SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH LỚP 9 TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS - Pdf 26

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH LỚP 9 TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1 Phần mở đầu:
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người ,cuộc cách mạng khoa học công
nghệ như một luồng gió mới thổi vào và làm lay động nhiều lĩnh vực của cuộc
sống .Hơn bao giờ hết con người đang đứng trước những diễn biến to lớn ,phức tạp
về lịch sử xã hội và khoa học kỹ thuật .Nhiều mối quan hệ mâu thuẫn của thời đại
cần được giải quyết trong đó có mâu thuẫn yêu cầu ngành GD- đT nói chung và
người thầy chúng ta nói riêng phải giải quyết ngay , đó là mâu thuẫn giữa quan hệ
sức ép của khối lượng tri thức ngày càng tăng và sự tiếp nhận của con người có giới
hạn ,bởi vì sự nhận thức của con người nói chung là tuyệt đối và không có giới hạn
song sự thu nhận,hiểu biết kiến thức của mỗi con người đều hữu hạn và tương đối.
Nhiệm vụ trên đây đã đặt ra cho người giáo viên bên cạnh việc bồi dưỡng
kiến thức chuyên môn thì phải cải tiến phương pháp dạy học nâng cao chất lượng
giáo dục để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
Như chúng ta đã biết ,môn lịch sử có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với việc
giáo dục thế hệ trẻ .Từ những hiểu biết về quá khứ ,hocf sinh hiểu rõ truyền thống
dân tộc,tự hào với thành tựu dựng nước và giữ nước của tổ tiên ,xác định nhiệm vụ
trong h iệ
nn tại có thái độ đúng đối với sự phát triển hợp quy luật cua tương lai.
Nhưng những nhận thức .quan niệm sai lệch về vị trí ,chức năng của khoa học
lịch sử và môn lịch sử trong đời sống xã hội ,trong giáo dục đã dẫn tới phương pháp
nghiên cứu ,học tập không đúng làm giảm sút chất lượng của bộ môn trên nhiều mặt
.Tình trạng học sinh không biết những sự kiện lịch sử cơ bản ,phổ thông ,nhớ sai
hoặc nhầm lẫn kiến thức lafhieenj tượng khá phổ biến ở nhiều trường học nói chung
và trường THCS nói riêng
Vì vậy hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 2 khoá 8 đã nhấn mạnh
“ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD- ĐT khắc phục lối truyền thụ một
chiều ,rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học .Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy –học đảm bảo

giáo giỏi là người có kiến thức uyên bác , một thầy giáo – từ điển bách khoa .Nừu
thầy giáo chỉ làm chức năng truyền thụ kiến thức thì sẽ thực hiện phương châm “
Thầy giáo là trung tâm ‘’’ học sinh sẽ thụ động tiếp nhận kiến thức , sẽ học thuộc
lòng những gì thầy giáo giảng và cho ghi cũng như trong sách đã viết. Đó chính là
cách giảng dạy giáo điều,nhồi sọ biến giáo viên thành người thuyết trình ,giảng giải
và học sinh thụ động tiếp nhận những điều đã nghe, đã đọc .Có nhà giáo dục đã gọi
đó là cách “ Nhai kiến thức rồi mớm cho học sinh ‘’’.
Chúng ta đều biết rằng việc dạy học được tiến hành trong một quá trình thống
nhất gồm hai khâu có tác dụng tương hỗ nhau :giảng dạy và học tập .Cả việc giảng
dạy và học tập đều là một quá trình nhận thức ,tuân theo những quy luật nhận thức.
Nhận thức trong dạy học được thể hiện trong hoạt động của giáo viên và học
sinh đối với việc truyền thụ và tiếp thu một nội dung khoa học được quy định trong
chương trình voới những phương pháp dạy học thích hợp ,những phương tiện hình
thức cần thiết để đạt được kết quả nhất định đã đề ra.
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của
việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập .Nhà giáo dục người Đức là
Disterverg đã khẳng định đúng đắn rằng :Người giáo viên tồi truyền đạt chân lí
,người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lí ‘’’.
Điều này có nghĩa rằng người giáo viên không chỉ giới hạn công việc của
mình ở việc đọc cho học sinh ghi chép những kiến thức có sẵn,bắt các em học thuộc
lòng rồi kiểm tra điều ghi nhớ của các em thu nhận được ở bài giảng của giáo viên
hay trong sách giáo khoa .Điều quan trọng là giáo viên cung cấp cho các em những
kiến thức cơ bản (bao gồm kiến thức khoa học ,sự hiểu biết về các quy luật ,nguyên
lí và các phương pháp nhận thức…) làm cơ sở định hướng cho việc tự khám phá các
kiến thức mới ,vận dụng vào học tập và cuộc sống .Vì vậy việc khơi dậy ,phát triển
tri thức ,ý chí ,năng lực bồi dưỡng ,rèn luyện về học tập là con đường phát triển tối
ưu của giáo dục - đó chính là con đường lấy học sinh làm trung tâm ,làm chủ thể
của việc nhận thức với sự hướng dẫn, giáo dục tích cực có hiệu quả của giáo
viên,Điều này được thực hiện treencow sở hoạt động tích cực , tự giác của học
sinh .Đây là tính ưu việt của phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh được


Kiểu dạy học truyền thống Phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực của
1- Cung cấp nhiều sự kiện 1- Cung cấp những kiến thức cơ bản
,được lựa chọn phù hợp với yêu cầu
Trình độ của học sinh ,nhằm vào mục
tiêu
đào tạo
được xem là tiêu chí cho
chất lượng giáo dục , nhớ tốt ,
thuộc lòng.
2- Giáo viên là nguồn kiến thức duy nhất 2- Ngoài lời giảng của giáo
viên trên l
Phần lớn thời gian trên lớp dùng cho lớp , học sinh được tiếp xúc
với
Giáo viên giảng học sinh chỉ chăm chú những nguồn kiến thức khác :
Vốn
Kiến thức đã học ,kiến thức
của bạn
bè,trong sách giáo khoa ,tài
liệu
tham khảo,đồ dùng trực
quan,thực
tế cuộc sống.
Nghe và ghi lại lời giáo viên Học sinh chăm chú nghe
giảng 1 nhận
thức và ghi những điều mình
Tiếp nhận(kiến thức mới
,vấn đề
được đặt ra ,phương pháp )

Thụ động . Việc đánh giá kết quả đổi ,được nêu ý kiến của
riêng
Học tập được đo bằng trí nhớ. Mình
Sự đánh giá kết quả học
tập căn
Cứ vào trình độ hiểu biết
của
Học sinh ,đòi hỏi học sinh
phải
Lập luận.
5- Việc học lí thuyết không gắn với 6 – Việc dạy lí thuyết
để nâng cao
Trình độ nhận thức của
học
Sinh ,làm cơ sở để vận
dụng
Những kiến thức đã học
vào
Thực hành ,nhất là các môn thuộc khoa thực hành bộ môn và
trong
Học xã hội và nhân văn. cuộc sống .Qua đó củng
cố ,
Làm phong phú kiến
thức đã
Học.
6- Nguồn kiến thức thu nhận của học 7- Nguồn kiến thức
của học
Sinh rất hạn hẹp ,thường giới hạn ở sinh rất phong phú
,đa dạng


học môn lịch sử hiện nay vẫn còn giặp rất nhiều khó khăn , trở ngại nhất là việc
phát huy tính tích cực của học sinh tuy đã được phổ biến , học tập bồi dưỡng
thường xuyên theo chu kỳ nhưng kết quả đạt được không đáng là bao . Điều đó
đã dẫn đến chất lượng bộ môn đối với học sinh lớp 9 khi ra trường là không cao,
chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục và mục tiêu đào tạo đặt ra.
Thực trạng của vấn đề này có thể giải thích ở những nguyên nhân cơ bản
sau đây :
Thứ nhất là vẫn tồn tại một quan niệm cố hữu cho rằng môn Lịch sử cũng
như Địa lí , Kĩ thuật , Thể dục , GDCD … đều là những môn phụ . Điều này
được thể hiện việc quan tâm đến chất lượng bộ môn từ cấp lãnh đạo chưa đúng
mức . Theo tìm hiểu của cá nhân tôi nhiều trường không có giáo viên chuyên sử
mà giáo viên dạy Văn , Địa lí … có thể dạy sử do đó không đáp ứng yêu cầu của
bộ môn đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai là về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập tuy đã được đầu
tư nhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu giáo dục hiện nay . Tình trạng dạy chay
vẫn còn khá phổ biến . Trong suốt quá trình học bộ môn từ lớp 6 đến lớp 9 cả
thầy và trò chưa bao giờ có điều kiện tham quan một di tích lịch sử vì không có
kinh phí . Điều đó làm cho vốn kiến thức kiến thức của các em chỉ bó gọn trong
sách vở và
Bài giảng .
Nguyên nhân thứ ba là việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh
lớp 9 trong học tập bộ môn lịch sử còn nhiều hạn chế một phần là do chính
những cơ chế , những quy định từ cấp trên . Trong những năm trở lại đây môn
lịch sứ được quan tâm nhiều hơn , đồ dùng , tài liệu học tập được cung cắp đầy
đủ hơn nhưng do nhu cầu của xã hội nên học sinh ít thích học môn lịch sử .
Ngoài ra cách tổ chức một số cuộc thi cử cũng còn nhiều hạn chế , đó là
chỉ chú trọng về mặt kiểm tra lí thuyết mà coi nhẹ bài tập thực hành , không chú
ý đến việc phát triển năng lực sáng tạo .
Cuối cùng điều quan trọng là ý thức trách nhiệm của mỗi giáo viên . Sự

ngay khi
- cung cấp kiến thức mới .
Nếu vận dụng tốt cấu trúc của giờ học sẽ tránh được sự nhàm chán ,
công thức mà học sinh đã biết trước khi vào giờ học.
- Phải xuất phát từ đối tượng cụ thể ở từng lớp học trong toàn khối
lớp 9 để xem xét khả năng tự nhận thức của học sinh mà tìm biện pháp phát
triển ở các em mặt nào đó của tư duy lịch sử . Tư duy bao giờ cũng xuất
phát từ cái cụ thể . Tưduy lịch sử bao giờ cũng nhiều nội dung , nhiều cấp
độ từ thấp đến cao , từ đơn giản đến phức tạp . Đó là tư duy tái tạo , trí
tưởng tượng , khả năng phân tích , so sánh , tư duy tổng hợp , tư duy lô
gíc…
Chính vì vậy , ngoài việc sử dụng các biện pháp dạy học , người giáo
viên cần phải phân loại được các sự kiện , hiện tượng lịch sử , xem kiến thức
đó phát triển tư duy nào cho học sinh.
PHầN THứ NHấT
Các biện pháp sư phạm để phát huy tính tích cực của học
sinh lớp 9 trong học tập môn lịch sử
1-Sử dụng SGK nhằm phát triển tư duy cho học sinh .
a- Sử dụng SGK để trình bày bài giảng :
Sau khi soạn giáo án xong , cần nghiên cứu nội dung toàn bài trong
SGK , xác định kiến thức cơ bản của bài , hiêu rõ nội dung tinh thần mà tác giả
mong muốn ở học sinh về từng mặt giáo duc ,giáo dưỡng, phát triển … sau đó đi
sâu vào từng mục , tìm ra kiến thức cơ bản của mục đó , sự liên quan của kiến thức
đó với kiến thức cơ bản của toàn bài . Mỗi bài có từ 2 đến 3 mục nhưng không nên
dàn đều về mặt thời gian cũng như khối lượng kiến thức của từng phần mà phải xác
định phần nào lướt qua , phần nào là trọng tâm thì dành thời gian nhiều hơn .
Ví dụ : Khi dạy bài “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
xâm lược kết thúc (1953- 1954) bài gồm có 4 mục thì mục II là mục quan
trọnh nhất, do dó phải đầu tư thời gian nhiều nhất .
Trong bài dạy thường có các tranh ảnh , bản đồ … nếu không có bản

c- Hướng dẫn học sinh sử dụng SGK để học ở nhà
Đối với học sinh lớp 9 thì khả năng tự học ở nhà một cách độc lập đã khá
cao , giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể , vưà sức với các em . Nếu hoàn thành tốt
thì đó chính là điều kiện để tư duy của các em phát triển
Ví dụ : Khi học bài “Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng cộng sản ra đời
‘’’ giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập để nêu rõ sự thành lập và hoạt động
của ba tổ chức cách mạng bằng cách lập bảng so sánh
Tên tổ chức Thời gian thành lập Bộ phận lãnh đạo Thành phần tham gia Chủ
trương hoạt động
2- Sử dụng hệ thống các câu hỏi trong dạy học lịch sử lớp 9 để phatstriển tư
duy cho học sinh
Để sử dụng tốt hệ thống các câu hỏi trong quá trình dạy học chúng ta cần lưu
ý mấy điểm sau :
- Câu hỏi phải vừa sức , đúng đối tượng , không quá khó hoặc quá
dễ .
- Mỗi giờ học chỉ nên sử dụng từ 5 đến 7 câu hỏi . Sau mỗi
chương có câu hỏi bài tập .
- Triệt để khai thác các câu hỏi trong SGK kết hợp với câu hỏi
sáng tạo .
a-Nêu câu hỏi đầu giờ học : Đầu giờ học giáo viên có thể kiểm tra hay
không kiểm tra kiến thức bài cũ . Nhưng trước khi cung cấp kiến thức của bài
học cho học sinh , giáo viên cần nêu ngay câu hỏi định hướng cho học sinh .
Đây là loại câu hỏi có tính chất bài tập , muốn trả lời phải huy động kiến thức
của từng bài . Tuy nhiên khi nêu câu hỏi không yêu cầu học sinh trả lời ngay
mà chỉ sau khi giáo viên cung cấp chocacsicsís em đầy đủ sự kiện thì các em
mới trả lời được .
Ví dụ :Khi dạy bài : Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp xâm lược “” thì đầu giờ học giáo viên có thể đặt câu hỏi
chocaar lớp suy nghĩ : Tại sao lại khẳng định từ chiến thắng Việt Bắc thu đông
1947 đến chiến thắng Biên giới thu đông 1950 là một bước phát triển của cuộc

“Sai’’, hoặc câu hỏi quá dễ làm học sinh thoả mãn đi đến chủ quan về vốn hiểu
biết của mình .
Thông thường, căn cứ vào tính chất , đặc điểm của các kiến thức lịch sử mà
có thể nêu các loại câu hỏi sau :
- Câu hỏi về sự phát sinh của các sự kiện , hiện tượng lịch sử như
nguyên nhân sâu xa , nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh lịch sử của sự
kiện , hiện tượng đó .
- Câu hỏi về quá trình diễn biến , phát triển của sự kiện , hiện
tượng lịch sử như diễn biến các cuộc khởi nghĩa , các cuộc cách mạng hoặc
các cuộc cách mạng hoặc các cuộc chiến tranh .
- Câu hỏi nêu lên đặc trưng , bản chất của các hiện tượng lịch sử
bao gồm sự đánh giá và thái độ của học sinh đối với các hiện tượng lịch sử
ấy .
Ví dụ : Em hãy đánh giá vai trò của Nguyễn ái Quốc đối với sự thành lập
Đảng cộng sản Việt nam .
- Câu hỏi tìm hiểu kết quả , nguyên nhân thắng lợi (thất bại) và ý
nghĩa lịch sử các sự kiện hiện tượng lịch sử .
- Câu hỏi đối chiếu , so sánh giữa các sự kiện , hiện tượng lịch sử
cùng loại với nhau .
Ví dụ : Khi dạy bài “Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng cộng sản ra
đời ‘’’ có thể cho học sinh so sánh ba tổ chức cách mạng về tổ chức , hoạt
động …
Một điều cần lưu ý là phải động viên , khuyến khích học sinh tham gia trả
lời câu hỏi dưới nhiều hình thức như khen ngợi , đánh giá , cho điểm …

3-Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sư lớp 9
để phát huy tính tích cực của học sinh
Đồ dùng trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của
nhiều giác quan , sẽ kết hợp chặt chẽ cho được hai hệ thống tín hiệu với nhau :
tai nghe , mắt thấy tạo điều kiện cho học sinh dẽ hiểu , nhớ lâu , phát triển

Vì vậy giáo viên phải làm nổi bật tính cách nhân vật để gây hứng thú cho
học sinh , kích thích óc tò mò , phát triển năng lực nhận thức . Từ đó làm cho
các em khâm phục , học tập được đạo đức , tài năng của họ .
Tuy nhiên phải chọn thời gian phù hợp để đưa chân dung của nhân vật
lịch sử ra . Khi sử dụng , giáo viên phải phân tích ,định hướng cho học sinh , tự
mình đánh giá vai trò , tính cách của nhân vật .
Ví dụ :Khi dạy bài “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời’’ khi dạy đến mục
“Luận cương chính trị 10 – 1930’’ giáo viên cho học sinh quan sát bức ảnh
Trần Phú . Sau đó cho học sinh phát biểu nêu lên sự hiểu biết về nhân vật lịch
sử này ,giáo viên kể cho các em nghe về tiểu sử , quá trình hoạt động cách
mạng và khí tiết của người chiến sĩ cộng sản Trần Phú – Tổng bí thư đầu tiên
của Đảng ta .

c- Sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử

Bản đồ là phương tiện trực quan rất quan trọng và sinh động trong dạy học
lịch sử . Trên bản đồ lịch sử các sự kiện luôn được thể hiện một không gian , thời
gian , địa điểm cùng một số yếu tố địa lí nhất định
Ví dụ : Nếu chỉ dùng lời giáo viên khó có thể tạo cho học sinh biểu tượng về
tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà thực dân Pháp và cố vấn Mĩ cho là “một pháo
đài bất khả xâm phạm’’ , “một cối xay thịt Việt minh’’. Nếu giáo viên biết kết hợp
sử dụng bản đồ chiến trường Đông dương 1953-1954 , bản đồ chiến dịch Điện Biên
Phủ và một số hình ảnh khác thì học sinh có thể hiểu được khá rõ về vấn đề này
:Điện Biên Phủ có núi cao bao bọc , hiểm trở , là vị trí chiến lược có thể kiểm soát
cả chiến trường Lào và Bắc bộ .
Thông qua quan sát bản đồ , đọc kí hiệu , nội dung lịch sử được biểu diễn trên
bản đồ , việc sử dụng bản đồ lịch sử còn góp phần phát triển khả năng quan sát , trí
tưởng tượng , tư duy và ngôn ngữ , đặc biệt là kĩ năng đọc bản đồ , củng cố thêm
kiến thức về Địa lí .
Chú ý : Khi sử dụng bản đồ nhất thiết phải giới thiệu cụ thể cho các em kí hiệu

pháp dạy học vào từng bài phải có sự nhận xét , đánh giá , rút kinh nghiệm và trao
đổi , phổ biến với đồng nghiệp để khẳng định những biện pháp sư phạm trong việc
nâng cao chất lượng bộ môn . Cần trách khuynh hướng “tách lí thuyết với thực tế”
Điều cuối cùng là muốn thực hiện tốt điều này , đòi hỏi người giáo viên ngoài
năng lực chuyên môn , nghiệp vụ sư phạm thì phải có ý thức trách nhiệm cao , phải
có cái tâm mang đặc thù của nghề dạy học bởi vì phương pháp dù hay đến mấy
nhưng người thầy không có trách nhiệm cao ,không yêu nghề và thương yêu học
sinh hết mực thì cũng không đem lại kết quả như mong muốn . Có như vậy chúng ta
mới góp phần đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động làm chủ nước nhà : có
trình độ văn hoá cơ bản , phẩm chất đạo đức tốt , có sức khoẻ , thông minh sáng tạo
… đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời
đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá .

Bỉm sơn ngày 15/3/2008
Hồ Thị Nho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status