Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy, tích hợp kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử lớp 10 ( tiết tự chọn văn hóa cổ đại ) - Pdf 44

MỤC LỤC
1.MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài……………………………………………....................1
1.2. Mục đích nghiên cứu:…………………………………...........................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu:……………………………………………..........2
1.4. Phương pháp nghiên cứu:…………………………………….................2
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:.............................................3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm...........3
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong day học:……...................4-6
2.3.2. Phương pháp tích hợp môn CNTT, Địa Lí :………………………..6-8
2.3.3. Phương pháp tích hợp môn Ngữ văn :…………............................. 8-9
2.3.4. Phương pháp tích hợp các môn khoa học khác (Toán, Lí) và những
hiểu biết về nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc:............................................ 9-18
Giáo án cụ thể
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường..........................................................18
3. Kết luận, kiến nghị.................................................................................... 19
3.1 Kết luận
3.2 Kiến nghị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục

1


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Mục tiêu chung của giáo dục THPT đã được xác định rất rõ trong Luật
giáo dục sửa đổi 2010 “ Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh

lịch sử nhân loại, phần này có một khối lượng kiến thức rất phong phú, đa
dạng . Với sự xuất hiện của loài người và bầy người nguyên thủy, sự chuyển
biến từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nước; sự ra đời của
các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây với những điều kiện tự nhiên,
kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa khác nhau...
Nhận thấy được tầm quan trọng của giai đoạn lịch sử này đối với chương
trình học, trong mỗi bài dạy, tôi thường tìm tòi và áp dụng những phương pháp
giảng dạy mới, sinh động, có tính thuyết phục để lôi cuốn học sinh.Trong đó
2


phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy, tích hợp môn công nghệ thông tin, Địa Lí,
Ngữ văn, Toán, Lý vào giảng dạy phần này là một trong số các phương pháp
đem lại hiệu quả cao đồng thời giúp các em nâng cao kĩ năng tự học và thực
hành bài tập.
Từ thực tế giảng dạy, từ yêu cầu đổi mới giáo dục về nội dung và phương
pháp, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “ Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy, tích
hợp kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử lớp 10 ( Tiết tự chọn: Văn
hóa cổ đại ) làm sáng kiến kinh nghiệm. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các
đồng nghiệp.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Chúng ta đều biết rằng: Lịch sử loài người là một quá trình phát triển không
ngừng từ thấp đến cao, từ chế độ nguyên thủy dã man mông muội đến xã hội
chủ nghĩa văn minh tiến bộ. Hơn nữa, nhận thức của học sinh THPT khôn dừng
lại ở cảm tính mà ở cấp độ nhận thức, lý tính. Nhận thức là cơ sở để hình thành
tư tưởng, tình cảm đúng đắn tốt đẹp. Trong quá trình phát triển của xã hội loài
người, thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại là 3 giai đoạn phát triển liền kề xa
xưa nhất đối với các em. Bởi vậy để khôi phục lại hình ảnh lịch sử quá khứ và
để học sinh nhận thức đúng đắn, sâu sắc về lịch sử, tránh “hiện đại hóa” lịch sử
là một điều không hề dễ dàng. Để đạt được yêu cầu này, giáo viên phải tìm mọi

hợp...
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIÊM.
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề.
Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động thì phương tiện
trực quan là một yếu tố hết sức cần thiết. Do đó, bên cạnh ứng dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy thì việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy và học là
phương pháp tối ưu nhằm phát huy tính tích cực và khả năng tư duy của học
sinh, sơ đồ tư duy - phương pháp dạy học bằng cách sử dụng đồng thời hình
ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết, với sự tư duy tích cực không chỉ tạo hứng thú
trong học tập của học sinh mà còn góp phần đổi mới và làm phong phú các
phương pháp giáo dục tích cực. Dạy học bằng sơ đồ tư duy giúp học sinh thuộc
bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu và nhớ chính xác những nội dung
bài học làm cho các em không thấy nhàm chán vì bài học dài dòng mà luôn sôi
nổi, hào hứng từ đầu đến cuối tiết học đồng thời sẽ nâng cao hiệu quả trong việc
củng cố kiến thức, rèn các kỹ năng và phát triển tư duy lôgíc cho HS
Ngoài sử dụng sơ đồ tư duy, trong mỗi bài lịch sử giáo viên còn có thể
vận dụng phương pháp dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan
trọng trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng ở trường phổ thông.
Dạy học liên môn thực chất là sự vận dụng những nội dung và phương pháp các
lĩnh vực, các môn học có liên quan để nhằm làm tăng thêm hiệu quả dạy học
lịch sử. Dạy học liên môn là cho người học sử nhận thức được sự phát triển xã
hội một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh
vực của đời sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của lịch sử, khắc phục được
tính tản mạn trong kiến thức.
2.2. Thực trạng vấn đề .
Đối với giáo viên: Trên thực tế, qua khảo sát tình hình giảng dạy của giáo
viên trường tôi công tác cũng như một số trường THPT, việc sử dụng sơ đồ tư
duy, và tích hợp kiến thức một số môn học khác có liên quan vào trong bài giảng
chưa thực sự có hiệu quả. Rất nhiều giáo viên ít khi sử dụng sơ đồ tư duy và
tích hợp liên môn vào giảng dạy, nếu có sử dụng chỉ mang tính hình thức, nêu

Bước 2: Học cách thiết kế sơ đồ tư duy bằng cách cho học sinh hoàn thiện các
sơ đồ tư duy do GV vẽ sẵn nhưng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung…
Bước 3: Thực hành vẽ sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng.
GV hướn dẫn HS lưu ý khi vẽ sơ đồ tư duy:
1. Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh (hoặc từ khóa) của chủ đề. Tại sao
nên dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp cho
trí tưởng tượng được phát huy một cách tốt nhất. Một hình ảnh ở trung tâm sẽ
khiến tư duy tập trung cao vào chủ đề chính và tạo nên sự hưng phấn hơn.
2. Luôn sử dụng màu sắc. Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não
như hình ảnh.
3. Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh
cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,.... bằng
các đường kẻ.
4. Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường nối.
5. Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,...)
6. Nên dùng các đường nối cong thay vì các đường thẳng vì các đường
cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều.
7. Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.
Cụ thể:
Mục 1. Văn hóa cổ đại phương Đông.
GV đặt câu hỏi cho HS: Các dân tộc phương Đông thời cổ đại đã có những
thành tựu văn hóa gì?

5


Sau khi HS biết thế nào là sơ đồ tư duy và cách tạo lập sơ đồ “ thô”, GV yêu
cầu cả lớp học theo hình thức ghi vở bằng sơ đồ, các em chuẩn bị tâm thế, vật
dụng - tạo lập sơ đồ tư duy của cá nhân trong vở. Hướng dẫn HS tìm ý trung tâm
bằng cách chắt lọc ý từ đề mục 1. Có thể có những từ khóa như thế nào? => “

Thông qua việc hoàn thiện sơ đồ tư duy của GV đưa cho HS sẽ củng cố
vững chắc được kiến thức đã học, không bị nhầm giữa văn hóa cổ đại phương
Đông với văn hóa cổ đại phương Tây, qua đó HS càng hiểu rõ hơn những đóng
góp to lớn của các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây vào nền văn
hóa của nhân loại.
2.3.2. Phương pháp tích hợp môn CNTT, Địa lý vào giảng dạy:
Khi tìm hiểu về văn hóa cổ đại, học sinh cần phải vận dụng kiến thức môn
CNTT để cung cấp thêm tư liệu và môn địa lý để xác định vị trí của các quốc gia
đồng thời qua việc tìm hiểu điều kiện tự nhiên của các quốc gia cổ đại phương
Đông và các quốc gia cổ đại phương Tây, các em sẽ hiểu được ảnh hưởng của
địa lý đến toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị cũng như văn hóa của các quốc gia
này.
Ví dụ:Mục I. Khi tìm hiểu về văn hóa của các quốc gia cổ đại phương
Đông. học sinh sẽ biết được vai trò của các con sông đối với sự phát triển của
khu vực này.

Lược đồ các quốc gia cổ đại phương Đông
Do nằm ven các con sông lớn: Trung Quốc có sông Hoàng Hà và Trường
Giang, Ai Cập có sông Nin, Ấn Độ có sông Ấn và sông Hằng…Các con sông đã
cung cấp phù sa, mặt khác đem lại nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng. Chính
vì vậy, đất đai ở đây tơi xốp màu mỡ, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển.
Điều này lí giải tại sao nhà nước ra đời sớm ở các quốc gia phương Đông cổ đại,
mặt khác tại sao ở đây lại có nền văn minh ra đời sớm nhất trên thế giới ( Lịch,
Thiên văn học ra đời sớm xuất phát từ nhu cầu sản xuất nông nghiệp, chữ viết,
Toán, Kiến trúc….)

8


Chữ tượng hình Ai Cậo cổ

Ai Cập, xây dựng vùng Tây Nam Cai rô ngày nay. Trong số các kim tự tháp ở Ai
Cập, cao lớn nhất, tiêu biểu nhất là Kim tự tháp của Kê ốp

Kim tự tháp Ai Cập
10


Kim tự tháp Kê ốp xây thành hình chóp, đáy là hình vuông mỗi cạnh 230 mét,
bốn mặt là những hình tam giác ngoảnh về bốn hướng đông, tây, nam, bắc.
Toàn bộ kim tự tháp được xây bằng những tảng đá vôi mài nhẵn, mỗi tảng nặng
2,5 tấn, có tảng nặng 30 tấn. Để xây kim tự tháp này, người ta đã dùng đến
2.300.000 tảng đá với một khối lượng là 2408000 m3. Phương pháp xây kim tự
tháp là ghép các tảng đá được mài nhẵn với nhau chứ không dùng vữa, thế mà
các mạch ghép kín đến mức một lá kim loại mỏng cũng không thể lách qua
được”.
Hơn 2000 năm sau, nhà sử học Hi Lạp Hê rô đốt đến Ai Cập còn được nghe
cư dân ở đây kể lại quá trình xây dựng kim tự tháp. Hê rô đốt cho biết, sau khi
quyết định xây dựng kim tự tháp Kê ốp đã huy động toàn thể nhân dân lao động
trong nước đến công trường làm việc. Họ được tổ chức thành từng đội gần
100.000 người, cứ 3 tháng thì thay phiên một lần. Kim tự tháp được xây dựng ở
tả ngạn sông Nin, nhưng nơi khai thác đá lại ở hữu ngạn. Vì vậy, người ta phải
dùng thuyền chở đá từ nơi khai thác đến xây kim tự tháp. Từ bến đá đến khu
lăng mộ, người ta phải xây một con đường bằng những tảng đá mài nhẵn, dài
hơn 900 m, rộng 18 m và chỗ cao nhất là 15 m. Chỉ riêng việc xây con đường
này đã mất 10 năm. Không kể thời gian làm đường và hầm mộ dưới đất, việc
xây kim tự tháp đã kéo dài 20 năm mới hoàn thành. Việc xây dựng kim tự tháp
đã "đem lại cho nhân dân Ai Cập không biết bao nhiêu tai họa". Nhưng nhân
dân Ai Cập cổ đại, bằng bàn tay và khối óc của mình đã để lại cho nền văn minh
nhân loại những công trình kiến trúc vô giá. Trải qua gần 5000 năm, các kim tự
tháp hùng vĩ vẫn đứng sừng sững ở vùng sa mạc Ai Cập bất chấp thời gian và

ca khúc (15.693 câu thơ). Bản trường ca thuật lại 50 ngày trong năm cuối cùng
của cuộc chiến tranh ở Tơroa.
Ô đi xê là bản trường ca về hành trình trở về quê hương Hi Lạp của nhân vật
Ulixơ (hay Ôlixê) và đồng đội, sau khi thắng trận trong cuộc chiến tranh ở
Tơroa. Hành trình đó đã trải qua biết bao gian nan nguy hiểm và Ulixơ là
người đã vượt qua được những khó khăn đó. Theo quan niệm của người Hilạp
cổ đại, những khó khăn, gian nan, nguy hiểm mà Ulixơ vượt qua cũng là những
chiến công lớn, vì thế hành trình của Ulixơ cũng được xếp vào loại sử thi hay
anh hùng ca. Bản trường ca này gồm 24 ca khúc (12.110 câu thơ).
Hai tập sử thi Iliát và Ôđixê, tuy thuật lại cuộc chiến tranh ở thành Tơroa vào
thế kỉ XII TCN, nhưng chất liệu mà tác giả dùng để xây dựng tác phẩm như tình
trạng kinh tế, quan hệ xã hội, phong tục tập quán, cho đến cảnh sinh hoạt hằng
ngày và cá tính của nhân vật đều thuộc vào giai đoạn mà tác giả đang sinh sống
(khoảng thế kỉ XI-IX T.C.N). Vì thế, các nhà sử học ngày nay đã coi hai bộ sử
thi Iliát và Ôđixê là một bức tranh(hay một nguồn sử liệu) phản ánh một giai
đoạn lịch sử của Hi Lạp cổ đại trước khi các xã hội có giai cấp và Nhà nước ra
đời- đó là “ thời đại Hômerơ”.
Hoặc về lĩnh vực kịch, các em có thể tìm hiểu thêm kiến thức về Ê sin,
Xôphốclơ (Ngữ văn lớp 10): Êsin, ông được mệnh danh là cha đẻ của bi kịch,
sinh ra trong 1 gia đình quý tộc. Êsin có một vốn sống rộng lớn, quý báu, có tác
dụng lớn trong sự nghiệp của ông. Hình ảnh những cuộc đấu tranh kiên cường,
bất khuất, những chiến thắng oanh liệt chống giặc ngoại xâm, ước vọng công
bằng và bình đẳng hiện lên trong kịch của Êsin rất rõ nét. Ngoài ra, trong kịch

12


của Êsin còn rất giàu yếu tố thần thoại, tất cả đã tạo nên một Êsin được quần
chúng hâm mộ và kính phục. Vở kịch tiêu biểu nhất của ông là “ôrexti”.
Xôphốclơ cũng rất thành công trong việc đóng góp vào kho tàng văn học

đường song song cắt ngang như chúng ta đều biết. Ông cũng là người đầu tiên
đo được chiều cao kim tự tháp: Kim tự tháp là một công trình nổi tiếng được
xây dựng hoành tráng, nhưng làm thế nào để đo được chiều cao của nó? Đây
quả là một câu hỏi rất khó đối với người Ai Cập cổ đại. Một hôm Talét đến Ai
Cập đã được vua lập tức mời vào nhờ giải bài toán hóc búa này. Giữa đám
đông, ông chỉ thực hiện bằng một cái thước. Bằng cách đo bóng của một người
đứng tại vị trí đó, Talét xác định được khi nào bóng kim tự tháp bằng đúng
chiều cao của nó, nhờ vậy ông đo được chiều cao chính xác của kim tự tháp Kê
ốp là 146 m trước sự thán phục của nhiều người. Thực ra, cách Talét vận dụng
để đo đạc chính là tuân theo nguyên lý tam giác đồng dạng. Nhưng thời kỳ đó
13


nguyên lý đồng dạng chưa ra đời. ta lét chỉ hoàn toàn dựa vào trí thông minh
của chính mình. Đó quả là điều tuyệt vời vượt thời đại.
Hay Pitago: Là nhà toán học, thiên văn học lớn của Hi Lạp. Ông được
mệnh danh là người thầy của các con số. Ngoài định lí Pitago nổi tiếng (trong 1
tam giác vuông, bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương 2 cạnh góc
vuông, ông còn chứng minh được tổng các góc trong 1 tam giác bằng 180 độ,
xây dựng khái niệm vô cực …
Trong lĩnh vực Vật lí giáo viên tích hợp với kiến thức Vật lí lớp 8, lớp 11:
Tiêu biểu nhất là Ácsimét, một trong số những nhà bác học vĩ đại nhất của Hi
Lạp cổ đại. Ácsimet sinh ra ở thành Xyracudơ nhỏ bé trên đảo Xixilia. Ông đã
để lại nhiều tài sản vô giá cho khoa học nhân loại. Ông đã sáng tạo ra máy bơm
hút nước tưới tiêu đồng ruộng, ông sử dụng đòn bẩy và ròng rọc để nâng các vật
lên cao. Ác si mét từng nói: “Hãy cho tôi một đòn bẩy và một điểm tựa vững
chắc, tôi sẽ nâng cả trái đất lên”. Ông còn phát minh ra định luật về lực đẩy của
nước và có 1 câu chuyện rất nổi tiếng về định luật này: Vua Hierôn II nghi ngờ
người thợ kim hoàn của mình đã ăn bớt vàng khi làm chiếc vương miện của nhà
vua bèn nhờ Acsimét xác minh rõ. Ácsimét ngày đêm suy nghĩ, cho đến cả lúc

sự thiếu hụt này lại càng làm nên giá trị của tác phẩm. Sau khi bức tượng được
tìm thấy, người ta đã tìm mọi cách khôi phục lại cánh tay nhưng không thành
công. Tượng được tạo dáng đến mức hoàn hảo, đường nét mềm mại, tinh tế,vẻ
mặt sống động, có thần. tượng là thần nhưng lại thể hiện vẻ đẹp con người, giá
trị hiện thực và nhân đạo cũng là ở đó. Tượng Hi Lạp trở thành 1 kiểu mẫu nghệ
thuật, đến ngày nay, trong lịch sử chưa có 1 thời đại nào, chưa có 1 nơi nào mà
nghệ thuật điêu khắc có thể vượt qua trình độ người Hi Lạp cổ đại.
Công trình kiến trúc đẹp nhất của người Hi Lạp là đền Pác tê nông ở Aten.
Páctênông là ngôi đền thờ nữ thần A tê na, nữ thần tượng trưng cho trí tuệ, cũng
là thần bảo trợ thành bang ATen.

Lưc sĩ ném đĩa

Nữ thầnMi-Lô

15


Công trình được xây dựng trong 10 năm, dưới sự kiến thiết của 2 kiến trúc
sư giàu kinh nghiệm Ichti ốt và Canlicratét, góp phần vào đó là bàn tay tài hoa
của nhà điêu khắc Phi đi át.
Đền dài 70m, rộng 31m, cao chưa tới 14m, được xây dựng trên nền trụ đá với
3 bậc. Kết cấu đều khá rõ ràng, chia làm 3 gian là tiền sảnh, gian thờ (nơi đặt
tượng nữ thần Atena bằng ngà voi nạm vàng) và phòng châu báu. Được chống
đỡ mái bằng 46 cột tròn cao 10m bằng đá cẩm thạch. Hai phía đông tây đối xứng
nhau là bức phù điêu tạo cảnh nữ thần A tê na chào đời và những truyền thuyết
Hi Lạp đương thời như: Đám rước thần A tê na, việc tranh chấp làm thần bảo hộ
thành bang A ten giữa 2 vị thần tới cao là Phôn sai don và A tê na được ghi tạc
trên đó.
Pác tê nông nhìn từ xa mang lại cảm giác vững trãi, vừa vặn, đẹp đẽ. Các

quạt đỡ toàn bộ khán đài và sàn của các tầng. Trong đấu trường còn đặt rất nhiều
pho tượng (Khoảng 60 pho), được bố trí rất hợp lí làm tăng thêm vẻ uy nghi, đồ
sộ, hùng vĩ của công trình. Công trình mang một phong cách riêng của Châu Âu,
to lớn và khoa trương, các chi tiết kiến trúc cũng được chú ý để tạo nên vẻ uy
nghi cũng như không khí sôi động của trường đấu.
GV nhấn mạnh thêm cho HS: Trên các công trình kiến trúc đều thể hiện rõ
trạng thái tâm hồn, lối sống của con người trong một hoàn cảnh và thời đại nhất
định.Thông qua việc tìm hiểu các công trình kiến trúc HS sẽ hiểu đặc điểm các
công trình kiến trúc của các quốc gia cổ đại phương Đông mang tính đồ sộ
hoành tráng và có ảnh hưởng của thần thánh. Còn các công trình kiến trúc
phương Tây lại mềm mại, uyển chuyển và đặc biệt là mang vẻ đẹp của con
người.
2. 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Có thể nói qua thời gian áp dụng sáng kiến này tôi thấy:
- Giờ học lịch sử thật nhẹ nhàng, thoải mãi hơn, không còn khô khan cứng
nhắc nữa, chất lượng giảng dạy của tiết học được nâng cao hơn, học sinh tỏ ra
hứng thú với giờ học vì các em có thời gian được tự nghiên cứu, tìm hiểu. Với
sơ đồ tư duy học sinh sẽ biết cách hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ, nhờ đó HS
sẽ nắm chắc kiến thức hơn. Mặt khác qua tiết học này HS được vận dụng kiến
thức của nhiều môn học( Địa lý, CNTT, Văn học, các môn khoa học khác như
Toán, Lí và những hiểu biết về nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc), từ đó
càng củng cố vững chắc hơn kiến thức các em đã học làm cho giờ học trở nên
sinh động, lôi cuốn.
Thực nghiệm giảng dạy được tổ chức tại lớp: 10A5 và 10A7 là hai lớp có
HS học tương đối khá, tiếp thu nhanh. Lớp 10A7 tôi dạy thực nghiệm, 10A5 tôi
dạy đối chứng, không áp dụng phương pháp của đề tài. Trước khi thực nghiệm
đề tài tôi sử dụng câu hỏi để kiểm tra cả 2 lớp : Nêu những điều kiện tự nhiên,
kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia
cổ đại phương Tây? Tại sao lại có sự khác nhau?

26
62%
14
33%
2
5%

17


Sau khi dạy thực nghiệm và đối chứng, tôi đã tiến hành kiểm tra 15 phút
bằng câu hỏi như sau:
Hãy so sánh những thành tựu văn hóa của các quốc gia cổ đại phương Đông
và các quốc gia cổ đại phương Tây? Em có nhận xét gì về những thành tựu văn
hóa mà các quốc gia cổ đại phương Tây đạt được?.
Tôi tiến hành chấm bài cả 2 lớp, kết quả thu được như sau:
Lớp Tổng
Loại giỏi
Loại Khá
Loại TB
Loại yếu
Số
Số
Tỉ lệ Số
Tỉ lệ Số
Tỉ lệ Số
Tỉ lệ
bài Lượng
Lượng
Lượng

khóa của học sinh( 1 tiết/tuần).

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận:
Việc sử dụng: phương pháp sơ đồ tư duy, tích hợp, liên môn trong tiết
học lịch tự chon là rất cần thiết, giúp HS hiểu hơn về những vấn đề khó, những
vấn đề có kiến thức nhiều, có liên quan đến nhiều môn khác, học sinh được rèn
luyện các kĩ năng tự học, tự tìm hiểu, liên hệ, thuyết trình, và vận dụng kiến thức
của nhiều môn học vào trong bài học.
Trên thực tế giảng dạy, tôi thấy phương pháp này có hiệu quả rất cao trong
việc giúp HS đi từ biết đến hiểu lịch sử, quan trọng hơn là rèn luyện được kĩ
năng tự học,tự nghiên cứu.Vì vậy mặc dù SKKN còn nhiều hạn chế nhưng thông
qua kinh nghiệm thực tiễn này, tôi hy vọng sẽ có nhiều GV có tâm huyết với
nghề, yêu nghề và có nhiều phương pháp giảng dạy ưu việt hơn để HS thật sự
coi lịch sử là một môn học lí thú và hữu ích cho các em.
3.2. Kiến nghị:
- Về phía Bộ GD&ĐT.
Có thể tăng thêm số tiết học chính khóa để HS có thời gian để tìm hiểu và
GV có thêm thời gian thảo luận cùng HS.
- Về phía Sở GD&ĐT.

18


Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá theo hướng đổi mới, hướng đến
việc tăng khả năng phân tích, bình luận lịch sử của HS.
Tăng cường khuyến khích GV sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy, tích hợp
liên môn trong GV, có thể đưa vào phần tập huấn cho giáo viên .Cho in ấn
những SKKN đạt giải cao trong mỗi năm học và phổ biến rộng rãi trong các
trường học.

dục, Hà Nội.
6. Trần Đình Châu (2009), Sử dụng bản đồ tư duy- Một biện pháp hiệu quả hỗ
trợ học sinh học tập môn Toán, Tạp chí Giáo dục kì 2, tháng 9.
7. Thiết kế, sử dụng BĐTD góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
TS. Nguyễn Mạnh Hưởng-Tổ Phương pháp dạy học môn Lịch sử-khoa Lịch sửTrường ĐHSP Hà Nội.
8. Đặng Đức An (2003), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, NXB Giáo dục, Hà
Nội.
9. Vũ Dương Ninh (chủ biên) (2003), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
10. Ngô Minh Oanh (2006), Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp
dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh,
HCM.
Danh mục các đề tài SKKN đã được cấp Sở GD&ĐT công nhận
Tên đề tài
Xếp loại
Năm học
1.Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương
C
2008-2009
pháp dạy học lịch sử ở trường THPT.
2. Lồng ghép, giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ
C
2011-2012
Chí Minh trong dạy học lịch sử ở trường
THPT
3. Tích hợp môn Địa lí, CNTT, Ca dao, Tục
B
2015-2016
ngữ, Điển tích địa phương, Âm nhạc trong
dạy học lịch sử địa phương( Tiết 51-Lịch sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status