Một số biện pháp giáo dục của giáo viên chủ nhiệm nhằm hạn chế tình trạng nữ sinh bỏ học lấy chồng ở trường THPT bắc sơn - Pdf 44

Một số biện pháp giáo dục của giáo viên chủ nhiệm nhằm hạn chế tình trạng
nữ sinh bỏ học lấy chồng ở Trường THPT Bắc Sơn

A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Tôi sinh ra và lớn lên ở miền núi – vùng đặc biệt khó khăn. Từ khi còn
học cấp 2, đã nhiều lần tôi chứng kiến bạn của mình bỏ học lấy chồng khi
mới học lớp 8, lớp 9, thậm chí là lớp 7. Tôi còn nhớ hồi học lớp 7. Hôm đó,
lớp tôi đang học tiết Thể Dục, tự nhiên một bạn trong lớp nói: “Các bạn ơi!
Hôm nay bạn Nga cưới chồng”. Khi đó vì còn nhỏ, chưa hiểu chuyện nên tôi
không để ý. Thời gian trôi qua, tôi tốt nghiệp đại học và trở về công tác ngay
trên chính quê hương của mình thì tôi đã hiểu. Đã 14 năm đứng trên bục
giảng và 10 năm làm công tác chủ nhiệm, không năm nào tôi không phải
chứng kiến cảnh học sinh nữ trong trường bỏ học dở chừng để lấy chồng.
Không lớp này thì lớp khác. Khi đó tôi đã rất trăn trở, xót xa.
Hiện nay ở nhiều vùng trên cả nước, đặc biệt là vùng núi, vùng đặc biệt
khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như quê tôi đã,
đang sảy ra tình trạng tảo hôn. Ở các trường THPT, thậm chí là cả THCS, học
sinh bỏ học rất nhiều. Trong đó có không ít học sinh nữ bỏ học lấy chồng. Ví
dụ như ở huyện miền núi Tương Dương, Con Cuông.. của tỉnh Nghệ An;
huyện Tây Trà của tỉnh Qảng Ngãi, huyện Đông Giang của tỉnh Quảng
Nam…Và tỉnh Thanh Hóa nói chung, trường THPT Bắc Sơn – Ngọc Lặc nói
riêng cũng không ngoại lệ. Hàng năm hiện tượng học sinh bỏ học vẫn cứ diễn
ra, trong số đó có một số không ít nữ sinh bỏ học lấy chồng. Thực trạng đó đã
làm cho số lượng học sinh trong trường giảm xuống đáng kể, công tác quản lí,
dạy và học gặp nhiều khó khăn… Nhà trường cũng như giáo viên chủ nhiệm
các lớp đã có nhiều biện pháp nhằm tháo gỡ tình trạng trên như: động viên,
tuyên truyền, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần (trao học bổng, miễn giảm
các khoản đóng góp…) Nhưng học sinh bỏ học, đặc biệt là nữ sinh bỏ học lấy
chồng vẫn chưa được hạn chế.
Vì vậy những sáng kiến kinh nghiệm nhằm hạn chế tình trạng học sinh

học sinh, ổn định công tác dạy và học.
III. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài sẽ nghiên cứu, tổng kết số nữ sinh bỏ học lấy chồng ở các lớp
thuộc khóa học 2013 – 2016 (trong 3 năm), chủ yếu là lớp 12A6- lớp tôi chủ
nhiệm.
IV. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập những văn bản về luật hôn nhân gia đình, các bài viết về giới
tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên trong các bộ luật, trên các tạp chí,
phương tiện thông tin đại chúng, các tài liệu tham khảo trên Internet.
- Phương pháp quan sát:
Quan sát những biểu hiện của HS.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế:
+ Trò chuyện, trao đổi với các giáo viên bộ môn, học sinh, cha mẹ, bạn
bè và hàng xóm của học sinh.
+ Tham khảo những bản báo cáo, tổng kết hàng năm của nhà trường.
+ Tham khảo kinh nghiệm của các trường bạn.
+ Tham khảo những kinh nghiệm của các giáo viên chủ nhiệm lớp khác
trong trường.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
+ Thống kê số lượng học sinh bỏ học lấy chồng ở các lớp khóa 2013 –
2016, chủ yếu là lớp 12A6 – lớp chủ nhiệm.
+ Thống kê số vụ li hôn trẻ (hệ lụy của việc kết hôn khi chưa đủ tuổi)
- Phương pháp thử nghiệm:
Thử áp dụng các biện pháp giáo dục nhằm hạn chế tình trạng nữ sinh bỏ
học lấy chồng ở lớp 12A6 ( năm học 2015 - 2016).

GV: Dương Thị Phương

Đơn vị: Trường THPT Bắc Sơn

2005, Bộ luật tố tụng dân sự 2004: người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành
niên). Còn đoàn thanh niên lại khuyên: độ tuổi kết hôn phù hợp với nữ là từ
20 tuổi và nam là 22 tuổi trở lên. Đó là những quy định phù hợp và lời khuyên
đúng đắn dựa trên những cơ sở khoa học. Vì ở độ tuổi đó con người mới hoàn
thiện về mọi mặt: thể chất, hiểu biết và nhất là tâm sinh lí; các bạn nữ mới có
thể làm tốt vai trò của người mẹ, người vợ, người con dâu trong gia đình.
II. Cơ sở thực tiễn
1. Thực trạng
Luật quy định là như vậy nhưng nhiều năm qua ở khắp các địa phương
trên cả nước, tình trạng tảo hôn, tình trạng nữ sinh bỏ học lấy chồng vẫn cứ
diễn ra. Đặc biệt ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn.
Báo chí đã nhiều lần phản ánh tình trạng này ở miền núi cao phía Bắc, miền
Trung và Tây Nguyên. Sau đây là đoạn trích từ một bài trên báo Dân trí:
“ …ngay từ đầu năm học mới 2011 - 2012, số lượng học sinh ở các xã
thuộc huyện vùng cao Đông Giang, Tây Giang (Quảng Nam) bỏ học lên đến
hàng trăm học sinh. Khi giáo viên đi tìm hiểu mới hay, học sinh nữ bỏ học để

GV: Dương Thị Phương

Đơn vị: Trường THPT Bắc Sơn

3


Một số biện pháp giáo dục của giáo viên chủ nhiệm nhằm hạn chế tình trạng
nữ sinh bỏ học lấy chồng ở Trường THPT Bắc Sơn
theo chồng và sinh con khi mới 14, 15 tuổi. Chỉ tính riêng tại trường THPT
Âu Cơ (Đông Giang) có gần chục học sinh nghỉ học lấy chồng”.
Còn theo thông tin từ Sở GD&ĐT Quảng Ngãi, vấn nạn tảo hôn khá phổ
biến ở cả 6 huyện miền núi của tỉnh. Ước tính trong vòng 3 năm học có hơn

10A1

0

11A1

1

12A1

0

10A2

1

11A2

1

12A2

2

10A3

0

11A3


10A6

2

11A6

2

12A6

0

2. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Đối với các địa phương
như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum…phần lớn là do tập tục lạc hậu. Còn
riêng với trường THPT Bắc Sơn thì thuộc về một số nguyên nhân sau:
- Học sinh có học lực yếu, không theo kịp bạn bè
- Học sinh chán học, không có định hướng rõ ràng (không biết học để
làm gì?)

GV: Dương Thị Phương

Đơn vị: Trường THPT Bắc Sơn

4


Một số biện pháp giáo dục của giáo viên chủ nhiệm nhằm hạn chế tình trạng
nữ sinh bỏ học lấy chồng ở Trường THPT Bắc Sơn
- Sự buông lỏng quản lí, chiều con thái quá của một số bậc phụ huynh:

- Mặt trái của internet, phim ảnh, mạng xã hội facebook…Không phủ
nhận rằng internet, mạng xã hội facebook có nhiều lợi ích, giúp chúng ta tìm
kiếm thông tin, kết nối bạn bè. Nhưng nếu sử dụng không đúng cách nó sẽ
mạng lại những cái hại khôn lường. Học sinh là tuổi mới lớn, hay tò mò, thích
khám phá. Các em thường lên mạng không phải để học mà để tìm những tin
gây sốc, thậm chí là đọc truyện, xem phim người lớn; lên facebook kết bạn
với những người lạ…Báo chí đã nhiều lần đưa tin về việc kết bạn trên
facebook dẫn tới hậu quả đáng tiếc.
- Sự phát triển sớm về mặt thể chất (lớn trước tuổi) ở một số nữ sinh. Do
chế độ ăn uống, hoạt động,…mà nữ sinh ngày nay phát triển nhanh hơn trước

GV: Dương Thị Phương

Đơn vị: Trường THPT Bắc Sơn

5


Một số biện pháp giáo dục của giáo viên chủ nhiệm nhằm hạn chế tình trạng
nữ sinh bỏ học lấy chồng ở Trường THPT Bắc Sơn
kia. Nhiều em mới chỉ 14, 15 tuổi mà đã phổng phao như thiếu nữ, ăn mặc lại
như người lớn khiến cho nhiều chàng trai theo đuổi, tán tỉnh. Các em chỉ lớn
người nhưng nhận thức lại chưa đủ lớn bởi vậy rất dễ bị dụ dỗ, mua chuộc.
- Sự buông lỏng quản lí của chính quyền địa phương. Nhiều thôn, xã có
nữ sinh lấy chồng khi chưa đủ tuôi, cán bộ biết nhưng họ làm lơ, không xử lí
vì nhiều lí do.
Trên đây là những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng nữ sinh bỏ học
lấy chồng ở Trường THPT Bắc Sơn. Phần lớn các em khi cưới đều ở trong
hoàn cảnh “tiến thoái lưỡng nan”, phụ huynh thì bị đặt vào tình thế “chuyện
đã rồi”.

GV: Dương Thị Phương

Đơn vị: Trường THPT Bắc Sơn

6


Một số biện pháp giáo dục của giáo viên chủ nhiệm nhằm hạn chế tình trạng
nữ sinh bỏ học lấy chồng ở Trường THPT Bắc Sơn
Khi được hỏi về lí do li hôn, các em trả lời rất hồn nhiên: “Không thích
nữa thì bỏ thôi ạ!”. Có em tâm sự: “Cháu lấy chồng không phải vì yêu mà chỉ
vì bồng bột, ngộ nhận, cảm tính. Giờ đây nhìn thấy bạn bè được đi học, được
đi đây đi đó còn mình thì suốt ngày phải hầu hạ lại còn bị đánh đập. Cháu
muốn làm lại cuộc đời…”
III. Biện pháp
Để khắc phục tình trạng trên không phải một sớm một chiều. Báo chí
đã đưa tin, các nhà trường đã tìm nhiều cách nhưng cũng đành bất lực vì vượt
quá quyền hạn của mình (chỉ khuyên bảo, giảng giải cho các em cái được, cái
mất chứ không thể can thiệp sâu). Tình trạng nữ sinh bỏ học lấy chồng vẫn
cứ diễn ra. Nhận thức được điều đó, bản thân tôi là giáo viên chủ nhiệm đã
thực hiện một số biện pháp sau đây:
1. Tuyên truyền, giáo dục
- Lớp tôi chủ nhiệm có gần 80% là nữ, nhiều em không nỗ lực học tập,
thích chơi, yêu sớm; nhiều em bố mẹ đi làm ăn xa, các em phải tự lập. Vì vậy
mà nguy cơ yêu sớm, có thai ngoài ý muốn và bỏ học lấy chồng là rất cao.
Bởi vậy mà công tác tuyên truyền, giáo dục luật hôn nhân gia đình, giáo dục
giới tính, sức khỏe sinh sản vị thanh niên cho học sinh, đặc biệt là học sinh nữ
là vô cùng cần thiết.
- Công tác tuyên truyền giáo dục được tiến hành trong các tiết sinh hoạt
15 phút và sinh hoạt cuối tuần.

+ Không đến những nơi vắng người, chỗ tối cùng bạn khác giới
+ Phải đặt việc học lên trên hết, không để chuyện tình cảm nam nữ làm
ảnh hưởng đến việc học tập
+ Chỉ giữ mối quan hệ bạn bè đúng mực, không yêu sớm
+ Phải có những kiến thức về các biện pháp tránh thai và quan hệ tình
dục an toàn
+ Nếu có chuyện sảy ra phải nói cho người lớn biết, không tự ý đi phá
thai chui vì như vậy sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng
- Ban đầu học sinh cò rụt rè, e ngại không dám nói nhưng sau đó các
em đã mạnh dạn bộc lộ quan điểm của mình, những tiết sinh hoạt như vậy
thường rất sôi nổi và bước đầu có những hiệu quả nhất định. Cụ thể là các em
có được những kiến thức cơ bản về hôn nhân, sức khỏe sinh sản vị thành niên;
biết được cách phòng tránh bị xâm hại, tác hại của quan hệ tình dục, mang
thai khi chưa đến tuổi trưởng thành, biết cách phòng tránh mang thai ngoài ý
muốn…
2. Khảo sát và phân loại
- Học sinh sẽ được phân loại theo từng nhóm (nhóm có nguy cơ cao và
nhóm có nguy cơ thấp)
- Sự phân loại này dựa trên sự quan sát, theo dõi của bản thân tôi và
phản ánh của giáo viên bộ môn, ban cán sự và các thành viên trong lớp.
- Nhóm có nguy cơ cao sẽ được theo dõi sát sao hơn về: số ngày nghỉ,
số buổi đi học chậm, số buổi bỏ tiết, điểm các bài kiểm tra... Khi phát hiện các
em nghỉ học, nói dối bố mẹ đi học để đi chơi, tôi phải điều tra, tìm hiểu ngay
qua các kênh thông tin mà mình có được để có biện pháp kịp thời.
3. Nắm hoàn cảnh và đặc điểm gia đình từng học sinh:
- Tôi thường tranh thủ thăm gia đình học sinh vào những ngày cuối
tuần để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng học sinh bởi nền tảng gia đình là
vô cùng quan trọng, đặc biệt là những học sinh có dấu hiệu xao nhãng việc
học, yêu đương, đua đòi.
- Như đã nói, nhiều bậc phụ huynh thường không để ý đến hành động,

các em đã hiểu được làm như vậy không có nghĩa là nói xấu bạn mà là đang
giúp bạn nên các em đã hỗ trợ rất nhiều cho tôi trong công việc.
5. Gặp gỡ, tâm sự
- Tôi thường gặp gỡ và tâm sự riêng với những học sinh có biểu hiện
yêu sớm, sa đà trong quan hệ nam nữ, có ý định bỏ học lấy chồng.
- Tôi tuyệt đối không mắng chửi, xỉ nhục, miệt thị học sinh mà tìm cách
khuyên bảo để các em nhận ra cái đúng - cái sai, cái nên - không nên…
- Hơn ai hết tôi hiểu rằng nếu nói trước lớp các em sẽ cảm thấy xấu hổ
với bạn bè nên tôi thường chủ động gặp riêng các em vào giờ ra chơi, cuối
buổi học.
- Ban đầu học sinh luôn lảng tránh, phủ nhận hoặc im lặng không nói.
Có học sinh còn tỏ thái độ phản kháng, bất cần, cho rằng việc làm của mình là
đúng, yêu đương là chuyện riêng tư cô không có quyền can thiệp nhưng sau
đó các em cũng đã nhận ra và chủ động gặp tôi hoặc nhắn tin vào điện thoại
để tâm sự, xin lỗi và xin lời khuyên. Tôi đã không giận mà luôn cởi mở, tâm
sự, khuyên nhủ các em như một người mẹ, người chị.
IV. Kết quả
Việc áp dụng những biện pháp trên đã mang lại những kết quả sau:
- Đối với lớp: năm học 2015 - 2016, lớp tôi chủ nhiệm đã không còn
học sinh nữ bỏ học lấy chồng, sĩ số lớp được duy trì, ổn định về nề nếp và
học tập (xếp loại cuối tuần liên tiếp đứng ở vị trí cao), cuối năm 100% học
sinh đủ điều kiện dự thi THPT quốc gia. Đáng mừng là trong lớp có hai em có
tình cảm đặc biệt với nhau nhưng cùng nhau cố gắng học tập chăm chỉ (cả hai
em đều đạt học sinh tiên tiến) và hứa với cô sẽ tiếp tục đi học đại học hoặc
cao đẳng.

GV: Dương Thị Phương

Đơn vị: Trường THPT Bắc Sơn


Để hạn chế được tình trạng nữ sinh bỏ học lấy chồng khi chưa đủ tuổi
không phải là việc làm dễ dàng. Đó là khó khăn chung ở các địa phương và
các nhà trường cũng như giáo viên chủ nhiệm. Để khắc phục tình trạng này,
vai trò của giáo viên chủ nhiệm rất quan trọng. Vì thầy cô chủ nhiệm được ví
như người cha, người mẹ thứ hai của các em. Đặc biệt là các cô, nếu tạo được
lòng tin và sự yêu quý của các em có thể các em sẽ tâm sự với cô những điều
không dám nói với mẹ. Để làm được điều đó, đòi hỏi người giáo viên chủ
nhiệm phải bỏ nhiều công sức, thời gian và phải thực sự tâm huyết – yêu
thương học sinh như con em của mình. Đồng thời phải biết phối hợp chặt chẽ
giữa ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội.
Theo tôi, để làm tốt công tác giáo dục nói chung và giáo dục nhằm hạn
chế tình trạng nữ sinh bỏ học lấy chồng nói riêng, mỗi giáo viên chủ nhiệm
cần phải có đầy đủ các yếu tố sau:
- Có kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm
- Có những hiểu biết nhất định về luật hôn nhân và gia đình, giới tính,
sức khỏe sinh sản vị thành niên....
- Có kỉ cương, tình thương và trách nhiệm
- Luôn bám trường, bám lớp, gần gũi, quan tâm, trò chuyện để nắm
bắt tâm lí của từng học sinh
- Linh hoạt, sáng tạo trong xử lí các tình huống sảy ra
- Tuyệt đối không nên nóng vội, áp đặt, mà cần có lòng kiên nhẫn, có
nghệ thuật giao tiếp với học sinh, luôn đặt mục tiêu “dạy người” lên trên hết.
Thành quả thu được của nghề giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm
không thể nhìn thấy được sau mỗi ngày mà phải cả một quá trình, một thời
gian dài: một năm, hai năm và lâu hơn thế nữa..
Có được kết quả này là nhờ sự chỉ đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban
giám hiệu nhà trường, mối quan tâm đồng lòng hiệp sức của các giáo viên bộ
môn, Đoàn thanh niên và cả sự nỗ lực tiến bộ của HS, sự quan tâm, phối hợp
của cha mẹ học sinh.
Trong thời gian làm chủ nhiệm các lớp ở các khóa , tôi có những nỗi lo

và thấy có hiệu quả. Tôi mạnh dạn viết thành sáng kiến kinh nghiệm và đưa ra
để đồng nghiệp cùng tham khảo. Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn
không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng
góp của Ban giám hiệu nhà trường, các bạn đồng nghiệp, để tôi tiếp tục bổ
sung, sửa chữa và tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm hay cho bản thân, để
làm tốt hơn nữa công tác chủ nhiệm trong những năm tiếp theo.
Tôi chân thành cảm ơn!

Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Thanh Hóa, ngày 25 tháng 05 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết SKKN.

Dương Thị Phương

GV: Dương Thị Phương

Đơn vị: Trường THPT Bắc Sơn 12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status