Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học chương III - Pdf 44

Mục lục
Nội dung
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.5. Những điểm mới của SKKN
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử
dụng để giải quyết vấn đề.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
3. Kết luận, kiến nghị

Trang
2
2
2
2
2
2
3
3
3
4
13
21

chính là lí do tôi lựa chọn đề tài Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh trong dạy học chương III: Việt Nam từ năm 1945 đến năm
1954 (Lịch sử 12 - chuẩn) với mong muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao
chất lượng bộ môn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận phương pháp dạy học lịch sử, đề tài đi sâu vào đề xuất
một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy
học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Do điều kiện về mặt thời gian ,đề tài chỉ đi vào đề cập một số biện pháp
khi dạy học chương III: Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 (Lịch sử
12 – chuẩn)
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết; Phương pháp điều tra khảo
sát thực tế, thu thập thông tin; Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm đưa ra một số biện pháp đê giảng dạy chương III:
Việt Nam từ 1945-1954 như sử dụng sách giáo khoa, sử dụng hệ thống câu hỏi,
2


sử dụng đồ dùng trực quan và đặc biệt việc sử dụng đồ dùng trực quan trong
kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút và kiểm tra 45 phút nhằm giúp học sinh phát
huy được tính tích cực, sáng tạo của mình.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận
Vấn đề phát huy năng lực hoạt động độc lập, tích cực của học sinh trong
dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng từ lâu đã được các nhà lí luận dạy
học cũng như giáo viên ở trường phổ thông đặc biệt quan tâm. Họ đều thừa nhận
rằng một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học là

– đáp” nhưng không ít giáo viên chưa nhận thức được điều này.
Thứ hai, một số giáo viên nhận thức được điểm mấu chốt của đổi mới
phương pháp dạy học là phải thay đổi quan niệm cũ trước đây: chuyển từ vai trò
thầy làm trung tâm sang trò làm trung tâm của quá trình dạy học. Giáo viên là
người hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh. Muốn vậy, phải
phát huy các năng lực nhận thức độc lập, phát triển tính tích cực học tập của các
3


em. Song về biện pháp phát huy tính tích cực trong nhận thức của các em thì
chưa tốt. Thứ ba, không ít giáo viên, nhất là giáo viên ở các vùng nông thôn,
vùng sâu, vùng xa… ít được cập nhật thông tin khoa học, chưa nhận thức được
tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay và chưa hiểu rõ
nội dung của công việc này. Vì vậy trong giờ học lịch sử, thầy làm việc là chủ
yếu, trò thụ động ghi chép còn khá phổ biến. Thứ tư, hiện nay sách giáo khoa
lịch sử đã được biên soạn theo tinh thần đổi mới, được sử dụng đại trà. Thực tiễn
sử dụng sách giáo khoa mới ở trường phổ thông cho thấy phương pháp dạy học
của giáo viên chưa theo kịp việc đổi mới nội dung của sách. Bài viết trong sách
trình bày ngắn gọn có tính gợi mở thì giáo viên chưa có đủ độ sâu về kiến thức
để hướng dẫn học sinh tìm ra những kiến thức chìm trong sách (ví như: nguyên
nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của sự kiện, đánh giá nhân vật…). Kênh hình
tăng lên so với sách cũ rất nhiều làm đa dạng nhận thức và bài học sinh động
hơn, học sinh học tập nhẹ nhàng hơn, song nhiều giáo viên chưa hiểu hết nội
dung kênh hình, hiệu quả sử dụng chưa cao. Vẫn còn nhiều giáo viên quan niệm:
hỏi thật nhiều là đổi mới, cho nên chỉ sử dụng câu hỏi mà không khai thác hết
các nguồn kiến thức khác.
Thứ năm, ở các trường phổ thông hiện nay, giáo viên chỉ tập trung vào các giờ
lên lớp, chưa quan tâm đến các hoạt động ngoài lớp.
Như vậy, việc học sinh không thích học lịch sử, chưa tích cực trong hoạt
động học tập nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ phương pháp dạy học của giáo

cần giải thích cho học sinh hiểu.
* Sử dụng sách giáo khoa trong quá trình dạy học trên lớp.
Trong quá trình học bài ở trên lớp, học sinh thường theo dõi bài giảng của
giáo viên rồi đối chiếu, so sánh với sách giáo khoa, thậm chí nhiều học sinh
không ghi theo bài giảng của giáo viên mà lại chép trong sách giáo khoa. Vì vậy,
bài giảng của giáo viên không nên lặp lại ngôn ngữ trong sách giáo khoa mà
nên diễn đạt bằng lời của mình.
Ví dụ Bài 18 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân
Pháp (1946 – 1950)”, giáo viên lược thuật cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội
giam chân địch: “ Từ đầu tháng 12.1946, thực dân Pháp liên tục gây xung đột
với công an và tự vệ của ta, đặc biệt nghiêm trọng là vụ thảm sát tại Yên Ninh,
Hàng Bún ngày 17.12.1946. Trước hành động láo xược đó, ngày 19.12.1946,
Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến “…chúng ta thà hi sinh tất
cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đáp
lại lời kêu gọi, các chiến sĩ tự vệ Hà Nội đã thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết
sinh”. Suốt hơn 20 ngày, cuộc chiến đấu không cân sức giữa ta và địch đã diễn
ra ác liệt tại các cửa ô, thực dân Pháp sau khi chiếm được các cửa ngõ, chúng
tập trung định tiêu diệt lực lượng của ta ở Liên khu I.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch, đêm ngày 17.2.1947, Trung
đoàn Thủ đô được lệnh rút khỏi Hà Nội.
Một biện pháp nữa thường hay sử dụng ở trên lớp là cho học sinh đọc
sách giáo khoa rồi tự các em tóm tắt, kể lại những nội dung cơ bản. Ví dụ khi
dạy phần chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 bài 18 “Những năm đầu của cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950)”, giáo viên cho học
sinh đọc phần diễn biến chiến dịch, sau đó gọi một học sinh khác tóm tắt lại diễn
biến chiên dịch, những sự kiện nổi bật của trận đánh, sau đó giáo viên tổ chức,
hướng dẫn cho các em tìm hiểu kĩ hơn trên lược đồ kết hợp với lời giảng sinh
động.
Giáo viên cũng có thể cho học sinh đọc đoạn trích chữ nhỏ trong quá trình kết
hợp giảng bài.

chống thực dân Pháp (1946 – 1950)”, mục “Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch
Biên giới thu – đông 1950”, giáo viên đưa ra câu hỏi: Tại sao Đảng ta lại chủ
động mở chiến dịch Biên giới thu – đông 1950? Diễn biến, kết quả và ý nghĩa
của chiến dịch như thế nào? Hay khi dạy “Bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954)” mục I: “Âm mưu của Pháp- Mĩ ở
Đông Dương: kế hoạch Na va” giáo viên đưa ra câu hỏi: “Trình bày nội dung
của kế hoạch Nava? Phân tích điểm mạnh, yếu của kế haọch Nava” hay mục II.
“Cuộc tiến công chiến lược Đông- Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên
Phủ năm 1954” mục 2. “Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)” giáo viên đưa
ra câu hỏi: “Vì sao Điện Biên Phủ ban đầu không có tên trong kế hoạch Nava
nhưng một cách ngẫu nhiên lại được lực chọn để xây dựng thành điểm quyết
chiến chiến lược giữa ta và Pháp?”
* Nêu câu hỏi đầu giờ học.
Vào đầu giờ học, giáo viên có thể kiểm tra hay không kiểm tra kiến thức
bài cũ. Trước khi cung cấp kiến thức của bài học mới, giáo viên nên nêu ngay
câu hỏi định hướng nhận thức cho học sinh. Câu hỏi loại này thường là câu hỏi
có tính chất bài tập, muốn trả lời cần phải huy động kiến thức cơ bản của toàn
bài. Nêu câu hỏi đầu giờ học có 2 tác dụng lớn: thứ nhất là nó xác định rõ ràng
nhiệm vụ nhận thức của học sinh trong giờ học, thứ hai là hướng học sinh vào
những kiến thức trọng tâm của bài, huy động cao nhất các hoạt động của các
giác quan học sinh trong quá trình học tập: nghe, nhìn, kết hợp với tư duy có
định hướng. Ví dụ, khi dạy mục 2 “Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954) ở
Bài 20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 –
1954)”, giáo viên dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề: Thắng lợi của ta
trong đông xuân 1953 – 1954 buộc địch phải phân tán lực lượng ra nhiều nơi.
Chúng quyết định xây dựng Điên Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh
nhất Đông Dương, biến Điện Biên Phủ trở thành một “điểm hẹn lịch sử”. Vậy
tại sao chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đựơc xem là chiến dịch có tính chất
quyết định trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Các em cùng tìm hiểu.
6

- Loại câu hỏi tìm hiểu kết quả, nguyên nhân dẫn đến kết quả đó và ý
nghĩa lịch sử của nó. Ví dụ: Chiến thắng Biên giới thu – đông 1950 có ý nghĩa
như thế nào đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta? , Nguyên nhân thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống Pháp là gì?.... Để trả lời những câu hỏi loại này,
học sinh dựa vào SGK để trả lời bằng ngôn ngữ của mình chứ không lặp lại sách
giáo khoa. Chẳng hạn ở bài 20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân
Pháp kết thúc (1953 – 1954)”, giáo viên đưa ra câu hỏi “Những nguyên nhân
nào dẫn đến thắng lợi của quân dân ta ở Điện Biên Phủ và trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp?”, học sinh phải độc lập suy nghĩ, vận dụng toàn bộ
kiến thức đã học của chương, bài để rút ra câu trả lời. Giáo viên trên cơ sở sách
giáo khoa và sách giáo viên nêu ra các ý nhỏ: chủ quan – khách quan.
2.3.3. Sử dụng đồ dùng trực quan nhằm phát triển tư duy học sinh
Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan góp phần quan trọng tạo
biểu tượng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục tình trạng hiện đại
hoá lịch sử của học sinh.
7


Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu
sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt
vững chắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực
quan. Ví dụ, xem bức ảnh “Cảm tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe
tăng Pháp” chúng ta không thể quên được cuộc chiến đấu anh dũng của quân và
dân Hà Nội chống thực dân Pháp trở lại xâm lược.
Trên cơ sở biện pháp chung về đồ dùng trực quan, tôi đưa ra một số biện pháp
khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử chương III: Việt Nam từ
năm 1945 đến 1954 (Lịch sử 12- chuẩn)
* Sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến
thức mới.
- Sử dụng câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung


Lược đồ chiến dịch Biên Giới thu- đông 1950
Sử dụng tranh ảnh kết hợp với miêu tả, phân tích, đàm thoại.

Vận chuyển máy móc từ Hà Nội lên Việt Bắc năm 1947
Tranh ảnh tạo được biểu tượng, góp phần cụ thể hoá kiến thức, có tác
dụng làm cho học sinh yêu thích môn lịch sử. Do đó, để sử dụng tranh ảnh lịch
sử có hiệu quả, phát huy được tính tích cực hoạt động của học sinh cần kết hợp
9


với miêu tả có phân tích, đàm thoại. Khi dạỵ Bài 18: Những năm đầu cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946- 1950) mục II 1: Cuộc chiến
đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 giáo viên sử dụng bức ảnh trên phân tích ý
nghĩa của cuộc chiến đấu ở phía Bắc vĩ tuyến 16 nhằm tạo điều kiện cho công
cuộc di chuyển kho tàng, công xưởng, Trung ương Đảng, chính phủ về chiến
khu Việt Bắc năm 1947. Hay bức ảnh dưới đây thể hiện tinh thần chiến đấu của
“Quyết tử quân” góp phần cỗ vũ nhân dân ta trong cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp.

Cảm tử quân với bom ba càng sẵn sàng tiêu diệt quân Pháp
* Sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức học sinh củng cố kiến thức.
Sử dụng đồ dùng trực quan trong củng cố kiến thức đã học cho học sinh
mang lại nhiều hiệu quả hơn so với việc củng cố kiến thức bằng trao đổi đàm
thoại, nêu và trả lời câu hỏi đơn thuần. Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong
củng cố kiến thức gây được hứng thú học tập, giúp các em khắc sâu kiến thức.
Ví dụ, giáo viên sử dụng bản đồ “Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947” treo lên
bảng, yêu cầu học sinh dựa vào bản đồ để trình bày lại diễn biến của chiến dịch.
Hoặc cũng có thể ra bài tập về nhà cho học sinh (sau khi dạy xong bài 18): Dựa
vào lược đồ “Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 em hãy rút ra ý nghĩa chiến

nghĩ quan trọng sự kiện này đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân
ta?

11


Kiểm tra 15 phút khi dạy bài 20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)” giáo viên sử dụng lược đồ hình 54
“Diễn biến của chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)” cùng với tranh ảnh liên quan
đến chiến dịch Điện Biên Phủ, kết hợp với câu hỏi tự luận “Qua quan sát các
hướng tiến công của quân ta và các bức ảnh trên em hãy lí giải tại sao chiến
dịch Điện Biên Phủ lại giành được thắng lợi to lớn như vậy?

g

12


Đối với bài kiểm tra 45 phút: Câu 1: Dựa vào lược đồ chiến dịch Việt
Bắc thu đông 1947, lược đồ Biên giới thu- đông 1950 em hãy giải thích tại sao
khẳng định từ chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 đến chiến thắng Biên giới thuđông 1950 là bước phát triển của cuộc kháng chiến?
Câu 2: Qua 3 lược đồ: Dựa vào lược đồ chiến dịch Việt Bắc thu đông
1947, lược đồ Biên giới thu- đông 1950 và lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ
1954 hãy chứng minh đường lối lãnh đạo tài tình của Đảng đưng đầu là chủ
tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
(1946- 1954)

Lược đồ chiến dịch Việt Bắc thu- đông 1947

13

những năm đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, củng cố niềm tin
vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
II Phương tiện dạy học chủ yếu
- Bản đồ giáo khoa điện tử về chiến dịch Biên Giới thu – đông năm1950
và tranh ảnh liên quan đến nội dung bài dạy.
14


III. Gợi ý tiến trình và phương pháp tổ chức dạy học
1. Ổn định lớp học
2. Kiểm tra bài cũ
? Dựa vào lược đồ chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 em hãy cho biết ý
nghĩa của chiến dịch này.
3. Tổ chức cho HS nghiên cứu kiến thức mới
TG
Hoạt động của
Hoạt động của
Nội dung
giáo viên
học sinh
IV. Hoàn cảnh lịch sử mới và
chiến dịch Biên giới thu –
đông năm 1950
HĐCN: Tìm
1. Hoàn cảnh ta mở chiến
hiểu các sự kiện dịch
lịch sử thế giới * Thuận lợi:
có lợi cho Việt
- Ngày 1/10/1949, cách mạng
Nam?

các chiến trường
công lên Việt Bắc lần thứ hai
Đông Dương nên
để kết thúc chiến tranh.
Mĩ đã can thiệp,
 Kế hoạch Rơve đã gây khó
“dính líu” trực
khăn cho cuộc kháng chiến của
tiếp vào cuộc
ta
chiến tranh. Triển
khai kế hoạch Rơ
2. Chiến dịch Biên Giới thu ve:
đông năm 1950
a. Chủ trương của Ta: Tháng
- GV sử dụng 1.
6/1950, ta chủ động mở chiến
lược đồ chiến
dịch Biên giới nhằm:
dịch Biên giới
- Tiêu diệt một bộ phận quan
thu- đông 1950 để ? Mục đích ta
trọng sinh lực địch
giới thiệu khái
mở chiến dịch. - Khai thông đường sang
quát về khu vực
Trung Quốc và thế giới.
Biên Giới và mục
- Mở rộng và củng cố căn cứ
15


16


2.Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng nghiên cứu kế hoạch chiến
dịch Biên giới, năm
1950

3.Bác Hồ quan sát trận địa Đông Khê trong chiến dịch biên giới 1950.

17


4. Hồ Chủ Tịch làm việc trước lều dựng tạm trên đường đi Chiến dịch Biên
giới năm 1950

TG

Hoạt động của
giáo viên
GV sử dụng bức
tranh 4. Bác Hồ
trước lều dựng
tạm ở Biên Giới
1950 5. Lược đồ
trận Đông Khê để
trình bày diễn
biến của chiến
dịch biên giới,
trong đó tập trung

18


trận Đông Khê:
Biên giới Việt –
Trung là một dải
núi rừng từ tây
đến đông bắc Bắc
bộ. Đường quốc
lộ chiến lược dài
300 km qua các
tỉnh Cao Bằng,
Lạng Sơn và
Quảng
Ninh
“Giữa Đông Khê
và Cao Bằng, nếu
đánh Cao Bằng
thì sẽ đụng đầu
với các lực lượng
mạnh của địch, hệ
thống phòng ngự
vững chắc, muốn
đánh thắng phải
tốn nhiều xương
máu. Đông Khê ở
xa Hà Nội, nếu
địch tiếp viện
cũng mất nhiều
thời gian, vì vậy

tỉnh nào?
Đọc phần chữ
nhỏ TR 138
? Kết quả của
chiến dịch Biên
Giới 1950

? Nêu ý nghĩa
của chiến dịch
Biên Giới
1950? Theo em
ý nghĩa quan
trọng nhất của
chiến dịch là
gì?

ở Thái Nguyên cũng bị đập
tan.
- Đường số 4 được giải
phóng (22-10-50)

c. Kết quả
- Sau hơn một tháng, chiến
dịch Biên Giới kết thúc thắng
lợi
-Ta đã loại khỏi vòng chiến
đấu 8.000 địch Giải phóng
biên giới Việt - Trung với 35
vạn dân, khai thông con đường
nối nước ta với các nước

C. Phong trào phản đối chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực
dân Pháp lên cao.
D. Cuộc kháng chiến của Lào và Cam-pu-chia phát triển mạnh.
Câu 2. Năm 1950 thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Rơ-ve nhằm mục
đích gì?
A. Mở một cuộc tiến công quy mô lớn vào căn cứ địa Việt Bấc.
B. Có lập cần cứ địa Việt Bắc.
C. Khoá cửa biên giới Việt - Trung, thiết lập hành lang Đông Tây
(từ Hải Phòng đến Sơn La).
D. Nhận được viện trợ về tài chính và quân sự của Mĩ.
Câu 3. Vì sao ta mở chiến dịch Biên giới 1950?
A. Tạo điều kiện để thúc đẩy cuộc khởi nghĩa của ta tiến lên một
bước.
B. Khai thông biên giới, con đường liên lạc quốc tê giữa ta và Trung
Quôc với các nước dân chủ thê giới,
C. Tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch, khai thông biên giới Việt Trung, mở rộng và củng cô căn cứ địa cách mạng.
D. Để đánh bại kế hoạch Rơ-ve.
5. Hoạt động nối tiếp: Nhắc nhở học sinh chuẩn bị bài 19
6. Rút kinh nghiệm: Việc sử dụng đồ dùng trực quan phải phù hợp với
nội dung bài dạy về số lượng và chất lượng để phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh
Sau khi dạy xong bài học GV đưa ra ở cả 2 lớp câu hỏi khảo sát nhanh
như sau: Dựa vào lược đồ trận Đông Khê em hãy cho biết vì sao ta chọn Đông
Khê mở màn cho chiến dịch Biên giới?theo em kết quan trọng ta giành được
trong chiến dịch Biên Giới 1950 là gì? Kết quả và đánh giá mức độ tích cực
chấm bài thu hoạch được đánh giá như sau:
*Về mức độ tích cực của học sinh
Tiêu chí đánh giá
Số lượt (học sinh) Tỉ lệ so với cả lớp (%)
Xung phong phát biểu bài

2
4,6
Kém
0
0
* Đánh giá chung:
Qua kết quả thu được, so sánh với kết quả khảo sát trước khi áp dụng sáng
kiến, ta thấy có sự chuyển biến tích cực về cả mức độ tích của học sinh và ở cả
chất lượng bài khảo sát. Cụ thể như sau:
*Về mức độ tích cực của học sinh
Số lượt
Tỉ lệ so
So với khảo sát lần đầu
Tiêu chí đánh giá
(học
với cả lớp
khi chưa áp dụng sáng
sinh)
(%)
kiến
Xung phong phát biểu bài
22
51,1 Tăng 2,75 lần
Trả lời đúng
21
48,8 Tăng 4,2 lần
Không chú ý hoặc làm việc
1
2,3
Giảm 3.0 lần

Qua thực tiễn áp dụng sáng kiến tôi rút ra được một số kinh nghiệm như
sau:
Đối với giáo viên:
Năng lực nhiều giáo viên đã được nâng cao thể hiện ở khả năng thiết kế
tiến trình dạy học và tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh. Khả năng sưu
tầm, xử lý tài liệu dạy học và thiết bị dạy học của giáo viên và học sinh được
nâng cao.
Đối với học sinh:
Ý thức học tập gắn với thực tiễn gây hứng thú cho học sinh giúp các em
phát huy tính tích cực
Tóm lại việc sử dụng đồ dùng trực quan cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới
không chỉ làm cho kiến thức học sinh tiếp thu trở nên sâu sắc mà còn giáo dục
cho các em những tư tưởng, tình cảm đúng đắn và phát triển kĩ năng quan sát,
phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử của các em.
21


3. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông có vị trí, chức năng và nhiệm vụ quan
trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Nhưng hiện nay học sinh lại chưa
chú trọng học môn này. Tình trạng đó do nhiều nguyên nhân gây nên. Nhưng
phải thừa nhận một nguyên nhân rất quan trọng là do kết quả, chất lượng giảng
dạy của chính những giáo viên dạy lịch sử hiện nay, đặc biệt là việc duy trì kiểu
dạy truyền thống “thầy đọc, trò chép”, nhồi nhét kiến thức, học sinh thụ động
trong tiếp thu kiến thức. Từ đó có thể thấy việc xây dựng và phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh qua những giờ học lịch sử rõ ràng là một
nhiệm vụ hết sức quan trọng và cũng hết sức nặng nề của người giáo viên dạy
môn lịch sử.
Học tập của học sinh là một quá trình nhận thức, vì vậy nói đến tính tích
cực học tập là nói đến tính tích cực của sự nhận thức. Tính tích cực nhận thức là



1. Nguyễn Thị Côi, Kênh hình trong dạy học Lịch sử ở trường THPT,
NXBĐHQG, HN,2000
2. Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, Phương pháp dạy học lịch sử, NXB Giáo
dục, HN, 1999.
3. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), SGK Lịch sử 12, NXB GDVN
4. Trung tâm Bản đồ giáo khoa: Các bản đồ treo tường về Lịch sử Việt Nam.

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status