Giáo dục kỹ năng chủ động lựa chọn nghề nghiệp, việc làm cho học sinh THPT nguyễn hoàng khi dạy tiết 2 bài 11 GDCD lớp 11 - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT NGUYỄN HOÀNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“ GIÁO DỤC KĨ NĂNG CHỦ ĐỘNG LỰA CHỌN NGHỀ
NGHIỆP, VIỆC LÀM CHO HỌC SINH THPT NGUYỄN
HOÀNG KHI DẠY TIẾT 2- BÀI 11- GDCD LỚP 11”

Người thực hiện : Bùi Thị Mai
Chức vụ
: Giáo viên
SKKN môn
: Giáo Dục Công Dân

THANH HÓA NĂM 2016


MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
3. Các sáng kiến kinh nghiệm và giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
3.1. Những sáng kiến kinh nghiệm đã có liên quan đến giáo dục kĩ năng
sống.

Môn giáo dục công dân( GDCD) là một môn học tích hợp để hình thành
thế giới quan và nhân sinh quan cho học sinh, không chỉ vậy nội dung môn học
GDCD lại rất gần với thực tiễn xã hội vì đó là những chủ trương, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước cho nên rất thuận lợi cho việc giáo dục các kĩ
năng sống cho học sinh như: Bảo vệ môi trường, phòng chống ma tuý,
HIV/AIDS, phòng chống tai nạn thương tích… và đặc biệt là kĩ năng chủ động
lựa chọn nghề nghiệp và việc làm cho học sinh THPT sau khi tốt nghiệp ra
trường để các em có thể lựa chọn cho mình một ngành nghề và việc làm phù
hợp với: “ Khả năng, sở thích và điều kiện” của mình trong tương lai.
Trong khi đó vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh hiện nay đã
được rất nhiều trường quan tâm, tuy nhiên việc thực hiện chưa đạt kết quả cao vì
chủ yếu vẫn dừng lại ở cách thức hướng nghiệp tập trung, chưa đi sâu vào những
biện pháp, lĩnh vực cụ thể. Vì thế học sinh khi tiếp cận còn rất lúng túng, cho
nên khi lên đến lớp 12 các em không tham gia xét tuyển đại học chẳng biết phải
làm gì khi ra trường, còn những em xét tuyển đại học thì chọn trường, chọn
ngành rất khó khăn và lúng túng.
3


Trước tình hình trên, bản thân tôi là một giáo viên rất gần gũi và quan tâm
đến học sinh, lại đang đảm nhiệm dạy một môn học rất đặc thù đó là môn
GDCD để hình thành quan điểm sống cho các em. Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề
tài sáng kiến kinh nghiệm cho năm học này là: “Giáo dục kĩ năng chủ động lựa
chọn nghề nghiệp, việc làm cho học sinh THPT Nguyễn Hoàng khi dạy tiết 2,
bài 11- GDCD lóp 11”. Đây cũng chính là tâm nguyện của tôi để có một thế hệ
học sinh có kĩ năng lựa chọn nghề nghiệp và việc làm một cách chủ động trong
tương lai.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm đưa ra những giải pháp để giúp
cho học sinh THPT nói chung và trường Nguyễn Hoàng nói riêng có định hướng

chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…”
Từ những lời dạy của Bác Hồ và quan điểm về giáo dục của Đảng và
Nhà nước ta như vậy có thể cho thấy việc trang bị cho học sinh những cơ sở lí
luận cần thiết hay nói cách khác đó là những kiến thức cơ bản về kĩ năng sống
để làm hành trang cho các em bước vào xã hội sau khi rời ghế nhà trường THPT
và làm một công dân thực sự là điều vô cùng cần thiết và cấp bách hiện nay.
Trong các kĩ năng sống cần trang bị cho học sinh thì “kĩ năng chủ động lựa
chọn nghề nghiệp và việc làm” là một trong những kĩ năng không thể thiếu được
cho học sinh với tư cách là những công dân bắt đầu bước vào giai đoạn trưởng
thành được đánh dấu bằng việc chủ động lựa chọn nghề nghiệp cho mình.
Thuật ngữ “kĩ năng sống” (KNS) bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ
những năm 1995- 1996 và những năm vừa qua giáo dục phổ thông nước ta luôn
đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp day học gắn với bốn trụ cột
giáo dục của thế kỉ XXI là: “Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học
để cùng chung sống” mà thực chất đây là một cách tiếp cận KNS. Vậy KNS là
gì?
“Kĩ năng sống” là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực giúp
các cá nhân có thể ứng sử có hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc
sống hàng ngày. Còn “kĩ năng chủ động lựa chọn nghề nghiệp, việc làm” có
nghĩa là: Khả năng tích cực, chủ động lựa chọn ngành nghề phù hợp với khả
năng, sở thích và điều kiện của mình để học và làm việc có hiệu quả sau khi tốt
nghiệp THPT. Như vậy điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng chung của xã
hội và phong trào thi đua do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo phát động đó là: “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
5


Từ những cơ sở lí luận trên tôi thấy đề tài của tôi có tính khách quan,
khoa học, tính thực tiễn và hiệu quả cao.
2. Thực trạng của vấn trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

6


Hiện nay đã có trên 155 quốc gia trên thế giới đưa KNS vào nhà
trường. Ở nước ta giáo dục KNS cho học sinh được tích hợp vào tất cả các môn
học, chủ yếu là các môn xã hội đặc biệt là môn giáo dục công dân. Vì thế đã có
nhiều đề tài sáng kiến kinh nghiệm của môn giáo dục công dân được tích hợp để
giáo dục KNS cho học sinh như:
- “Tích hợp giáo dục KNS cho học sinh” trong bài 13- GDCD lớp 10
- Giáo dục một số KNS cho học sinh trong công tác chủ nhiệm và
môn GDCD.
- Tích hợp giáo dục KNS cho học sinh thông qua nội dung môn học
GDCD 10.
- ………..
Tuy nhiên theo sự tìm hiểu của tôi về nội dung các sáng kiến kinh nghiệm
về KNS đã có, tôi thấy rằng tất cả những đề tài trên chỉ dừng lại ở việc giáo dục
KNS mang tính chất chung chung, phạm vi còn rộng mà chưa đi vào từng lĩnh
vực, vấn đề cụ thể như: Bảo vệ môi trường, phòng tránh tệ nạn xã hội hay chủ
động lưa chọn nghề nghiệp, việc làm…Chính vì thế tôi thấy cần thiết phải có
một đề tài đi sâu giáo dục kĩ năng “ chủ động lựa chọn nghề nghiệp, việc làm”
cho học sinh THPT nhất là với học sinh trường tôi, để chuẩn bị cho các em
những hành trang vững chắc nhất cho mình sau khi tốt nghiệp THPT có một
nghề nghiệp và công việc ổn định.
3.2.Giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề của đề tài:
Tôi nhận thấy rằng môn GDCD có rất nhiều bài có thể tích hợp để giáo
dục kĩ năng “ chủ động lựa chọn nghề nghiệp và việc làm” như: Bài 7- GDCD
lớp 10, bài 7, bài 11- GDCD lớp 11 hay bài 4, bài 8- GDCD lớp 12. Tuy nhiên
dựa vào nội dung của từng bài, tôi thấy tiết 2, bài 11: “ Chính sách dân số và
giải quyết việc làm” là phù hợp nhất. Bởi lẽ đây là bài nói về chủ trương, chính
sách của nhà nước ta về nghề nghiệp và việc làm, từ đó làm cơ sở vững chắc

Bài 11:
Tích hợp vào - Phương hướng 1: Tăng
Chính sách phần 2 nội cường sản xuất và dịch
giải quyết dung bài học vụ.
việc làm.
là:
Những - Phương hướng 2:
phương hướng Khuyến khích hành nghề
cơ bản của theo pháp luật, phát triển
chính sách giải các nghề truyền thống.
quyết việc làm. -Phương hướng 3: Đẩy
mạnh xuất khẩu lao động.
- Phương hướng 4: Sử
dụng có hiệu quả nguồn
vốn của nhà nước để giải
quyết việc làm.

Ghi chú

- Sử dung các
hình ảnh minh
hoạ cho các
phương
hướng.

Giáo án tích hợp “ giáo dục kĩ năng chủ động lựa chọn nghề
nghiệp, việc làm” cho học sinh
Học xong bài này học sinh cần đạt được:
* Kiến thức:


giải quyết việc làm hiện nay
ở nước ta là gì”?
(Theo báo lao động điện tử:
Năm 2015 Việt Nam có trên
48 triệu người trong độ tuổi

Nội dung chính
I. Chính sách dân số.
II. Chính sách giải quyết việc làm
a. Mục tiêu của chính sách giải quyết việc làm.
Có bốn mục tiêu như sau:
-Tập trung sức giải quyết việc làm cho cả nông
thôn và thành thị.
-Phát triển nguồn nhân lực.
-Mở rộng thị trường lao động.
-Giảm tỉ lệ thất nghiệp, tăng tỉ lệ người lao động
đã qua đào tạo.

9


lao động, trong đó số người
thất nghiệp là 2,31%, nông
thôn chiếm 1,83%, thành thị
3,29%, lao động đã qua đào
tạo còn thấp 21,9%, năng
suất lao động còn thấp chỉ
đạt 79,3 triệu đồng/ lao động
theo tổ chức lao động thế
(PLO) đánh giá Việt Nam là

chính để cho các nhà đầu tư
Ngày 1/1/2016 Nhà nước ta đã giảm thuế thu
10


trong và ngoài nước mở nhập doanh nghiệp xuống chỉ còn 20% để thúc
rộng sản xuất kinh doanh có đẩy các hoạt động sản xuất và dịch vụ của các
hiệu quả tạo ra nhiều việc doanh nghiệp phát triển và mở rộng.
làm cho người lao động.
+Gv chốt lại: Như hiện nay
UBND tỉnh Thanh Hoá đã
và đang tạo điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp
trong và ngoài nước( tập
đoàn FLC) đầu tư vào khu
kinh tế Nghi Sơn- Tĩnh Gia
và khu du lịch Sầm Sơn để
đã giải quyết việc làm cho
hàng nghìn lao động trong
tỉnh có việc làm và thu nhập
cao.
KL: Giáo dục kĩ năng lựa
chọn việc làm, nghề nghiệp.
Qua những hình ảnh trên
cho thấy:
Sau khi thốt nghiệp THPT
các em có thể học các nghề
như: Điện công nghiệp, sửa
chũa cơ khí, hướng dẫn viên
du lịch, đầu bếp, lễ tân… để

số nghề truyền thống ở Hà
Trung hiện nay ?
- Gv: Làm giàu theo pháp
luật có nghĩa là: Các em có
thể tự do lựa chọn việc làm
phù hợp với khả năng của
mình, có thể làm bất kì
ngành nghề nào để mang lại
thu nhập cho bản thân, gia
đình và xã hội mà pháp luật
Nghề trạm khác đá truyền thống của xứ Thanh
không cấm.
nói chung và xã Hà Lĩnh- Hà Trung nói riêng.
-Giáo dục kĩ năng lựa chọn
việc làm, nghề nghiệp: Các
em có thể hành nghề truyền
thống ở địa phương hoặc sửa
chữa xe máy, điện thoại,…
nếu có điều kiện có thể tự
mở cơ sở tại nhà vừa sử
dụng vốn ít mà lại có thu
nhập ổn định.
Như vậy: Các em có thể làm
bất kì nghề gì nhưng phải
chân chính và đặc biệt là
làm gì cũng cần phải có tâm
huyết và cống hiến hết mình
với nghề đó thì mới có sự
sáng tạo, hiệu quả và thành Có thể làm nghề sửa chữa xe máy, điện thoại, tại
13

công nghệ thông tin để có
việc làm ổn định và thu nhập
cao.
+Phải lựa chọn con đường,
công ty xuất khẩu hợp pháp,
để đảm bảo quyền lợi cho
mình như: lương, bảo hiểm
14


y tế,bảo hiểm xã hội, các chế
độ khác…( các em có thể
tham khảo công ty xuất khẩu
lao động Thiên Ân-Tamax
Thanh Hoá khi muốn xuất
khẩu lao động sang Trung
Đông).

Hình ảnh đi xuất khẩu lao động ở Thanh Hoá .
GV: Theo em nguồn vốn của
Nhà nước được đầu tư để
giải quyết việc làm bằng
những hình thức nào?Cho ví
dụ?
( Đó là đầu tư vào việc học
nghề (các em có thể học
nghề ở trường cao đẳng
nghề Thanh Hoá), trả chi phí
cho người lao động xuất
khẩu lao động, cho vay vốn

trong chương trình của đoàn
thanh niên như: Phong trào
thanh niên vượt khó làm
giàu, xây dựng nông thôn
mới…)
-Gv: Ngoài ra các em có thể
sử dụng nguồn vốn của nhà
nước để đầu tư sản xuất,
kinh doanh. Và đã có nhiều
tấm gương thanh niên sản
xuất giỏi nhờ vào nguồn vốn
cho vay để giải quyết việc
làm trong tỉnh ta như:

Trường cao đẳng nghề Thanh Hoá là môi trường
đào tạo nghề có chất lượng cao ở tỉnh ta, là địa
chỉ đáng tin cậy để các em học rất nhiều
nghề( cơ khí, điện, sửa chữa các loại, nấu ăn…)

Thanh niên được vay vốn ngân hàng và các quỹ
tín dụng với lãi xuất thấp để lập nghiệp.

16


Trang trại chăn nuôi tổng hợp của anh: Lê văn
Đức( Vĩnh Phúc- Vĩnh Lộc), anh đã được nhận
giải thưởng Lương Đình Của do Ban chấp hành
TW Đoàn trao tặng vì đã vượt khó để làm giàu.


Anh Lê văn Linh(Đông Hoà- Đông Sơn) với mô
hình trồng mộc nhĩ mỗi năm thu lãi từ 60-70
triệu đồng, giải quyết việc làm cho 12 lao động ở
địa phương.
3.Trách nhiệm của công dân đối với chính sách
dân số và giải quyết việc làm.
- Chấp hành tốt chính sách dân số và pháp luật về
dân số.
-Chấp hành tốt chính sách việc làm và pháp luật
về lao động.
-Động viên người thân và bạn bè cùng thực hiện.
-Có ý chí vươn lên, nắm bắt khoa học, kĩ thuật
tiên tiến, có định hướng nghề nghiệp đúng đắn để
chủ động tìm kiếm việc làm.

18


4.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, bản
thân,đồng nghiệp và nhà trường.
4.1. Đối với hoạt động giáo dục.
Vì đối tượng học sinh của trường THPT Nguyễn Hoàng chủ yếu là học sinh
vùng nông thôn, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, hơn nữa chất lượng đầu vào
của trường còn thấp nên các em đa phần là học để lấy bằng tốt nghiệp THPT rồi
đi học nghề hoặc đi làm để phụ giúp gia đình mà tham gia thi đại học rất ít.
Nhận thấy được tình hình đó, tôi đã chủ động tích hơp, lồng ghép trong bài
giảng của mình để giáo dục cho các em định hướng nghề nghiệp, việc làm cho
mình sao cho phù hợp với khả năng của các em, tôi mong muốn rằng qua bài
dạy của tôi các em đều nhần thức được là: Trong thời đại ngày nay đại học
không phải là con đường duy nhất để đi đến tương lai mà quan trọng là mình

42
11
31
19


Như vậy:
Từ kết quả trên cho thấy bước chuyển biến rất rõ rệt trong tư tưởng lập
nghiệp của các em: Đó là tỉ lệ các em chỉ thi tốt nghiệp rồi học nghề chiếm đa số
ở những lớp dạy tích hợp “ kĩ năng chủ động lựa chọn nghề nghiệp, việc làm”
(lớp11 B1 là 70%, lớp11B3 là 73%,), trong khi đó ở những lớp không dạy tích
hợp “kĩ năng chủ động lựa chọn việc làm, nghề nghiệp thì con số này lại thấp
hơn rất nhiều (lớp11B2 là 35%, lớp 11B4 là 29%), điều này hoàn toàn phù hợp
với xu hướng chung của đất nước ta hiện nay là đang cần nguồn lao động có
trình độ tay nghề cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và cũng thực hiện đúng như mục tiêu của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đặt ra: “Học
để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để chung sống”. Như vậy
con đường hướng nghiệp của các em hiện nay rất sát với thực tế cuộc sống và
phù hợp với khả năng của mình.
4.2. Đối với bản thân:
Qua đề tài này tôi cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và
giáo dục học sinh. Tôi thấy rằng đa số các em hiện nay còn rất lúng túng, hoang
mang khi chọn nghề, chọn trường, lớp để học và chọn công việc để làm, ngay cả
các em học sinh lớp 12 chuẩn bị ra trường cũng vậy, cho nên trách nhiệm của
mỗi thầy cô giáo đứng trên bục giảng không chỉ có vai trò là truyền đạt tri thức,
giáo dục đạo đức cho học sinh mà còn dạy cho các em những kĩ năng trong cuộc
sống như “ kĩ năng lựa chọn nghề nghiệp, việc làm” để hướng các em con
đường đi đúng đắn. Không những vậy qua việc tiếp xúc, lắng nghe tâm tư,
nguyện vọng của các em mà làm cho mối quan hệ “thầy- trò” trở nên thân thiện
hơn, từ đó giúp cho việc giảng dạy cũng như giáo dục các em hiệu quả hơn.

như giải pháp đưa ra để thực hiện hoàn toàn đáp ứng được mục tiêu của giáo dục
KNS mà Bộ Giáo Dục đã đặt ra, những nội dung trong bài học không chỉ đơn
thuần là trang bị kiến thức cho học sinh về lựa chọn nghề nghiệp mà còn giúp
21


các em hình thành cho mình một thói quen tích cực mà bấy lâu nay chưa có hoặc
chưa nghĩ tới đó là: Tự các em chủ động lựa chọn cho mình một nghề nghiệp
phù hợp với khả năng, sở thích của mình thì sau này mới gắn bó với công việc
đó, nghề nghiệp đó lâu dài, mới có sự yêu nghề và trách nhiệm với nghề dù là
công việc hay nghề nghiệp gì đi nữa, từ đó mới có sự sáng tạo và hiệu quả trong
công tác như ông bà đã từng dạy rằng: “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”.
Bên cạnh đó tôi thấy sự tích hợp để “giáo dục kĩ năng chủ động lựa
chọn nghề nghiệp, việc làm” cho học sinh còn góp phần làm cho bài giảng trở
nên sinh động, hấp dẫn, lại sát với thực tế nên đã tăng tính chủ động, tích cực,
sáng tạo của học sinh khi học bài.
Không những vậy học sinh qua bài học còn thấy được mảnh đất xứ Thanh
của chúng ta còn rất nhiều tiềm năng về việc làm đã và đang mở cửa để thu hút
những nhân tài, những lao động có tay nghề chuyên môn giỏi đến làm việc. Và
đây chính là những cơ hội tốt đang chào đón các em về với quê hương để xây
dựng tỉnh ta ngày càng giàu mạnh, trở thành tỉnh khá của cả nước vào năm
2020.
2. Kiến nghị.
Sau một thời gian thực hiện, nghiên cứu đề tài tôi có một số kiến nghị sau:
- Với nhà trường: Phải thường xuyên tổ chức các buổi hướng nghiệp cũng như
cung cấp thông tin, tài liệu về các loại nghề để học sinh hiểu về đặc điểm của
các nghề, từ đó có định hướng chọn nghề phù hợp với mình.
- Với giáo viên : Phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt là
cập nhật kịp thời những thông tin về tuyển sinh, yêu cầu việc làm của xã hội và
xu hướng nghề nghiệp trong hiện tại cũng như tương lai để truyền đạt cho các

Bùi Thị Mai

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) SGK -GDCD lớp 11- Nhà xuất bản giáo dục 2011
2) Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn GDCD 11- Nhà xuất bản Đại
học sư phạm
3) SGV- GDCD 11- Nhà xuất bản giáo dục
4) Giáo dục kỹ năng sống trong môn GDCD ở trường THPT - NXB giáo dục
5) Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn GDCD THPT - Nhà
xuất bản giáo dục.
6) Phân phối chương trình môn GDCD - THPT (Lưu hành nội bộ) - Sở giáo
dục và đào tạo Thanh Hóa.
7) Tập bài giảng tư tưởng Hồ Chí Minh - NXB chính trị- quốc gia
23


9) Tập bài giảng học chính trị của trung tâm chính trị huyện.
10) Các báo điện tử: 24h.com, lao động, Đoàn thanh niên Thanh Hoá, kinh tế
Thanh Hoá…

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status