Rèn luyện cho học sinh miền núi kĩ năng khai thác kênh hình trong SGK sinh học 11 THPT - Pdf 44

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo đã ghi:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,
ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo
cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý
các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Trong luật GD Việt Nam, điều 28.2 đã chỉ rõ “Phương pháp GD phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Vì
vậy, để nâng cao chất lượng dạy học thì GD phải đổi mới về nội dung, phương
pháp và phương tiện dạy học.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận
thức trong học tập không phát hiện những điều loài người chưa biết mà nhằm
lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy được thông qua kênh chữ, kênh
hình. Trong dạy học Sinh học, kênh hình bao gồm các sơ đồ, tranh ảnh về đối
tượng, quá trình, cơ chế sinh học, là phương tiện dạy học đặc trưng cho bộ môn
Sinh học. Theo xu hướng hiện nay là giảm bớt thuyết trình của giáo viên, tạo
điều kiện để học sinh học tập tích cực nên kênh hình được sử dụng như là một
nguồn cung cấp kiến thức giúp học sinh tự tìm tòi, phát hiện những kiến thức và
rèn luyện kĩ năng bộ môn chứ không chỉ để minh họa cho lời giảng của giáo
viên. Như vậy kênh hình là đối tượng để học sinh chủ động, tự lực khai thác
kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Do đó việc rèn luyện cho học sinh kĩ
năng khai thác tốt kênh hình trong học tập bộ môn sinh học là một yêu cầu cấp
thiết và mang tính quyết định đến sự thành công trong dạy - học của thầy và trò.
Từ quan điểm chỉ đạo trên nên việc biên soạn sách giáo khoa (SGK) Sinh

khai thác kênh hình trong SGK sinh học 11 cho học sinh miền núi.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp để phát triển kĩ năng khai thác kênh hình SGK
- Học sinh trường THPT Quan Hóa
- Kênh hình SGK Sinh học 11
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, bao
gồm: SGK Sinh học 11, sách phương pháp giảng dạy Sinh học dành cho giáo
viên, giáo trình, luận văn, sách tham khảo, tạp chí và các website làm cơ sở khoa
học cho đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra cơ bản
PP điều tra: Điều tra bằng cách trao đổi, dự giờ và phỏng vấn GV, HS.
Nội dung điều tra: Điều tra thực trạng sử dụng kênh hình SGK trong dạy
học sinh học và việc rèn luyện cho HS kĩ năng khai thác kênh hình SGK.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Quan Hóa
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Kênh hình và vai trò của kênh hình
Kênh hình bao gồm các hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ..., là một dụng cụ trực
quan hóa vô cùng hữu hiệu trong việc giảng dạy, giúp học sinh vận dụng tối đa
các giác quan còn lại trong việc học tập, vì thế nó có những vai trò vô cùng quan
trọng:
- Kênh hình là có khả năng cung cấp thông tin một cách đầy đủ hơn khi sách
giáo khoa (SGK) chưa trình bày đến nó.
2


- Giúp giáo viên tăng năng suất làm việc, giảm thiểu tính chất giảng dạy mang

- Về ngôn ngữ tiếng Việt: Do đa phần HS là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh
sống khó khăn, ít được tiếp xúc với phương tiện dạy học hiện đại nên ngôn ngữ
tiếng việt còn nghèo, nhiều khi trong lớp các em còn giao tiếp bằng ngôn ngữ
riêng của dân tộc mình, kĩ năng đọc, viết, diễn đạt câu, phát âm các thuật ngữ
khoa học nhiều khi chưa chính xác.
- Về khả năng tư duy của HS: Thường tư duy chậm, khi gặp tình huống phức tạp
thường bối rối không nhanh chóng tìm ra phương án, khả năng tư duy trừu
tượng, tư duy logic biện chứng chưa cao. Các em thường xem xét sự vật hiện
tượng trong mối quan hệ riêng lẻ, đơn giản. Các em quen tư duy cụ thể, bắt
chước, dập khuôn nên gặp bài khó, phức tạp không tích cực suy nghĩ mà chờ sự
hướng dẫn của giáo viên.
3


Khả nặng vận dụng, liên hệ thực tế còn hạn chế, khả năng phân tích, tổng
hợp, so sánh còn yếu
- Về nhân cách trong giao tiếp: Các em sống hồn nhiên, vô tư, có tình cảm yêu
ghét rõ ràng. Lòng tự trọng cao, bản tính thật thà và có trách nhiệm trong công
việc. Nhưng còn rụt rè, ít nói và lòng tự ti dân tộc cao.
Chính vì vậy, rèn luyện cho HS khu vực miền núi kĩ năng khai thác kênh
hình là biện pháp phù hợp, có thể mang lại hiệu quả cao trong học tập.
2.1.3. Nguyên tắc sử dụng và khai thác kênh hình
Để khai thác triệt để “công lực” của kênh hình, giáo viên phải nắm được
một số nguyên tắc có tính bắt buộc sau:
- Nguyên tắc sử dụng đúng lúc: Sự xuất hiện đúng lúc làm tăng thêm thế mạnh
của kênh hình, nhất là trong sự háo hức chờ đợi của HS. Yếu tố bất ngờ khi kênh
hình xuất hiện càng kích thích tính hấp dẫn và hứng thú từ người xem. Nếu cho
các em xem trước thì dễ nhàm chán và phân tán sự chú ý của cả lớp.
- Nguyên tắc sử dụng đúng chỗ: Tìm vị trí để giới thiệu phương tiện trực quan
một cách hợp lý nhất. Có như vậy HS mới huy động được nhiều giác quan nhất,

rất yếu, bước vào lớp 11 mà nhiều em không biết dựa vào đâu để xác định chủ
đề của kênh hình, không biết cách đứng thuyết trình kênh hình trên bảng, kĩ
năng quan sát, nhận xét.... đều rất yếu.
Thái độ làm việc của học sinh với kênh hình còn hết sức tiêu cực, quan sát
qua loa đại khái, không rèn luyện kĩ năng, nhiều em chỉ thích xem trong kênh
hình có gì đẹp, lạ hay không mà không chú ý đến chủ đề, nội dung, ý nghĩa của
kênh hình.
- Với GV:
+ Thực trạng: Trong giảng dạy, đa số GV mới dừng lại ở việc sử dụng kênh hình
để minh họa, củng cố kiến thức. Còn việc tổ chức các hoạt động nhận thức, rèn
luyện các kĩ năng khai thác cho HS thì giáo viên chưa quan tâm nhiều. Đôi khi
do thời gian học hạn chế, nhiều giáo viên còn bỏ qua ngay cả các tranh ảnh
trong SGK. Vì vậy chưa phát huy được vai trò tích cực của kênh hình vào dạy
học bộ môn.
+ Nguyên nhân: Một số GV mới chỉ chú ý kênh chữ trong SGK và coi đây là
nguồn cung cấp kiến thức duy nhất trong dạy học Sinh học mà chưa thấy rằng
kênh hình không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức quan trọng, cung cấp lượng
thông tin đáng kể mà còn là phương tiện trực quan có giá trị giúp bài học thêm
sinh động, hấp dẫn. Còn không ít GV chưa hiểu rõ xuất xứ, nội dung, ý nghĩa
của kênh hình SGK. Trong các đợt bồi dưỡng chuyên đề GV hầu như chỉ được
giải thích về nội dung chương trình, chưa chú trọng bồi dưỡng khai thác, sử
dụng kênh hình SGK trong khi lượng kênh hình SGK hiện hành tăng lên đáng
kể so với SGK cũ. Nhiều GV nhận thức đầy đủ giá trị, nội dung của kênh hình
nhưng lại ngại sử dụng và sợ mất thời gian hoặc nếu sử dụng vẫn mang hình
thức minh họa. Việc khai thác triệt để kênh hình SGK chưa được chú trọng.
2.3. Các biện pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1. Các loại kênh hình trong SGK
* Hình ảnh: SGK sinh học 11 có chủ yếu là các hình vẽ cung cấp những hiểu
biết về nội dung kiến thức: khái niệm, bản chất, cơ chế, giá trị của kiến thức...
* Sơ đồ: Cụ thể hoá nội dung kiến thức bằng hình học đơn giản. Ví dụ như sơ

- Kĩ năng quan sát, nhận xét
- Kĩ năng mô tả, tường thuật
- Kĩ năng phân tích, nhận định đánh giá
Để rèn luyện được các kĩ năng đó, trong việc tổ chức khai thác kênh hình,
giáo viên tiến hành các bước sau:
- Thứ nhất, trước khi hướng dẫn HS khai thác kênh hình, tìm hiểu kênh hình,
GV phải là người đã nắm kĩ, GV đã tìm hiểu, nắm vững nội dung của kênh hình
đó bằng việc đọc sách tham khảo, báo, mạng...
- Thứ hai, để chuẩn bị cho một giờ học mỗi GV yêu cầu HS đọc trước bài ở nhà,
quan sát kênh hình trong bài học đó.
- Thứ ba, khi giảng dạy GV yêu cầu
B1: Học sinh tiếp cận hệ thống kênh hình.
B2: Xác định khái quát nội dung kênh hình (chủ đề kênh hình)
B3: GV có thể giải thích các chú thích và đưa ra những câu hỏi gợi ý để
học sinh có cơ sở khai thác, thảo luận kiến thức từ kênh hình.
Câu hỏi để phát triển kĩ năng cho học sinh phải đi theo trình tự: Phát
hiện, nhận biết → nhận xét, so sánh, đánh giá → rút ra bài học.
B4: Tổ chức cho học sinh trả lời câu hỏi trên cơ sở các em tự phát hiện
kiến thức mới.
B5: GV nhận xét, bổ sung, hoàn thiện nội dung và đi đến kết luận. Đồng
thời qua nghiên cứu, tìm hiểu kênh hình sẽ dễ dàng giáo dục sức khỏe, tư tưởng,
tình cảm, đạo đức cho học sinh.
2.3.4. Củng cố cho học sinh những kĩ năng cơ bản, thiết yếu trong khai thác
kênh hình
* Kĩ năng đọc:
Muốn HS khai thác được kênh hình thì việc đầu tiên là GV phải rèn luyện
cho HS kĩ năng đọc kênh hình. Nguyên tắc chung của việc đọc kênh hình là:
+ Đọc tên kênh hình
6


được những thông tin gì từ hình ảnh đó? Em có so sánh và liên hệ gì? Thông qua
hình ảnh đó em có thể dự đoán gì? Bày tỏ thái độ gì trước mỗi hình ảnh? Miêu
tả và nhận xét bằng ngôn ngữ riêng của mình?

Cụ thể:

Hình ảnh này có
chủ đề là gì?
Hình ảnh

Em thu nhận được
những thông tin gì
qua hình ảnh đó?

Em có cảm nhận và
bày tỏ gì?

Liên hệ
Vận dụng

7


Ví dụ khi khai thác hình 38.2. Hậu quả tác động của hoocmon sinh
trưởng, SGK sinh học 11 cơ bản, trang 153 để dạy bài 38 các nhân tố ảnh hưởng
đến sinh trưởng và phát triển ở động vật

Đối với kênh hình này khi khai thác GV cần:
- Hướng dẫn HS quan sát và sử dụng các câu hỏi gợi mở như bức tranh nói lên
điều gì?, nhìn vào bức tranh em có nhận xét gì?, tại sao lại có người nhỏ bé,

học 11, trang 46, bài 10 ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến quang hợp.

Để khai thác biểu đồ, đầu tiên GV cũng cần giới thiệu tên biểu đồ cho HS,
giới thiệu trục hoành thể hiện yếu tố nhiệt độ, trục tung thể hiện cường độ quang
hợp, các chú thích 1, 2, 3 thể hiện 3 loài cây khác nhau. Sau đó yêu cầu HS quan
sát biểu đồ và trả lời các câu hỏi: cường độ quang hợp có chịu ảnh hưởng của
nhiệt độ không?, trình bày sự phụ thuộc của quang hợp vào nhiệt độ?, cho biết
sự phụ thuộc của quang hợp vào nhiệt độ có giống nhau ở tất cả các loài không?,
em hãy liên hệ trong sản xuất nông nghiệp.
- HS quan sát và trả lời
- GV nhận xét và đưa ra kết luận
Nhiệt độ có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, do đó ảnh hưởng tới
năng suất cây trồng. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quang hợp ở mỗi loài cây
trồng khác nhau là khác nhau và mỗi cây trồng có một khoảng nhiệt độ thích
hợp khác nhau. Vì vậy trong sản xuất nông nghiệp cần chú ý đến khoảng nhiệt
thích hợp của cây trồng để thu được năng suất cao nhất và trong sản xuất chú ý
chọn cây trồng phù hợp với đặc điểm khí hậu từng vùng, miền...
2.3.6. Rèn luyện cho HS kĩ năng khai thác sơ đồ
9


Sơ đồ trong SGK nhằm cụ thể hóa nội dung bằng những mô hình, kí hiệu
đơn giản, thể hiện diễn biến các yếu tố, quá trình, mối liên hệ giữa các yếu tố,
quá trình với nhau. Thông thường khai thác sử dụng sơ đồ dễ hơn. Nhưng GV
trước hết cần giới thiệu cho HS tên sơ đồ, một số chú thích nếu có, sau đó hướng
dẫn HS khai thác sơ đồ bằng những câu hỏi gợi ý để HS tư duy tìm hiểu nội
dung, câu hỏi cũng được đặt ra theo trình tự như sau: Phát hiện, nhận biết →
nhận xét, so sánh, đánh giá → rút ra bài học. Cuối cùng GV chốt lại ý cơ bản.
Ví dụ như khi khai thác hình 46.2. Sơ đồ cơ chế điều hòa sinh trứng, SGK
sinh học 11, trang 180, để dạy bài 46 cơ chế điều hòa sinh sản

chín và rụng.
Khi nồng độ HM ostrogen và progesteron giảm không gây ức chế lên
vùng dưới đồi và tuyến yên nên bộ phận này lại tăng tiết hoocmon gây rụng
trứng.
+ Ý nghĩa:
Nhờ cơ chế điều hòa này mà quá trình chín và rụng trứng diễn ra theo chu
kì. Ở phụ nữ gọi là chu kì kinh nguyệt. Ở mỗi loài khác nhau có chu kì chín và
rụng trứng khác nhau. Nếu quá trình này bị rối loạn sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe
sinh sản.
Hiểu biết về quá trình này là hiểu về cơ chế của biện pháp tránh thai tính
ngày rụng trứng và sử dụng thuốc tránh thai. Ngoài ra thấy được trong cơ chế
tác động đến quá trình sinh trứng chịu ảnh hưởng từ các kích thích của môi
trường bên ngoài tác động vào hệ thần kinh và đến các tuyến nội tiết. Do đó, để
quá trình này diễn ra theo đúng chu kì thì cũng cần chú ý tới các yếu tố môi
trường thức ăn, chất dinh dưỡng, tránh căng thẳng thần kinh kéo dài…GV cũng
có thể bổ sung thêm một số kiến thức sinh sản hoặc giáo dục sinh sản cho HS.
Như vậy, việc rèn luyện kĩ năng khai thác kênh hình trong dạy học Sinh
học cho học sinh miền núi theo các biện pháp trên có thể giúp phát huy được
tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển tư duy cho người học, đồng thời có ý
nghĩa giáo dục mang lại niềm vui, hứng thú cho người học.

2.4. Hiệu quả của đề tài
Trong quá trình vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu tình hình học tập bộ môn
của HS, vừa tiến hành rút kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy. Sau đây là những kết
quả đạt được khi tôi áp dụng SKKN này trong giảng dạy.
Để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng
khai thác kênh hình trong dạy học sinh học 11 cho học sinh miền núi tôi đã tiến
hành thực nghiệm. Chọn 2 lớp 11 để thực nghiệm: một lớp đối chứng (ĐC) và
11


SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

ĐC
37
9
24,1 21
56,8 7
18,9 0
0
TN
32
8
24,9 19
59,4 5
15,7 0
0


24

64,9

6

16,2

0

0

TN

32

4

12,5

17

53,1

10

31,25

1


16

50

11

34,4

0

0

Qua thực nghiệm thấy được sự tiến bộ của lớp thực nghiệm sau khi được
học kĩ năng khai thác kênh hình SGK, trước thực nghiệm kết quả cho thấy kĩ
năng khai thác kênh hình ở hai lớp còn yếu thể hiện ở số điểm trung bình và
dưới trung bình có số lượng lớn. Sau thực nghiệm HS lớp thực nghiệm đã có kĩ
năng, biết được cách khai thác kênh hình. Trong khi đó lớp đối chứng hầu như
chưa có kĩ năng khai thác kênh hình nên việc trả lời gặp nhiều khó khăn, HS
không có tư duy kênh hình, do đó kết quả có sự khác biệt rõ rệt giữa lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng.
Như vậy, khi đưa đề tài này vào áp dụng trong thực tiễn giảng dạy, chúng
tôi rất vui mừng khi nhận thấy học sinh hào hứng hơn, tích cực hơn trong học
tập bộ môn sinh học. Nhiều học sinh trước đây còn rụt rè e ngại lúng túng không
biết được những kiến thức cơ bản trong khai thác kênh hình thì giờ đây các em
biết tự quan sát nhận xét đánh giá được, chất lượng học tập bộ môn sinh học của
học sinh ngày càng tăng lên. Trong khi khai thác sử dụng kênh hình, HS có điều
kiện phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, huy động vốn kiến thức sẵn có
vào việc khai thác sử dụng kênh hình, rèn luyện đựơc kĩ năng thực hành, thuyết
trình, phát triển trí tưởng tượng, khả năng tư duy cho HS. Hơn nữa qua kết quả

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Qua nghiên cứu, áp dụng các biện pháp “Rèn luyện cho học sinh miền núi
kĩ năng khai thác kênh hình trong SGK sinh học 11 THPT” tôi thấy rằng HS đã
khắc phục được những tồn tại trong việc khai thác kênh hình, từ đó giúp các em
phát triển kĩ năng tự khai thác tốt kênh hình trong học tập, góp phần nâng cao
chất lượng học tập bộ môn sinh học nói chung và môn sinh học 11 nói riêng. Tôi
nhận thấy nếu áp dụng các biện pháp trên, vận dụng linh hoạt vào các trường,
tuỳ theo đặc điểm, đặc thù của mỗi trường, đối tượng HS thì chắc chắn sẽ có
những chuyển biến tích cực trong học tập của các em. Sáng kiến này tôi sẽ tiếp
tục làm và áp dụng thêm các biện pháp khác cho các khối lớp để đồng bộ và đạt
hiệu quả cao nhất.
3.2. Kiến nghị
* Về phía giáo viên
- GV cần nắm được đặc trưng của từng kênh hình, cách sử dụng và ý nghĩa của
việc sử dụng kênh hình trong bài giảng.
13


- Cần giúp giáo viên chủ động tiếp cận với khoa học công nghệ để dễ dàng sử
dụng kênh hình hơn.
- Giáo viên cần thường xuyên sử dụng kênh hình trong việc giảng dạy hơn nữa.
Trong đó GV đóng vai trò là người hướng dẫn cho HS khai thác, luôn phải theo
dõi kiểm tra tiếp nhận của HS, giúp HS phân tích nêu kết luận khách quan về sự
vật hiện tượng được phản ánh trong kênh hình.
* Về phía nhà trường
- Mong nhà trường tiếp tục tạo mọi điều kiện để giáo viên có thể áp dụng kênh
hình vào việc giảng dạy.
- Tạo điều kiện để giáo viên có thể tham gia các lớp bồi dưỡng về phương pháp
giảng dạy mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status