MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
1
3. Đối tượng nghiên cứu
2
4. Phương pháp nghiên cứu
2
II. NỘI DUNG
2
1. Cơ sở lí luận
2
2. Thực trạng vấn đề
3.3.3. Kết hợp sử dụng tranh ảnh, chân dung nhân vật lịch sử kết hợp với
lời nói sinh động nhằm tạo biểu tượng nhân vật lịch sử
11
4. Hiệu quả
11
III. KẾT LUẬN
13
14
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trong dạy học lịch sử ở bậc THPT, việc hình thành tri thức, giáo dục tư
tưởng tình cảm và rèn luyện các kĩ năng cho HS qua dạy học các nhân vật lịch
sử đóng vai trò quan trọng. Dạy học nhân vật lịch sử không chỉ là truyền đạt
kiến thức mà còn giúp HS nhận thức một cách sâu sắc vai trò của nhân vật liên
quan đến sự kiện và mối quan hệ của nhân vật với hoàn cảnh lịch sử. Đây là
phương pháp cần thiết giúp cho HS lĩnh hội kiến thức đầy đủ và tích cực.
Trong những năm gần đây, chất lượng dạy và học môn Lịch sử chưa đáp
ứng được yêu cầu của thực tiến xã hội, nhiều học sinh còn rất mơ hồ về các nhân
vật lịch sử, các anh hùng dân tộc dẫn đến chưa nhận thức đúng những cống hiến
của các nhân vật lịch sử đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân
loại. Nguyên nhân của tình trạng này là do trong thực tiễn giảng dạy một số GV
khi giảng dạy các nhân vật lịch sử thường hay mắc phải những thiếu sót như
- Vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, những phương
pháp để tạo biểu tượng nhân vật lịch sử trong giảng dạy bài Phong trào yêu nước
chống Pháp cuối thế kỉ XIX.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp điều tra thực tế
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp toán học thống kê.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của quần chúng nhân dân, song vai trò
của cá nhân cũng có ý nghĩa to lớn. Vì vậy, trong nghiên cứu, dạy học lịch sử
không thể không tìm hiểu về các nhân vật lịch sử. Sự hiểu biết về nhân vật lịch
sử là một thành phần quan trọng của kiến thức lịch sử. Do đặc điểm của bộ môn,
tạo biểu tượng về nhân vật là một nội dung quan trọng của dạy học lịch sử ở
trường THPT.
Nhận thức lịch sử là nhận thức những gì đã qua và không lặp lại cho nên
giai đoạn nhận thức cảm tính không thể tri giác trực tiếp mà phải thông qua sự
kiện lịch sử để tạo biểu tượng lịch sử từ đó hình thành khái niệm, rút ra quy luật
và bài học lịch sử rồi vận dụng vào thực tiễn. Muốn tái hiện bức tranh quá khứ
một cách sinh động chúng ta phải dựa trên cơ sở tài liệu tham khảo trong đó có
những câu chuyện, những giai thoại gắn liền với các nhân vật lịch sử.
Về việc đánh giá nhân vật lịch sử, V.I.Lênin đã nêu một nguyên tắc phương
pháp chỉ đạo cho việc nghiên cứu và học tập lịch sử, cũng như đối với các môn
khoa học xã hội và nhân văn khác, đặc biệt đối với hoạt động thực tiễn. Đó là:
Khi xem xét công lao lịch sử của một vĩ nhân, của các vĩ nhân, người ta không
căn cứ vào chỗ họ cống hiến được gì với nhu cầu của thời đại chúng ta mà căn
cứ vào chỗ họ đã cống hiến được gì mới so với các bậc tiền bối của họ. Lời chỉ
dẫn của Lênin giúp cho chúng ta khi xem xét, đánh giá một nhân vật lịch sử, thì
phải đặt nhân vật đó vào hoàn cảnh sinh sống, hoạt động của họ, phải xem xét
GV hình thành cho HS lòng tự hào, kính phục các vĩ nhân, lãnh tụ, anh hùng
cách mạng đối với những nhân vật chính diện. Ngược lại, HS sẽ có thái độ căm
ghét những gì tàn bạo, độc ác của các nhân vật đại diện cho giai cấp thống trị, đi
ngược lại quyền lợi của quần chúng nhân dân.
Tóm lại, tạo biểu tượng lịch sử nói chung và tạo biểu tượng về nhân vật nói
riêng trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT là một việc làm có ý nghĩa
lớn về cả ba mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển cho HS. Vì vậy, người
GV trong quá trình dạy học của mình, cần có những biện pháp tăng cường tạo
biểu tượng và tạo biểu tượng có hiệu quả, như vậy mới có thể nâng cao hiệu quả
dạy học trên tất cả các lĩnh vực.
2. Thực trạng vấn đề:
Thực tế, việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử ở trường phổ thông nói chung
và tại trường THPT Lang Chánh hiện nay đang diễn ra theo ba hướng:
4
Thứ nhất, với thời lượng 45 phút, hầu hết các giáo viên chỉ chăm chú truyền
đạt những sự kiện, những con số lịch sử với nguồn tài liệu tham khảo chủ yếu là
sách giáo khoa và sách giáo viên, thiếu các tài liệu tham khảo khác. Vì vậy, việc
dạy học rơi vào tình trạng lặp lại sách giáo khoa, chưa đáp ứng được yêu cầu
theo đặc trưng bộ môn. Thêm vào đó, một thực trạng khách quan là trong giảng
dạy, học tập, thi cử ở nhà trường phổ thông môn lịch sử chưa được coi trọng,
thậm chí nhiều lúc còn được coi là môn phụ. Tình trạng này, dẫn tới học sinh
chán học, ngại học môn Lịch sử hoặc các em chỉ học thụ động, đối phó.
Thứ hai, một số giáo viên đã chú ý hơn tới việc tạo biểu tượng các nhân vật
lịch sử ở trường phổ thông. Tuy nhiên, có thể do phương pháp không hợp lý,
chưa phù hợp với nội dung bài học hoặc chưa cân đối với thời lượng tiết học nên
hiệu quả chưa cao. Ở một số trường hợp thực tế, thay vì tạo biểu tượng nhân vật
lịch sử cho học sinh, người thầy lại quá sa đà vào việc kể các câu chuyện về
kiến chủ quan của cá nhân cho học sinh. Để đánh giá một nhân vật, phải xem xét
hoàn cảnh lịch sử mà họ sinh sống, hoạt động cụ thể, phải tìm hiểu họ đấu tranh
cho quyền lợi của giai cấp nào. Khi xét công lao lịch sử của một cá nhân, người
ta không căn cứ vào chỗ họ cống hiến được gì so với thời đại mà chúng ta đang
sống mà căn cứ vào những đóng góp của họ cho thời đại mà chính họ đang sống.
- Tính chính xác khoa học của các tài liệu về nhân vật lịch sử: Một trong
những yêu cầu quan trọng cần phải đạt được khi tạo biểu tượng lịch sử cho học
sinh là đảm bảo tính cụ thể, chính xác của những kiến thức về sự kiện, nhân vật,
nhằm giúp các em biết và hiểu lịch sử, phù hợp với quy luật chung của sự nhận
thức, theo yêu cầu và trình độ học tập của mình.
- Những nhân vật cơ bản gắn với sự kiện cơ bản của bài học: lựa chọn
nhân vật để tạo biểu tượng phải được xét trong mối tương quan với nội dung bài
học. Cần lựa chọn những nhân vật điển hình, tiêu biểu về hoạt động và tính cách
để mang lại hiệu quả cao cho một tiết học.
- Tính trực quan, sinh động: Muốn bài học lịch sử nói chung và việc tạo
biểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng đáp ứng được tính trực quan, lại sinh động,
lôi cuốn, hấp dẫn đòi hỏi nhiều ở kinh nghiệm và khả năng của người giáo viên.
Giáo viên phải biết kết hợp nhiều phương pháp như trình bày miệng sinh động,
hấp dẫn kết hợp với sử dụng tranh ảnh, phim tư liệu, tài liệu tham khảo,... Lời
nói giàu hình ảnh của giáo viên có thể tạo hình ảnh trực quan trong óc học sinh
song tính trực quan sẽ tăng lên rất nhiều nếu như giáo viên biết kết hợp với các
loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.
- Phù hợp yêu cầu của chương trình và nội dung bộ môn: nhân vật và kiến
thức lịch sử cung cấp cho học sinh trước hết phải giúp các em khôi phục quá
khứ khách quan rồi hiểu sâu sắc, và tìm ra cách vận dụng kiến thức đã học vào
cuộc sống. Việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử trong giảng dạy bài "phong trào
yêu nước chống Pháp cuối thế kỉ XIX" ở trường phổ thông không phải chỉ có ý
nghĩa giáo dưỡng mà còn có ý nghĩa giáo dục và phát triển sâu sắc. Do đó, từ
việc giúp học sinh nắm vững kiến thức lịch sử dân tộc giai đoạn này, việc tạo
biểu tượng nhân vật lịch sử phải giáo dục các em lòng kính trọng, noi gương các
trước sau ông vẫn là người chủ chiến, cầm đầu phái kháng chiến trong triều,
kiên quyết chống lại những hoạt động phản bội của bọn đầu hàng và ra sức
chuẩn bị lực lượng để đánh giặc giành lại chủ quyền. Phái chủ chiến trong triều
đình, do Tôn Thất Thuyết cầm đầu, đã chuẩn bị lực lượng chống Pháp (xây dựng
hệ thống sơn phòng dọc theo sườn Đông Trường Sơn, chuyển súng lớn (Thần
công) kho tàng, lương thực ra Tân Sở). Ngay ở kinh thành ông vẫn tuyển mộ
binh lính, cương quyết phế truất, trừ khử các vua nối ngôi Tự Đức tỏ ý thân
Pháp, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và chọn Hàm Nghi lên ngôi. Ông cũng
trừng trị các đại thần muốn đầu hàng Pháp để giành thế chủ động và làm thất bại
âm mưu của thực dân Pháp,
- Tổ chức lực lượng, phản công đánh chiếm các đồn bốt của Pháp tai kinh
thành Huế (đêm ngày 5/7/1885) nhưng không thành công. Đêm ngày 5/7/1885,
ông tấn công các căn cứ đồn trú của Pháp ở Huế. Bị đánh bất ngờ, lúc đầu quân
Pháp hoảng loạn, nhưng sau đó chấn chỉnh lực lượng phản công chiếm lại kinh
thành, tàn sát nhân dân dã man.
7
- Thay mặt vua Hàm Nghi, ông xuống chiếu Cần Vương làm bùng nổ
phong trào Cần Vương chống Pháp(1885-1896).Tôn Thất Thuyết phải đưa Hàm
Nghi ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị). Ở đây thay mặt Hàm Nghi xuống chiếu
Cần vương, kêu gọi toàn dân kháng chiến. Phong trào gặp nhiều khó khăn Tôn
Thất Thuyết đã giao trách nhiệm lãnh đạo cho các thủ hạ và con trai là Tôn Thất
Đàm và Tôn Thất Thiệp, rồi sang Trung Quốc mưu cầu viện trợ. Về sau triều
đình nhà Thanh cấu kết với thực dân Pháp đã đày Tôn Thất Thuyết đi Thiều
Châu. Ông mất tháng 3/1913, thọ 79 tuổi. Tôn Thất Thuyết là nhân vật tiêu biểu
của phái chủ chiến, thể hiện quyết tâm chống Pháp.
* Hàm Nghi (1870-1943):
- Ông vua yêu nước
Phùng đã quên nỗi hiềm khích riêng, nhanh chóng sát cánh cùng Tôn Thất
Thuyết chống Pháp. Hưởng ứng dụ Cần Vương của vua, dù đang có tang mẹ,
Phan Đình Phùng vẫn đứng ra chiêu tập lực lượng chống Pháp. Ông được vua
phong làm Tán lí quân vụ lãnh đạo nghĩa quân xây dựng căn cứ tại huyện
Hương Sơn, Hương Khê. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896).
Suốt 10 năm (1885 – 1895), cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo đã
giao chiến với Pháp nhiều trận gây cho đối phương nhiều tổn thất nặng nề, tiêu
biểu nhất là trận Vụ Quang (1894). Ở trận này, ông cho nghĩa quân lên tận
nguồn sông chặt gỗ to làm kè chặn nước và đẵn nhiều khúc gỗ thả sẵn trên
nguồn. Giặc đến, nghĩa quân để cho chúng yên ổn đi qua một khúc sông cạn
nước, chờ lúc giặc đến giữa dòng, ông ra lệnh phá kè trên nguồn. Nước bị dồn ứ
từ lâu, đến lúc được tháo, ào ào chảy xuống, kéo theo những khúc gỗ chặt để
sẵn, vun vút lao xuống. Quân địch phần bị nước cuốn bất ngờ, phần bị gỗ to lao
vào người, phần bị nghĩa quân mai phục hai bên bờ bắn ra nên bị chết rất nhiều.
- Xây dựng một hệ thống căn cứ chống Pháp lớn. Chế tạo được vũ khí hiện
đại chống Pháp.
- Được sự giúp đỡ của nhân dân các tỉnh Bắc Trung Kỳ.
- Giành được nhiều chiến thắng điển hình là trận Vụ Quang.
- Cuối tháng 12/1895, Phan Đình Phùng bị thương và tạ thế tại núi Quạt
(Hương Khê). Thực dân Pháp đã cho người quật mộ ông và đốt xác lấy tro nhồi
thuốc súng bắn xuống sông La. Chỉ điều này thôi cũng đủ minh chứng cho tầm
vóc lớn của cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng tổ chức và lãnh đạo và tinh
thần chiến đấu xả thân vì nước của Phan Đình Phùng. Không chỉ nhân dân tôn
sùng Phan Đình Phùng, mà kẻ thù cũng tỏ lòng khâm phục kiêng nể. Đại úy
Getxơlanh, chỉ huy quân Pháp, đàn áp khởi nghĩa Hương Khuê, phải khâm phục:
Quan Đình - nguyên Phan Đình Phùng có tài điều khiển việc quân binh, biết
luyện tập sĩ tốt theo phong thái Tây, áo mặc một lối, và đeo súng kiểu 1874,
nhưng súng Tây là súng của người quan Đình nguyên đúc ra thật nhiều mà máy
móc cũng hệt như súng Pháp, chỉ vì nòng súng không có xẻ rãnh nên đạn không
đi xa được.
trưởng mà là người nông dân nghèo. Quê gốc ở Hưng Yên, sau vì nghèo túng
quá nên di chuyển lên Bắc Giang đi ở cho những nhà điền chủ trong vùng. Tên
trước kia là Trương Văn Thám (sau này khởi nghĩa gọi là Hoàng Hoa Thám).
Hoàng Hoa Thám có biệt tài quân sự ngay từ khi còn trẻ, lại là người trung thực
kiên nghị nên được Hoàng Đình Kính yêu mến nhận làm con nuôi. Hoàng Hoa
Thám đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế từ 1884 – 1913.
- Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế.
- Tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ, chiến đấu và thương thuyết với địch,
duy trì cuộc đấu tranh trong khoảng 30 năm.
- Ngày 10/2/1913, Đề Thám bị giết hại tại khu rừng cách chợ Gồ khoảng
2km. Việc Hoàng Hoa Thám chết đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của phong trào
nông dân Yên Thế.
10
3.3. Một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử trong giảng dạy
bài " Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thể kỉ
XIX":
3.3.1. Hình thành mối quan hệ giữa nhân vật lịch sử với không gian
và thời gian:
Một sự kiện lịch sử được cấu thành bởi ba yếu tố: thời gian, không gian,
con người. Vì vậy, con người hoạt động luôn ở trong một không gian và thời
gian cụ thể. Hình thành mối quan hệ giữa nhân vật và thời gian, không gian là
đặt nhân vật trong bối cảnh họ sống và hoạt động để tạo biểu tượng cụ thể về
từng nhân vật, tránh hiện tượng nhầm lẫn và “hiện đại hóa” nhân vật lịch sử. Tạo
được biểu tượng về không gian và thời gian nhân vật hoạt động một cách sinh
động cũng là cách để giảng dạy nhân vật đạt hiệu quả. Nhớ và hiểu về con người
không thể tách rời bối cảnh họ sống và hoạt động.
Thứ nhất, là hình thành mối liên hệ giữa nhân vật với thời gian: Nhân vật
Đình Phùng, cũng là căn cứ ở cùng đồng bằng nhưng cộng sự mà Phạm Bành –
Đinh Công Tráng xây dựng khác Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật. Như vậy, khi
tạo biểu tượng về không gian có liên quan đến nhân vật thì hình ảnh nhân vật
được hiện lên rõ với trung tâm điểm gắn liền với hoạt động của họ.
3.3.2. Sử dụng nguồn tài liệu có liên quan về nhân vật trong tạo biểu
tượng nhân vật lịch sử:
Sử dụng tài liệu về tiểu sử nhân vật trong dạy học lịch sử cần khai thác
những kiến thức về hoàn cảnh xuất thân, quá trình hoạt động của bản thân.
Những điều này được chọn lựa một cách khoa học, sống động để HS có biểu
tượng hoàn chỉnh về một nhân vật lịch sử.
Muốn sử dụng tài liệu của nhân vật có hiệu quả, điều cốt yếu trước tiên là
phải nắm được cuộc đời và hoạt động của nhân vật, khai thác những điểm nổi
bật đặc sắc nhất, liên quan đến sự kiện lớn của dân tộc, cách mạng. Vì vậy, khi
sử dụng tiểu sử nhân vật trong dạy học cần chú ý yêu cầu cơ bản là phù hợp với
nội dung bài học, không được lan man.
Sử dụng nhận xét, đánh giá về nhân vật trong dạy học lịch sử là một biện
pháp cần thiết để hiểu sâu sắc hơn con người và xã hội đương thời. Khi tạo biểu
tượng về Phan Đình Phùng cần khai thác, minh chứng lời nhận xét Đại úy
Getxơlanh - chỉ huy quân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa Hương Khê phải khâm
phục:
Quan Đình nguyên Phan Đình Phùng có tài điều khiển việc quân binh, biết
luyện tập sĩ tốt theo phong thái Tây, áo quần mặc một lối, và đeo súng kiểu
1874, nhưng súng tây là súng của người quan Đình nguyên đúc ra thật nhiều
mà máy móc cũng hệt như súng Pháp, chỉ vì nòng súng không xẻ rãnh, cho nên
đạn không đi xa được.
Hay khi tạo biểu tượng về Hoàng Hoa Tham cần khai thác, minh chứng lời
ca tụng Hoàng Hoa Thám, “Con hùm xám Yên Thế” của Hồ Chí Minh:
Giang san độc lập một miền.
Ông Hoàng Hoa Thám đất yên tung hoành
3.3.3. Kết hợp sử dụng tranh ảnh, chân dung nhân vật lịch sử kết hợp với
trong phong trào Cần vương và phong trào đấu tranh tự vệ cuối thế kỉ XIX”, GV
có thể kể đôi nét về Phan Đình Phùng cùng cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo:
“Phan Đình Phùng người làng Đông Thái (này là Đức Phong) huyện Đức Thọ,
tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ Đình nguyên Tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1877) đời Tự Đức.
Lúc đầu ông được bổ làm tri huyện Yên Khánh (Ninh Bình), rồi về kinh sung
vào Viện Đô sát giữ chức Ngự sử. Suốt 10 năm (1885 – 1895), cuộc khởi nghĩa
do Phan Đình Phùng lãnh đạo đã giao chiến với Pháp nhiều trận gây cho đối
phương nhiều tổn thất nặng nề, tiêu biểu nhất là trận Vụ Quang (1894). Mặc dù
nghĩa quân do ông tổ chức, chiến đấu ngoan cường dũng cảm, nhưng cuối cùng
trước sự bao vây của thực dân Pháp với vũ khí hiện đại, lực lượng nghĩa quân
13
đã bị đánh bại. Như vậy, GV có thể giúp HS có những hiểu biết cơ bản về Phan
Đình Phùng cùng cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo.
Thứ ba: GV tổng kết, khái quát nhằm khắc sâu biểu tượng. Lời nói phải cô
đọng, súc tích với ngữ điệu trầm lắng, có sức truyền cảm như lời kết thúc một
câu chuyện lịch sử và mở ra những cảm xúc cho mỗi HS.
Qua lời nói của GV, mỗi nhân vật hiện lên với những hình ảnh khác nhau
làm cho HS dễ dàng phân biệt nhận diện được họ. Ví như, qua đoạn miêu tả
chân dung vua Hàm Nghi, GV làm hiện lên không chỉ hình dáng bên ngoài giản
dị, đời thường mà còn nêu bật khí phách của ông. Ấn tượng đẹp về vua Hàm
Nghi lưu lại trong HS không những là thái độ khâm phục, quý mến mà từ đó
nhận thức được phong trào Cần vương chống Pháp mà vua Hàm Nghi là một
nhân vật tiêu biểu.
khi dạy về Hoàng Hoa Thám, nếu chỉ nêu tên nhân vật gắn với hoạt động
chính là phong trào nông dân Yên Thế thì hình ảnh về nhân vật trong ký ức của
HS rất mờ nhạt, không cụ thể bằng khi GV sử dụng các chi tiết nổi bật về hình
dáng, tính cách để khắc họa về ông: “Với thân hình vạm vỡ, tóc thường cắt
ngắn, mắt một mí, rất giản dị, thuần phác và chẳng bao giờ cởi mở hết lòng với
nhân trong lịch sử, về mối quan hệ giữa cá nhân và quần chúng, giáo dục lòng
biết ơn, sự noi gương tổ tiên và phát huy tính tích cực trong tư duy và hành
động.
Muốn nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, một vấn đề
mà giáo viên cần nhận thức đúng là dạy học các nhân vật lịch sử. Bởi vì, những
kiến thức về nhân vật lịch sử là một loại kiến thức cơ bản, quan trọng của khóa
trình lịch sử. Để tạo biểu tượng nhân vật cho HS cần kết hợp sử dụng các biện
pháp sư phạm theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, năng động, chủ động,
sáng tạo của HS.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 05 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không
sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Đình Bảy
Nguyễn Thị Hà
15