đối
với người nghệ sĩ sử dụng ngôn từ luôn luôn là điều trăn trở. Bởi vậy những đứa
con tinh thần được họ sản sinh ra thường mang đến cho độc giả niềm vui và niềm
đam mê khám phá.
1.1.2. Sử dụng nhịp điệu trong thi ca có sự thu hút lôi cuốn đặc biệt vì từ ngữ
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Tìm hiểu nhịp điệu trong bài Sóng ở chương trình ngữ văn THPT.
- Trên con đường bình thơ, chủ yếu ttimf hiểu nhịp điệu.
- Đối tượng là HS THPT
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài với khả năng có hạn, tôi sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp thống kê, miêu tả
- Phương pháp tổng hợp khái quát, hệ thống hoá kết hợp với phương pháp
phân tích ngôn ngữ văn học.
1.5. Những điểm mới của SKKN
Từ khi áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy, tôi thấy có sự chuyển biến
rõ rệt. Học sinh hiểu bài, yêu thích bộ môn hơn. Ngoài học bài Sóng, các em còn
sưu tầm nhiều bài thơ cùng đề tài và thuộc nhiều bài thơ của nữ sỹ Xuân Quỳnh.
Đặc biệt cảm nhận được nhạc điệu, từ đó đọc điễn cảm theo những cung bậc cảm
xúc của Sóng như chính những khát khao cháy bỏng trong hồn thơ của chị.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận
3
Giáo sư tiến sĩ Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa”(NXBĐHQG-1997): - Đối với người Việt Nam thông thường buổi chiều mặt trời xuống
núi vì nước Việt nam tựa lưng vào miền núi phía Tây mà ngoảnh mặt ra phía
Đông thành ra cách nói “Mặt trời xuống biển” (Huy Cận) rất bất ngờ. Song đó là
cách nói thực. Bởi vì lúc này vị trí đoàn thuyền đã ở giữa biển cả. Đã ở giữa biển
thì mặt trời lặn hay mọc đều trên biển. Câu thơ mở đầu vẽ ra cảnh trời đất mênh
mông bốn bề bao phủ đoàn thuyền đánh cá nhỏ nhoi. Không nói được cái thực đó
Thơ đọc lên phải nghe lọt tai. Nhạc thơ ru ta theo điệu hồn của nghệ sĩ. Người
sành thơ thường dị ứng với kiểu thơ ngang ngang trúc trắc về tình ý. Khi những
bài thơ thiếu tính nhạc rơi vào quên lãng ta mới hiểu thêm rằng mọi sự ngừng
ngắt trong tổ chức lời thơ chỉ đơn thuần thuộc về kĩ thuật kĩ xảo làm thơ đều bị
nàng thơ từ chối
Một số lí thuyết gia và thi sĩ tuyên bố: thơ đã được giải phóng khỏi nhạc
nhịp và vần điệu.Nhưng trên thực tế họ đã làm nghèo đi khả năng biểu hiện của
thơ. Trong tiềm thức của không ít người thơhoặc tính thơ luôn thuộc về loại hình
ngôn ngữ có tiết tấu nhịp điệu. Tư duy thơ khác tư duy văn xuôi. Văn xuôi
không có tiết tấu vần nhịp. Văn xuôi chỉ có tiết tấu nhịp điệu khi nó đã " bị thơ ca
gặm nhấm"(Claude Montel). Tiết tấu vần nhịp trong văn- nếu có- thường bị gián
đoạn. Còn trongthơ nhịp nhạc vần điệu vận động khá đều đặn theo một chu kì
quy luật nào đó. Một đằng thuộc thủ pháp nghệ thuật có cũng được không cũng
chẳng sao. Còn đằng kia thuộc về bản thể về sự sống. Thơ tìm tòi tiết tấu hướng
tới sự gián đoạn trong chuỗi ngữ lưu liên tục. Thơ gây ấn tượng bằng việc lệch
chuẩn nhịp điệu. Thơ phá huỷ tính chất tuyến tính của thời gian. Thơ hướng về ấn
tượng ban đầu nên tìm tới các hình thức chuyển nghĩa. Văn xuôi nhằm vào kết
thúc khái quát nên tìm mọi cách thức tạo nghĩa. Thơ liên tục tạo ra các kí
hiệu biểu đạt còn văn xuôi liên tục xác lập hệ qui chiếu. Sự biểu đạt ý tứ bằng
hình thức tiết tấu nhịp điệu do vậy khiến cho lời thơ không cần phải kéo dài như
câu văn xuôi lời thơ dứt khoát. Người xưa nói "ý tại ngôn ngoại" có lẽ còn muốn
nhấn mạnh rằng: ý tứ nằm ở tiết tấu vần nhịp. Chính tiết tấu nhịp điệu góp phần
tạo ra ý thơ phong phú. Sự thu hẹp "vương quốc thơ" sự mở rộng ranh giới văn
xuôi hoặc sự chuyển dịch của hai hệ thống đó vào nhau khiến nhiều người nhầm
tưởng vần nhịp không còn quan trọng đối với thơ nữa. Thơ dù biến đổi đến đâu
vẫn giữ cho mình những yếu tố nòng cốt đảm bảo cho sức sống bất tử của thể loại
5
khiến nó tồn tại với tư cách phát ngôn thơ chứ không phải văn xuôi đơn thuần.
động của sự vật hiện tượng; theo ngữ điệu phát ngôn ở từng nhân vật .Mỗi dòng
thơ câu thơ được tổ chức theo qui luật câu hát. Ngâm thơ cũng luyến láy ngừng
nghỉ kéo dài và lướt nhẹ một số âm tiết nào đó.
Tổ chức nhịp điệu trong một bài thơ như thế nào phụ thuộc vào tư duy thơ
ở từng tác giả. Tổ chức nhịp thơ thuộc về hệ thống biểu hiện nghệ thuật. Cả vần
lẫn nhịp đều biểu đạt tư tưởng cảm xúc...Bỏ qua nhịp điệu độc giả không thể "gọi
tên sự vật" một cách đầy đủ. Người ta có thể chủ trương thơ không vần nhưng
nhịp thơ thì không bao giờ mất đi trong thi phẩm . Nhịp thơ trước hết được lĩnh
hội bằng trực giác. Song không vì thế mà mất đi sự tinh tế bí ẩn của thơ. Những
cấu trúc nhịp sáng tạo luôn hấp dẫn mời gọi độc giả cắt nghĩa. Giá trị của bài thơ
không chỉ xét ở nội dung tư tưởng mà chủ yếu ở điều: khiến cho bài thơ trở thành
một tác phẩm nghệ thuật. Nhịp thơ tham gia vào quá trình đó bằng cách tạo ra
những giá trị thẩm mỹ đặc sắc ở từng khuôn nhịp cụ thể. Phát hiện ra ý nghĩa của
nhịp thơ giúp độc giả tiếp cận với chiều sâu và vẻ đẹp toàn vẹn của đối tượng
miêu tả. Thích một bài thơ trước hết hứng thú với cái âm vang của ngôn từ nhịp
điệu.Có giai điệu thơ buồn thương u hoài có giai điệu sôi nổi rạo rực. Giai âm
khoan thai đan lồng với gấp gáp. Nhịp thơ đặc trưng bằng sự phân bố của các âm
thanh thuộc hai nhóm thanh điệu cao thấp tương tự với đường nét trong tác phẩm
hội hoạ và giai điệu trong nhạc phẩm. Trong âm nhạc tiết tấu biểu hiện ở dáng
đi(bộ điệu)câu nhạc. Khái niệm "tiết tấu" trong âm nhạc và khái niệm "bước thơ"
trong thơ khá gần nhau.
Nhịp điệu nằm bên trong bản thân kiến trúc ngôn từ và qui định kiểu kiến
trúc ấy.. Nhịp thơ một mặt thoả ước tuân theo qui luật khách quan của thể loại
mặt khác vận động theo qui luật trái tim hơi thở con người. Hình thái nhịp điệu
hiện thực hoá cấu trúc ý thơ tứ thơ. Đường nét vận động của nhịp điệu ngữ điệu
thể hiện rõ tính nhạc của ngôn từ. Phổ nhạc cho thơ cần thiết như phổ thơ cho
nhạc.Không phải ngẫu nhiên bước sang thế kỉ XX nhiều nghệ sĩ đã cố gắng kết
hợp hiệu quả hơn nữa âm nhạc với thơ ca. Họ cố gắng để cho giai điệu tiết tấu
Văn không còn tính thiết thực hoặc không yêu thích bộ môn này, nên các em chỉ
học qua loa, đối phó.. Cũng như phân tích tác phẩm không cặn kẽ, thấu đáo, đặc
biệt là tính nhạc trong thơ. Vì vậy với kinh nghiệm tìm hiểu nhạc điệu trong bài
8
Sóng phần nào giúp GV và HS có cái nhìn toàn diện hơn về nét độc đáo, mới lạ
và tạo hứng thú hơn trong giờ học văn.
2.3. Các giải pháp
2.3.1.Xuân Quỳnh- Cuộc đời gửi lại trong thơ
Xuân Quỳnh, một cô gái mồ côi nghèo khổ: lớn lên giữa một thời kì đất nước
phài đương đầu với vô vàn khó khăn về kinh tế, về chiến tranh… Nhưng Xuân
Quỳnh, khác nào một cây xương rồng kiên cường và kì diệu trên sa mạc, đã vắt
kiệt sức mình để nở những bông hoa quý cho cuộc đời.
Thế hệ các nhà thơ này hoàn toàn thuộc về thời kì “lịch sử dân tộc vừa lật
sang trang mới” (cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi). Sau lưng họ,
thời đại phong kiến thuộc địa đã bị đẩy lùi vào dĩ vãng. Trước mắt họ là cả một
chân trời vô cùng xán lạn của đất nước đang bắt đầu bước vào thời kì phục hưng.
Họ là những “con người mới” của thời đại phục hưng ấy.
Phải trải qua nhiều thập kỉ thai nghén, lịch sử và đất nước mới sản sinh ra
được những con người tài hoa và xuất chúng như cặp Xuân Quỳnh- Lưu Quang
Vũ. Nói như Nguyễn Công Trứ, họ chính là “khí đẹp của con sông chung đúc lại”
(Dã thị giang sơn chung tú khí). Cuộc hôn nhân của Xuân Quỳnh và Lưu Quang
Vũ là cái duyên tất yếu của hai tài năng. Chị đã có những giây phút thăng hoa
trong tình yêu nhưng cũng có những lúc phải đóng vai của một người hạnh phúc.
Phải chăng đó là một tình yêu, mà tạo hóa, không ai tạo ra nổi.
Xuân Quỳnh, một cô gái mồ côi nghèo khổ: lớn lên giữa một thời kì đất
nước phài đương đầu với vô vàn khó khăn về kinh tế, về chiến tranh… Nhưng
Xuân Quỳnh, khác nào một cây xương rồng kiên cường và kì diệu trên sa mạc, đã
vắt kiệt sức mình để nở những bông hoa quý cho cuộc đời.
Trái tim em, anh đã từng biết đấy
Anh là người coi thường của cải
Nên nếu cần anh bán nó đi ngay”
(Tự hát)
Với những dòng thơ sau đây, Xuân Quỳnh thổ lộ tâm tư nhưng chính là để tự
khẳng định mình trước một người chồng mà chị biết anh ta vốn không phải là
hạng “gà mờ”:
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ước
10
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêu”
(Tự hát)
Cổ nhân nói “Nhất cố khuynh nhân thành, tái cổ khuynh nhân quốc”
(Ngó một lần nghiêng thành người, ngó lần nữa đổ nước người), để khẳng định
cái mãnh lực bất khả kháng của sắc đẹp. Riêng Xuân Quỳnh thể hiện cái mãnh
lực của mình bằng những lời nói sâu sắc. những lời nói ấy theo cách ví von của
Vôn- te, có thể làm cho những trái tim bằng đồng cũng phải mềm nhũn ra! Xuân
Quỳnh nhận thức được tính bi kịch vĩnh cửu của cuộc sống: đó là sự ngắn Ngoài
đạo đức cao quý và tình cảm sâu sắc, chính trí tuệ sáng suốt, lànhmạnh là sức
mạnh thần kì đã nâng đỡ Xuân Quỳnh trong những bước khó khăn, giúp chi tồn
tại, chịu đựng được cả những chà xát của cuộc sống trần gian, làm cho tài năng
của chị thăng hoa. Xuân Quỳnh là người chiến thắng tất cả, vượt qua tất cả để
hướng về phía hạnh phúc chói lọi và tuyệt vời của tình yêu và sự nghiệp. Chị
cũng là người biết giữ gìn và biết tận hưởng hạnh phúc cuộc sống ở mức tối đa có
thể được hưởng. Xuân Quỳnh là đỉnh cao của những con người “nhân bản chủ
nghĩa” thời hiện đại.
“Thơ tình tôi viết cho tôi
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu”
(Thuyền và biển)
Một điều nổi bật trong thơ Xuân Quỳnh là chị không chỉ yêu say đắm mà còn đặt
tình yêu lên ngai vàng của sự tôn thờ tuyệt đối. Xuân Quỳnh rất có lí: ở cõi đời
này tình yêu chẳng phải điều thực sự đáng tôn thờ hay sao? Vả chăng Xuân
Quỳnh, bằng tất cả những phẩm chất hội tụ trong con người mình, chị đã đạt
được một mối tình yêu đáng tôn thờ. Người chồng, trong mắt Xuân Quỳnh, lúc
nào cũng như một người tình mà chị yêu đắm đuối, cũng cảm thấy như chàng có
thể vuột khỏi tay:
“Anh, con đường xa ngái
Anh, bức vẽ không màu
Anh, nghìn nỗi lo âu
Anh, dòng thơ nổi gió
12
Mà em người đời thường
Biết là anh có ở!”
(Anh)
Ai cũng nói thơ Xuân Quỳnh ngày một hay hơn. Có một nghịch lí trong
thơ chị. Đó là càng hạnh phúc thì lại càng lo âu khắc khoải. Và càng lo âu khắc
khoải thì lại càng đắm say, da diết. Cũng vì tôn thờ tình yêu thái quá, có lúc Xuân
Quỳnh đã có linh cảm chẳng lành về hạnh phúc của mình. Thơ của chị ngày càng
ám ảnh, nung đốt lòng người.
“Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập những điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào trong cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn…”
ngủ…). Lẽ tự nhiên, một người sinh ra đã chịu đựng nỗi chơ vơ, côi cút, thiếu
thốn một phần tình cảm của người thân thì giờ đây Xuân Quỳnh như đang muốn
bù đắp lại ít nhiều, muốn những người thân luôn được yêu thương. Chị đã chịu
đựng những mặc cảm côi cút. Vì thế, có thể thấy rằng: cuộc đời và thơ Xuân
Quỳnh là một nỗ lực vượt thoát nỗi chơ vơ định mệnh đó. Chính vì thế mà chị
suốt đời yêu thương, luôn thường trực ở hồn thơ này một khát khao đến khắc
khoải: khát khao được gắn bó và che chở. Dĩ nhiên ở một người bản tính nhân
hậu, chuyện ấy là song phương: vừa được gắn bó với đời vừa được đời gắn bó,
vừa che chở người và được người chở che. Đó là nội dung hệ trọng của hạnh
phúc theo quan niệm của Xuân Quỳnh. Và đời chị là hành trình tìm kiếm hạnh
phúc như thế. Chị phải trở thành thi sĩ của tình yêu, phải đặt kì vọng vào tình yêu,
điều ấy dường như là tất yếu. Bởi vì tình yêu vừa là cứu tinh vừa là cứu tinh vừa
là cứu cánh của thi sĩ. Chị gửi tình yêu vào thơ như một nỗi niềm, một tâm sự sâu
lắng. Đó là những bài thơ giản dị, chân xác, đôi khi chỉ bằng một câu hỏi tưởng
như bâng quơ cũng đã mở ra một thế giới tình yêu đầy biến động. Trước Xuân
Quỳnh chưa có một người phụ nữ nào làm thơ bằng những lời cháy bỏng, tha
thiết và nồng nàn đến vậy. Tình yêu trong thơ chị đẹp và trong sáng quá. Dù có
những gian truân cách trở, nhưng bao giờ cũng trọn vẹn, cũng đến được những
tận cùng hạnh phúc như con sóng nhỏ đến với bờ xa. Tình yêu với Xuân Quỳnh,
trước nhất, cao nhất và sâu xa nhất không thể là gì khác hơn một “sự gắn bó giữa
14
hai người xa lạ”, “bằng tình yêu không thể tách rời, khi đó em là máu thịt của anh
rồi- nếu cắt đi em sẽ ngàn lần đau đớn”. Chị nghiệm ra bản chất máu thịt ấy ở cả
sóng và bờ, đồi đá ong và cây bạch đàn, con đường và bàn chân, đường ray và
con tàu, tình yêu và thi ca… mà đậm chất nhất là thuyền và biển. Thế là, còn
thiêng liêng hơn cả những thủy chung, những duy nhất, tình yêu với Xuân Quỳnh
là niềm khát khao được gắn bó với con người và cõi sống này.
Tuy không sinh ra và lớn lên từ quê biển, nhưng cảm xúc về “biển”, về
Tình yêu là đề tài muôn thưở của thơ ca. Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã viết về
tình yêu bằng một cảm hứng mãnh liệt, in đậm dấu ấn tâm hồn, tư tưởng và
phong cách nghệ thuật của mình. Xuân Diệu trước đó đã mượn hình tượng
“sóng” để diễn tả những cảm xúc, tâm trạng, những sắc thái tình cảm vừa phong
phú phức tạp, vừa that thiết sôi nổi của một trái tim phụ nữ đang rạo rực, khao
khát yêu đương.
Ngay ở khổ thơ đầu, loạt từ láy “dữ dội”, “ồn ào”, “lặng lẽ” được sử
dụng đi kèm với: “dịu êm” như là cung bậc cảm xúc của người con gái vậy. Đọc
cả khổ hiện lên trước mắt chúng ta hình tượng của “sóng”, của cung bậc cảm xúc
khi nghĩ về anh. Sự hào hoà trong câu chữ cũng như trong ngữ nghĩa: “dữ dội và
dịu êm”, “ồn ào và lặng lẽ”, ta tưởng như nó đối nhau vậy mà lại không như vậy.
Chúng là những cặp “bài trùng” bổ trợ cho nhau. Bên cạnh đó việc sử dụng nhịp
thơ 2/3 và 3/2 đã mô phỏng và tái tạo được đặc thù của sóng luôn biến đổi không
ngừng. Ngôn từ được tổ chức theo lối, tương ứng, hô ứng, trùng điệp. Nhất là
việc tạo ra các cặp từ, các vế câu, các cặp câu, thậm chí ngay cả các khổ thơ cũng
hình thành những cặp đi liền kề, kế tiếp luân phiên đắc đổi nhau về bằng trắc nữa,
làm cho chúng ta như đang lướt trên sóng vậy, lúc lên lúc xuống, nối tiếp nhau,
gối đầu và xô đẩy nhau đến tận bất tận. Đứng trước biển cả bao la chúng ta có
cảm tưởng mình như những hạt cát bé nhỏ. Biển mãi còn đó như một mình chúng
đi ngược với thời gian. Biển trường tồn bất tận. Đối diện với sự bất diệt của biển,
16
người ta liên tưởng đến sự bất diệt của khát vọng. Chừng nào còn tuổi trẻ thì khát
vọng tình yêu vẫn tràn trề trong họ. Và những khổ thơ tiếp theo ta thấy đó là sự
giãi bầy tình cảm, lấy đòn bẩy là sống để nói lên tâm trạng của em khi nghĩ về
anh và tình cảm của chúng ta:
“Ôi con sóng ngày xưa
………..
Dù muôn trùng cách trở”
Sóng\ tìm ra \ tận bể ( 1/2/2 )
Từ nơi nào\ sóng lên ( 3/2 )
Ôi\ con sóng\ ngày xưa( 1/2/2 )
Và\ ngày sau \ vẫn thế ( 1/2/2 )
Nỗi\ khát vọng tình yêu ( 1/4 )
Bồi hồi\ trong ngực trẻ ( 2/3)
17
- Đoạn thứ nhất là lời kể nên đọc chậm vừa, thể hiệ sự bồi hồi, hình dung đường
nét, tâm trạng. Đọc chủ yếu ngắt theo nhịp 2/3.
- Đoạn hai giọng đọc kể, có tính chất hồi tưởng nên đọc chậm, đặc biệt câu 1, 2
ngắt nhịp 1 – 2 – 2 nhấn mạnh ở từ “ ôi”, “ và”còn lại đọc chậm hơn đoạn thứ
nhất thể hiện sự bâng khuâng xao xuyến gợi không gian, thời gian kỷ niệm.
- Đoạn 3, 4: Ngắt nhịp 4/1 và 3/2, đọc nhanh thể hiện tâm trạng thổn thức mãnh
liệt của một trái tim tuổi trẻ giàu khao khát.
- Hai đoạn cuối bài đọc ngắt nhịp 2/3, đọc giọng trầm và chậm, thể hiện nỗi phấp
phỏng, lo âu đó cũng là khao khát tình yêu cháy bỏng.
Bằng nhịp thơ ngắn ( chủ yếu là nhịp chẵn 2/4, xen kẽ nhịp lẻ 1/3/5 )
- Giọng điệu thủ thỉ, da diết và cách sử dụng nhuần nhuyễn cặp tiểu đối trong thể
thơ năm chữ, Xuân Quỳnh đã thể hiện một khát vọng tình yêu tuổi trẻ nồng nàn,
đồng thời khẳng định triết lý nhân sinh cao đẹp, đó là khát vọng được hoá thân
cho tình yêu vĩnh cửu.
Từ ngữ nối lên nhau, những điệp từ như “em nghĩ”, “bắt đầu”, “con
sóng”, “dẫu” làm cho ta có cảm tưởng mạch suy nghĩ của người con gái không
ngừng nghĩ, hết lớp này đến lớp khác, lúc quyết liệt lúc lại trữ tình. Đó chính là
những cung bậc của tình yêu. Lấy hình ảnh, tính chất, đặc điểm của sóng để so
2. 4. Kết quả đạt được
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng triệt để phương pháp khai thác từ ngữ
đối với HS lớp 11A3 và lớp 11A5 (2015 -2016). Kết quả phần lớn các em đều
hứng thú học tập hơn. Các em phát huy được vai trò chủ động học tập của mình
bằng cách phát biểu ý kiến, trao đổi với giáo viên. Hầu hết các em đều hiểu bài.
Kết qủa cụ thể bài kiểm tra
Lớp
Điểm
9 - 10
8
7
5-6
Dưới 5
11A3 (sĩ số 40)
11A5 (sĩ số 39)
1
3
6
20
10
0
5
7
18
9
XÁC NHẬN CỦA BGH NHÀ TRUỜNG
Thanh Hóa, ngày 5 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác
Người viết
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trên con đường bình thơ - Nhà xuất bản GD, Vũ Dương Quỹ,
2. Đinh Gia Khánh ( 1976), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Nxb Văn học. Hà Nội
3. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội
4. Nguyễn Đăng Mạnh - Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn- Nxb
Giáo dục
5. Nguyễn Đăng Mạnh, Bài giảng về tác gia trong văn học hiện đại Việt Nam,
Nxb Giáo dục ,1999
6. Hoàng Văn Thành, Từ láy trong Tiếng Việt. Nxb Giáo dục 1981, Hà Nội
7. Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
8. Đoàn Thiện Giáp - Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
9. Phan Trọng Luận ( Tổng biên tập), Sách giỏo khoa Ngữ Văn 12, Nxb Giáo dục
Việt Nam
21
-
22