MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU...........................................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu:...........................................................................................3
Một số khái niệm, căn cứ lý thuyết để hình thành sáng kiến kinh nghiệm:....................3
2.3.1. Phương pháp sử dụng các thiết bị vật lí của máy tính để mô tả trực
quan...............................................................................................................5
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại hiện nay, thời đại của nền kinh tế tri thức, trong đó yếu tố
con người trở thành nguồn nhân lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước.
Và phương tiện cho sự phát triển đó chính là tri thức công nghệ - Tin học đóng
vai trò then chốt cho sự sáng tạo, mở đường, thúc đẩy cho sự phát triển các
ngành các lĩnh vực khác. Nhận thức được điều đó Đảng và Nhà nước đã chính
thức đưa bộ môn tin học vào các nhà trường giảng dạy từ năm 2006. Đến nay,
môn Tin học cũng giống như nhiều môn học khác ở trường THPT, nó có một vị
trí đặc biệt không thể thiếu được trong quá trình lĩnh hội tri thức của nhân loại.
Trong những năm gần đây, việc thay sách giáo khoa và mở các lớp bồi
dưỡng, tập huấn của Bộ và của các Sở giáo dục – Đào tạo đồng thời cũng là việc
bồi dưỡng phương pháp giảng dạy mới đã hoàn chỉnh từ cấp Trung học cơ sở
đến bậc Trung học phổ thông. Theo các nhà chuyên môn thì một trong những
tình trạng học sinh yếu kém đó là do “Phương pháp giảng dạy chưa tốt”. Nghị
quyết Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam cũng luôn nhấn mạnh cần phải đổi
mới chương trình và phương pháp giảng dạy để ngày càng đạt chất lượng cao,
đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước ta. Như vậy, phương pháp giảng dạy
trong quá trình lên lớp của giáo viên ở nhà trường có tầm quan trọng đặc biệt,
nếu không muốn nói là có ý nghĩa quyết định, vì người giáo viên dù có chuẩn bị
nội dung phong phú và chu đáo đến đâu đi nữa nếu không sử dụng đúng phương
pháp giảng dạy thì chắc chắn sẽ làm cho khả năng tiếp thu kiến thức của học trò
bị hạn chế và kết quả sẽ không đạt được như mục tiêu đề ra trong tiết học.
Với chủ trương của giáo dục: lấy học sinh làm trung tâm, người thầy
đóng vai trò dẫn dắt học sinh, đồng thời hướng dẫn các em để cho các em và làm
được bài. Muốn học sinh hiểu được, thì giáo viên phải nghiên cứu cách giảng
dạy, làm sao truyền đạt được đúng, đủ kiến thức, nhưng phải dễ hiểu nhất, cụ thể
nhất. Giáo viên phải thật sự tận tâm, nhiệt huyết với bài dạy thì cũng mới truyền
được cảm hứng học tập cho các em, tránh được sự mệt mỏi, buồn ngủ, nhàm
chán của tiết học. Khi học sinh đã hiểu, nắm vững kiến thức của bài học, thì các
em có thể thực hành một cách dễ dàng.
Đề tài được xây dựng nhằm mục đích đưa ra những phương pháp mới,
cách dạy mới để giúp các tiết học tin trở nên sinh động hơn, hào hứng, khơi dậy
sự sáng tạo. Không những kích thích các em học tập môn tin mà còn tạo cho các
em sự hứng khởi, say mê học tập, truyền lửa cho các em để các em có tinh thần
phấn chấn, tập trung học tập tiếp thu tốt các kiến thức của môn học khác.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dung và kiến thức chương trình Tin học phổ thông, cụ
thể là tin học 10
- Nghiên cứu về kỹ năng, phương pháp dạy học, đổi mới theo hướng tích
cực, lấy học sinh làm trung tâm
- Nghiên cứu tâm sinh lý của học sinh THPT
- Tổng kết các phương pháp đã áp dụng mang lại hiệu quả dạy học các lớp
học ở trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Các kiến thức tin học, tin học 10, các
tài liệu về giáo dục học, tâm lý học.
- Tham khảo tài liệu về phương pháp dạy học, mô hình dạy học
- Thu thập thông tin, khảo sát thực tế, phân tích đánh giá...
- Kết hợp thực tiễn giáo dục ở trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Một số khái niệm, căn cứ lý thuyết để hình thành sáng kiến kinh nghiệm:
môn tin nói riêng, bản thân tôi và các giáo viên trong tổ tin học luôn trau dồi
kiến thức, học hỏi, thảo luận và góp ý kiến cho nhau. Học sinh thì rất thích học
tin học, các em ham học hỏi, khám phá và mong muốn tìm hiểu cái mới.
Bên cạnh đó, tôi cũng nhận thấy một số khó khăn trong quá trình dạy học
tin học tại trường:
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn chế, số lượng phòng máy
và máy tính chưa đủ để đáp ứng nhu cầu dạy học.
- Phần lớn là học sinh nông thôn, ven biển, bố mẹ bận việc và thường
xuyên đi làm ăn xa, ít có điều kiện quan tâm đến việc học hành của con. Gia
đình các em hầu như chưa có máy tính, nên khả năng tự thực hành, ôn bài ở nhà
khó.
- Các em học sinh khi tiếp xúc với tin học 10, đa số đều bỡ ngỡ vì lần đầu
tiên được biết đến máy tính, chưa biết cách sử dụng máy tính.
- Một số học sinh có tư tưởng môn tin học là môn phụ, không thi đại học,
không thi tốt nghiệp nên các em có suy nghĩ học đối phó, không chú trọng.
- Số tiết thực hành trong chương trình sách giáo khoa còn chưa đủ, học sinh
chưa kịp làm quen với thao tác thực hành máy tính thì thời lượng giành cho tiết
4
thực hành đã hết, nên chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng, dẫn đến học sinh
cảm thấy không hứng thú học dẫn đến chán học dẫn đến lười học dẫn
đến không hiểu bài, kết quả thấp.
- Tin học lớp 10 phần lớn là lý thuyết kết hợp với thực hành nhưng nhiều
giáo viên chỉ đơn thuần khai thác kiến thức như lâu nay chúng ta vẫn làm - dạy lý
thuyết trên lớp đến bài thực hành học sinh mới được thực hành, khi đó bài học trở
nên khó gợi được hứng thú tích cực cho học sinh, vì khi đó học sinh gần như quên
lý thuyết, phải giở sách vở xem lại rồi mới thực hành được.
2.3. Một số phương pháp đã tiến hành để nâng cao chất lượng tin học 10
ở trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên
5
SKKN: Trước hết tôi mang lên lớp học 1 cây máy tính nguyên vẹn để
giới thiệu cho học sinh và cũng chỉ ra rằng cây máy tính sẽ hoạt động nếu có
nguồn điện, ta sẽ được thấy các chương trình của máy tính (chính là phần mềm
máy tính) khi có màn hình.
Hình ảnh một số cây máy tính
- Đồng thời tôi mang lên lớp các thiết bị rời của máy tính như ổ cứng, ổ mềm,
ổ đĩa CD, mainboard, thanh ROM, RAM, CPU.... (các thiết bị này lấy từ
máy tính khác, có thể lấy các thiết bị đã hỏng.
6
- Mỗi thiết bị sẽ được giáo viên
nêu tên, tác dụng và vị trí đặt
thiết bị trong cây máy tính (giáo
viên sẽ mở nắp của cây máy tính
để chỉ cụ thể vị trí của từng thiết
bị cho học sinh quan sát)
- CPU là thành phần quan trọng, Giáo viên nêu chức năng của CPU, chỉ rõ vị
trí của CPU, và khẳng định CPU không phải là cây máy tính giống như một
số em nhầm tưởng.( Nếu có thể, giáo viên có thể mang một số loại CPU để
các em quan sát và giải thích những ảnh hưởng của CPU tới cấu hình máy)
* Nhiều học sinh mơ hồ khi phân biệt Bộ nhớ trong và Bộ nhớ ngoài. Các em
không mất đi
Sau khi dạy xong tôi đưa ra một số câu hỏi, và đa phần các em đều trả lời
đúng:
Câu 1: Em hãy cho biết máy tính gồm bao nhiêu bộ phận?
Câu 2: CPU là gì? Tầm quan trọng của CPU như thế nào? Em biết các hãng sản
xuất CPU hiện nay không?
Câu 3: CPU có phải là cây máy tính không?
Câu 4: Em hãy cho biết sự khác biệt giữa Bộ nhớ trong và Bộ nhớ ngoài, kể các
loại của hai bộ nhớ trên?
Tương tự như vậy, khi dạy học sinh về thiết bị vào, thiết bị ra thì tôi cũng
đã mang lên lớp các thiết bị để giới thiệu cho học sinh, nêu rõ tên, tác dụng của
từng thiết bị:
- Thiết bị vào tôi đã giới thiệu cho học sinh thấy: Bàn phím, chuột, webcam,
máy quét
- Thiết bị ra tôi đã giới thiệu cho học sinh thấy: Màn hình mỏng, Máy in, Máy
chiếu thì các em đã được quan sát khi giáo viên bộ môn dạy học, Tai nghe,
loa (nhỏ), Modem.
Thông qua Bài dạy: “Giới thiệu về máy tính” bằng phương pháp sử
dụng các thiết bị của máy tính để mô tả trực quan, nhận được những phản hồi
tích cực từ học sinh. Tôi thấy học sinh rất chăm chú quan sát, thái độ học tập
tích cực, hợp tác, tinh thần sôi nổi. Các em đã có hiểu biết cụ thể về thành phần
của máy tính, không còn nhầm lẫn về tên gọi cũng như chức năng của từng
thành phần.
8
Ví dụ 2: Trong bài 20: Mạng máy tính cũng có rất nhiều thiết bị mạng
liên quan đến kết nối mạng mà học sinh hầu như chưa bao giờ được thấy. Thì
việc để học sinh tận mắt nhìn thấy các thiết bị vật lý về mạng là cần thiết, khi đó
được thực hành ngay phần đó. Hình thức dạy lý thuyết ở phòng thực hành chính
là phương pháp cầm tay chỉ việc, học sinh sẽ được mắt thấy, tai nghe, tay làm,
kết quả học tập sẽ cao hơn.
Ví dụ 1: Bài 11: Tệp – quản lý tệp
Nội dung kiến thức giúp học sinh có khái niệm về tệp và thư mục, phân
biệt tệp thư mục, cách tạo thư mục. Nhưng qua những năm giảng dạy, qua kiểm
tra, tôi nhận thấy nếu học sinh không được thực hành và quan sát cụ thể trên
máy tính thì các em vẫn bị mắc một trong các lỗi sau:
- Học sinh lẫn lộn 2 khái niệm tệp và thư mục. Chưa xác đinh được rõ tệp là
cái nào, thư mục là cái nào trong máy tính.
- Trong thư mục có thể chứa thư mục nhỏ và tệp bên trong nhưng học sinh
cũng nhầm lẫn rằng tệp cũng có thể chứa được thư mục và tệp. (điều này tôi đã
nhận thấy khi cho các em làm bài kiểm tra lý thuyết yêu cầu vẽ cây thư mục)
- Cách viết đường dẫn của cây thư mục nhiều khi chưa chính xác.
Khi dạy bài này, tôi thực hiện tại phòng máy: giáo viên sử dụng máy chiếu
để đưa ra các khái niệm về tệp, thư mục, chỉ rõ hình ảnh về tệp và thư mục trong
máy, yêu cầu các em quan sát máy tính của mình, chỉ ra tệp và thư mục trên máy
đó (giáo viên có thể xuống lớp để hỏi một số em). Giáo viên hướng dẫn các em
tạo thư mục, yêu cầu mỗi học sinh tạo một thư mục với tên và lớp của mình (ví
dụ: Nguyễn Trang – 10B6). Từ ví dụ cụ thể học sinh tạo tệp, tạo thư mục, đặt tên
tệp, thư mục cùng với sự hướng dẫn của giáo viên với các tình huống cụ thể như
đặt tên tệp, thư mục sai, dài, ngắn... học sinh được làm việc trực tiếp với máy
tính.
Giáo viên trình chiếu cây thư mục, yêu cầu học sinh tạo các thư mục, các tệp
theo cây thư mục đó trong máy của mình. Ví dụ:
10
-Từ đó chỉ cho học sinh biêt đâu là thư mục gốc, thư mục con, tệp trong cây thư
lưu văn bản vừa định dạng vào một file văn bản với tên khác. Yêu cầu học sinh
mở lại file văn bản cũ, quan sát 2 văn bản đó => Học sinh sẽ nhận thấy rõ sự
khác biệt của văn bản trước và sau khi định dạng. Từ đó các em sẽ nhận thấy
được ý nghĩa và sự cần thiết của việc định dạng văn bản.
Kinh nghiệm giảng dạy cho thấy: khi thực hành, nhiều em học sinh cứ gõ
được vài từ hoặc một đoạn ngắn thì lại quay sang thao tác định dạng luôn, điều
này cũng không sai nhưng sẽ không khoa học, mất thời gian. Vì vậy, một lưu ý
mà tôi luôn nhắc học sinh đó là: Để soạn thảo được một văn bản nhanh, hoàn
chỉnh, chính xác thì các em nên soạn thảo văn bản trước, có thể soạn từ đầu đến
hết văn bản, rồi sau đó mới tiến hành định dạng, như vậy quá trình soạn thảo
mới nhanh hơn, và quá trình định dạng sẽ khoa học hơn.
11
Ví dụ 3: Bài 19: Tạo và làm việc với bảng:
Khi dạy bài 19 tôi cũng áp dụng phương pháp dạy lý thuyết tại phòng
thực hành. Qua mỗi bước, mỗi thao tác giới thiệu cho học sinh, tiến hành cho
học sinh thực hành ngay tại chỗ. Gọi một học sinh lên làm lại các thao tác mà
giáo viên vừa hướng dẫn, các em khác quan sát và thực hành trên máy của mình.
Sau khi thực hiện thao tác xong tất cả các học sinh lại chú ý lên bảng để đến với
nội dung tiếp theo của bài.
Để kiến thức trở nên gần gũi với học sinh, khi hướng dẫn về cách tạo
bảng, trình bày bảng tôi hướng dẫn học sinh thực hành tạo bảng thời khóa biểu
của các em. Hướng dẫn cách thêm dòng, thêm cột, xóa dòng cột, xóa bảng...
Thao tác hòa ô, tách ô là thao tác khó, tôi thấy nếu với cách dạy cũ, giáo
viên hướng dẫn trong giờ lý thuyết, tiết sau học sinh mới được thực hành (bài
thực hành số 9 - bảng 2) thì đa số học sinh quên cách hòa ô trong bảng, các em
thường rất lúng túng, quay lại đọc lý thuyết nhưng cũng không dễ dàng thực
hiện được, một số học sinh phải nhờ giáo viên hướng dẫn lại. Vì vậy, với
- Các nhóm khác đặt câu hỏi, phản hồi, giáo viên đóng vai trò trọng tài, cố
vấn, kiểm tra, kết luận.
Ví dụ 1:
Bài 8: Những ứng dụng của tin học
Bài học này có 8 nội dung, tôi sẽ chia lớp thành tương ứng 8 nhóm nhỏ,
mỗi nhóm là 1 bàn 4 người, chịu trách nhiệm tìm hiểu và trình bày một nội
dung:
- Giải các bài toán Khoa học kỹ thuật
- Hỗ trợ việc quản lý
- Tự động hóa và điều khiển
- Truyền thông
- Soạn thảo, in ấn, lưu trữ..
- Trí tuệ nhân tạo
- Giáo dục
- Giải trí
Giáo viên yêu cầu các nhóm bám sát sách giáo khoa và thực tế để trình
bày nội dụng, nêu được các ví dụ cụ thể, sát thực. Sau thời gian thảo luận, mỗi
nhóm sẽ cử ra một bạn đại diện để trình bày. Giáo viên nhận định đúng sai, tổng
hợp ý kiến. => sự kết hợp làm việc nhóm giúp thay đổi không khí lớp học, loại
bỏ được sự nhàm chán, thụ động, nghe viết của học sinh.
Ví dụ 2: Bài 9: Tin học và xã hội
Với bài này tôi đã đưa 1 dự án dạy học, áp dụng hình thức thảo luận, trình
bày nhóm. Mục đích của bài học nhằm mạng lại giờ học tích cực cho học sinh.
Giúp học sinh hiểu hơn về bài học và đam mê môn học. Ngoài việc học được
những bài học liên quan đến chủ đề tin học và xã hội, các em còn có thêm một
số kỹ năng: thuyết trình, làm việc nhóm, tìm kiếm thông tin, gây thiện cảm, tự
tin nói chuyện trước đám đông..
Tôi chia lớp thành 4 nhóm, tương ứng 4 tổ, mỗi tổ sẽ đảm nhận một nội dung
trình bày:
+ Ảnh hưởng của tin học đối với sự phát triển của xã hội
một số chức năng cao hơn chẳng hạn như: định dạng chữ to đầu dòng, chia cột
trong văn bản, chèn ảnh, ký hiệu đặc biệt, các đường nét trong bảng biểu.... và
khuyến khích các em hướng dẫn các học sinh yếu hơn.
Khi dạy học sinh bài 4: Bài toán và thuật toán, tôi cũng luôn để ý, quan
sát những học sinh có tố chất, tư duy về toán học và thuật toán, giao thêm cho
các em một số bài toán khác, yêu cầu các em tìm hiểu, trình bày thuật toán. Kích
thích sự đam mê tin học, lập trình, xây dựng nguồn cho đội tuyển học sinh giỏi
tin 11.
* Đối với học sinh yếu, trung bình
Học sinh chưa có kỹ năng sử dụng máy tính giáo viên cũng nên tạo điều
kiện cho các em thực hành nhiều hơn để làm chủ được với thao tác trên máy
tính, khi các em đã làm được những điều mà trước đó các em chưa làm được thì
các em có suy nghĩ rất hào hứng và muốn khám phá nhiều hơn, tạo ấn tượng tốt
cho bộ môn. Hơn nữa các em mạnh dạn hơn khi hỏi một số bạn biết hơn chỉ cho
mình, khuyến khích tinh thần “ học thầy không tày học bạn”.
Đôi khi các em tự ti, giấu dốt, không thực hành được thì bỏ qua, nói với
giáo viên là xong rồi => Giáo viên phải quan tâm tới các em nhiều hơn, đặc biệt
trong giờ thực hành phải quan sát các em, nếu chỗ nào các em làm sai, chưa làm
được thì phải hướng dẫn cho các em.
2.3.5. Biện pháp thay đổi phương thức kiểm tra đánh giá.
Việc đánh giá học sinh là cần thiết, xong với bản thân tôi, tôi nhận thấy
không cần thiết phải kiểm tra các em qua cách thức kiểm tra miệng, gọi học sinh
lên bảng trả lời lý thuyết, bởi môn tin là môn thiên về kỹ năng, hình thức kiểm
tra lý thuyết như vậy chỉ mang tính chất học vẹt. Phần lớn điểm miệng của học
sinh tôi đều thực hiện bằng hình thức trả lời câu hỏi trên lớp, tinh thần xung
phong, hay lấy điểm giờ thực hành. Điều này sẽ làm giảm đi sự căng thẳng của
tiết học, các em không phải lo lắng 5 phút kiểm tra đầu giờ, đồng thời tiết học
luôn sôi nổi, học sinh hăng hái phát biểu, tiết thực hành học sinh cũng nghiêm
14
Lớp
Sĩ số
10 B3
36
10 B4
10 B5
0 – 2.0
SL
%
2.5 – 3.0
SL
%
3.5 – 4.5
SL
%
5.0 – 6.5
SL
38,
31,
0
8
25,
7
19,4
0
0,0
2
5,7
11,
5
14,3
11
4
34,
9
5
11,3
1
1
2,7
0,7
4
1
8
7,7
5
2
13,5
14,
15
5
52 36,3
8
3
7
4
8
4
8
•Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra định kì sau khi áp dụng SKKN cho
4 Lớp 10(B3,B4,B5,B6) năm học 2015 – 2016:
Điểm
Lớp Sĩ số
10 B3
10 B4
2.5 – 3.0
3.5 – 4.5
5.0 – 6.5
7.0 - 8.0
8.5– 10.0
SL
%
0,0
1
2,8
11
6
28,
15
7
37,
9
0
25,
0
0,0
0
0,0
3
13
6
38,
10
3
29,
7
9
17,
0
0,0
1
13
0,0
1
4
1
3
8
0
1
7
36
35
10 B5
32
10 B6
34
Tổng
0 – 2.0
137
Từ kết quả thu được ở bảng trên ta nhận thấy có sự chuyển biến rõ rệt về
chất lượng học tập của học sinh. So sánh kết quả tương đối giữa 2 năm ta thấy:
• Khi chưa thực hiện SKKN thì:
đến mất nhiều thời gian, “cháy” giáo án. Với phương pháp thảo luận nhóm,
nhiều học sinh không bám sát nội dung nên trình bày lan man, dàn trải. Nhưng
sau một thời gian thực hiện cũng đã cho kết quả khả quan. Học sinh hứng thú
học, ham học, yêu thích môn học, tiếp thu bài tốt hơn và kết quả cao hơn.Thông
qua đó trang bị cho cho học sinh kỹ năng thực hành sử dụng máy tính và mạng
máy tính phục vụ học tập, bước đầu vận dụng vào cuộc sống, đó cũng chính là
một phần hành trang tương lai của các em sau này.
Trong môi trường dạy học, với đầy đủ cơ sở vật chất trang thiết bị, cùng
với chủ trương của giáo bộ giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học, tôi nhận
thấy việc ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm tôi vừa trình bày ở trên vào dạy học
là khả thi và cần thiết. Nhờ vận dụng phương pháp này trong những năm qua ở
trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên đã đạt được một số kết quả nhất định: Học
sinh cởi mở, hứng thú, lĩnh hội kiến thức dễ dàng hơn làm cho học sinh tự tin
hơn vào việc học tập của bản thân, tạo cơ hội cho học sinh khám phá tri thức.
3.2. Kiến nghị, đề xuất.
Vấn đề đổi mới phương pháp trong giờ học đang là vấn đề cần thiết. Để
dạy học Tin học trong nhà trường có hiệu quả, tôi đề nghị một số vấn đề như
sau:
Để thực hiện tốt bài giảng đòi hỏi giáo viên phải có lòng yêu nghề, tâm
huyết với môn học, đầu tư thời gian tìm tòi sáng tạo hơn nữa. Thay đổi các
phương pháp, áp dụng cho từng tiết học, từng lớp học.
Là giáo viên ai cũng có thể thực hiện và thực hiện tốt sáng kiến này.
Nhà trường cần đầu tư thêm cơ sở vật chất cho phòng máy, về số lượng,
chất lượng máy. Nếu có thể thì nên có một người quản lý phòng máy, để hỗ trợ
giáo viên trong những tiết thực hành và sửa chữa máy trong trường hợp máy tính
hư hỏng để học sinh đủ máy để thực hành.
Với thực trạng học Tin học trong nhà trường và yêu cầu đổi mới phương
pháp hạy học Tin học, có thể coi đây là một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến
vào việc nâng cao chất lượng Tin học.
Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh được các thiếu sót, rất mong
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN XUÂN NGUYÊN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TIN HỌC 10
Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN XUÂN NGUYÊN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hằng
Chức vụ: Giáo viên
SKKN môn: Tin học
THANH HOÁ, NĂM 2016
20