1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta xem việc chọn nhân tài, bồi dưỡng nhân tài là một phần quan
trọng trong quốc sách phát triển con người, điều đó được thể hiện qua việc chỉ
đạo dạy và học trong các nhà trường. Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ:
“Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là nguồn nhân tài cho đất nước được các nhà
trường THPT đặc biệt quan tâm và mọi giáo viên phổ thông đều có nhiệm vụ
phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi”. Việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi và
thi học sinh giỏi nhằm: “Động viên khích lệ những học sinh và giáo viên trong
dạy và học, góp phần thúc đẩy việc cải tiến, nâng cao chất luợng giáo dục, đồng
thời phát hiện học sinh có năng khiếu để tiếp tục bồi dưỡng ở cấp học cao hơn,
nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước” (Điều 1 – Quy chế thi chọn học sinh giỏi
ban hành theo quyết định 3479/1997/QĐ- BGD&ĐT ngày 01/11/1997). Như
vây, đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi là vấn đề cần thiết và cấp bách, bởi vì hơn
lúc nào hết đất nước đang cần những con người tài năng đón đầu tiếp thu những
thành tựu khoa học mới, công nghệ hiện đại để phát minh ra những sáng kiến
đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới hội nhập đất nước hiện nay. Mặt khác,
kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi là một tiêu chí không thể thiếu để đánh giá năng
lực chuyên môn của giáo viên và sự phát triển của các nhà trường, mỗi học sinh
giỏi không chỉ là niềm tự hào của cha mẹ, các thầy cô giáo mà còn là niệm tự
hào của cả cộng đồng. Tuy nhiên thực tế nhiều năm trước đây, việc bồi dưỡng
học sinh giỏi nói chung và bộ môn GDCD nói riêng ở trường THPT Đông Sơn I
chưa đạt được kết quả như mong muốn. Với những lý do như trên, tôi chọn đề
tài: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD
ở trường THPT”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài với mong muốn góp một tiếng nói giúp
học sinh, phụ huynh thấy được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi nói chung và học sinh giỏi môn GDCD nói riêng. Đồng thời chia sẻ kinh
nghiệm với các đồng nghiệp đồng môn nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, bồi
dưỡng học sinh giỏi môn GDCD ở trường THPT hiện nay.
ít phụ huynh và học sinh thì môn GDCD vẫn bị coi là “môn phụ”, không thi Tốt
nghiệp, không thi Đại học nên hầu như học sinh không có sự đầu tư cho môn
học này.
Thực tế đã có em định tham gia đội tuyển nhưng bố mẹ không đồng ý, vì
mục đích cuối cùng của nhiều phụ huynh là cho con thi đậu vào các trường đại
học, cao đẳng nên chỉ cho con mình ôn thi 3 môn theo khối, mà không nhiệt tình
và thậm chí không muốn con mình dự thi đội tuyển học sinh giỏi - nhất là đội
tuyển môn GDCD vì họ cho rằng: Học và thi để làm gì, chỉ mất thời gian vô ích!
Một số học sinh đã tâm sự với tôi: “Cô ơi, bố mẹ em chỉ cho thi các môn theo
khối thôi kể cả thi không đạt giải, còn thi môn GDCD thì bố mẹ em không đồng
ý cô ạ”.
Thực tế trên đã không những làm giảm lòng nhiệt tình, tâm huyết và sự
đam mê của giáo viên dạy GDCD nói chung và giáo viên bồi dưỡng đội tuyển
nói riêng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, sự tự tin của một số rất ít học
2
sinh sẽ tham gia đội tuyển, các em ngại vì phải thi GDCD! Chính vì lẽ đó, các
năm trước đây có nhiều trường trong tỉnh, kể cả trường chuyên Lam Sơn đã
không thể thành lập được đội tuyển môn GDCD.
Cách đây nhiều năm, cũng giống như đa số các trường THPT trong toàn
tỉnh, mặc dù Ban giám hiệu trường THPT Đông Sơn I rất quan tâm đến công tác
bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, nhưng kết quả của môn GDCD hàng năm
không cao, có năm không có giải. Thông thường bước vào năm học lớp 12, cuối
học kỳ I mới chính thức thành lập đội tuyển môn GDCD. Vì thế giáo viên phụ
trách trực tiếp lên kế hoạch phụ đạo cho các em một số buổi để đi thi.. Từ thực
tế trên, Ban giám hiệu đã thay đổi cách chỉ đạo, không để cho việc bồi dưỡng tự
phát trong giáo viên, học sinh mà giao khoán hẳn cho giáo viên có kế họach
chọn đội tuyển ngay từ đầu năm học lớp 12. Với cách làm này chất luợng và số
lượng đã có thay đổi nhưng kết quả đạt được còn rất hạn chế, tỷ lệ học sinh đạt
Khuyến khích
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
1
2
2
2
2
Xếp loại
cấp tỉnh
57
50
52
47
52
Bản thân tôi bắt đầu được Ban giám hiệu phân công phụ trách đội tuyển từ
học và thi như thế nào. Để làm được điều này, theo tôi giáo viên vừa đóng vai
trò là người thầy đồng thời cũng là người bạn lớn của các em, để phân tích và
chỉ ra cho các em thấy được những lợi thế khi tham gia đội tuyển học sinh giỏi.
Đó chính là phương pháp học như thế nào để nhớ nhanh, nhớ kỹ và nhớ chính
xác nhất. Điều này đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với kiến thức các môn xã
hội. Ngoài ra, còn giúp các em kỹ năng xác định đề, phân tích đề, khả năng lập
luận tư duy, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong các môn khoa học tự
nhiên. Và điều quan trọng hơn đó là các em được trải nghiệm phương pháp học
tập cũng như tâm lý khi bước vào kỳ thi, từ đó có sự điều chỉnh bổ sung phù hợp
kịp thời… Có thể nói, đó chính là những bước đi ngắn giúp các em tiến đến kỳ
thi tốt nghiệp THPT và thi đại học vững chắc hơn.
Ngoài phương pháp truyền thống là cho học sinh tự đăng ký, qua từng tiết
học, từng bài kiểm tra đánh giá, giáo viên cần phát hiện những học sinh có khả
năng trình bày bài, khả năng vận dụng và giải quyết vấn đề, giải quyết tình
huống và thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn giới thiệu để lựa
chọn, động viên các em tham gia đội tuyển học sinh giỏi cấp trường tạo nguồn
đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh. Vì thế, có những em học lực còn rất hạn chế,
song các em cũng hăng hái đăng ký dự thi với mong muốn được học hỏi nhiều
hơn. Kết quả là số luợng học sinh đăng ký ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm
trước. Năm học 2008-2009 là 15 em, năm học 2012-2013 là 20 em, năm học
2015-2016 là 27 em… Từ nguồn học sinh như trên, sau khi thi học sinh giỏi cấp
trường tôi tiến hành lựa chọn danh sách đội tuyển, theo thang điểm từ cao xuống
thấp và lấy từ 10 đến 12 em.
4
Ngoài ra, trong quá trình bồi dưỡng tôi còn tiếp tục thi khảo sát ít nhất hai
lần để đánh giá chính xác khả năng của từng em. Từ đó có thể lấy bổ sung thêm
hoặc loại bớt một số em không tiến bộ trong đội tuyển. Với cách làm này, trong
nhiều năm liên tục đội tuyển do tôi phụ trách đều có số lượng tối đa là 10 em dự
giúp tôi kiên trì quyết tâm hơn, vượt thoát khỏi tâm lý tự ti để khẳng định sự
bình đẳng giữa môn GDCD với các bộ môn khác và với mong muốn làm được
5
điều mà mình tâm huyết. Có nhiều hôm trong giờ nghỉ giải lao tôi đã mua bánh
mỳ, bánh quy, … để cô trò cùng ăn cho đỡ đói.
Thấu hiểu những khó khăn đó bước sang năm học 2014-2015, Ban Giám
hiệu nhà trường đã lên thời khoá biểu cho các đội tuyển được học vào các buổi
chiều thứ 3 hàng tuần. Trong các buổi dạy, lãnh đạo nhà trường thường xuyên
quan tâm, xuống lớp trao đổi động viên cả thầy và trò. Điều đó đã tạo thêm động
lực, niềm tin cho chúng tôi nỗ
lực cố gắng nhiều hơn.
Trong quá trình bồi
dưỡng, giáo viên phải thực sự
là người có “Tâm” với học sinh
đội tuyển của mình. Sự quan
tâm đó không chỉ dừng lại ở
thái độ, lời nói, kiến thức, kinh
nghiệm truyền đạt cho các em
mà còn bằng tất cả tấm lòng,
không đơn thuần là tình thầy
trò mà như một người thân
thực sự của các em. Vì thế, các
em sẵn sàng chia sẻ với tôi về
Một buổi ôn luyện của đội tuyển
mọi vấn đề trong cuộc sống.
Tôi thường đến thăm gia đình học sinh trong đội tuyển vào các dịp nghỉ lễ, sinh
nhật… đặc biệt là khi các em bị ốm phải nghỉ học, qua đó để hiểu hơn về hoàn
cảnh gia đình, điều kiện học tập cũng như sự quan tâm của các bậc phụ huynh.
đình, luật bình đẳng giới, luật khiếu nại tố cáo… đều có thể cung cấp cho học
sinh những dẫn chứng chính xác khi vận dụng vào bài làm.
2.3.3. Rèn luyện kỹ năng tự học, tự đọc tài liệu, khai thác kiến thức cho
học sinh
Để rèn luyện kỹ năng tự học, đọc tài liệu khai thác kiến thức ở từng bài
trong SGK, giáo viên cần chỉ rõ cách khai thác từng nội dung cụ thể bằng
phương pháp đi từ khái quát đến cụ thể và từ đó có sự liên hệ vận dụng trong
cuộc sống, sau đó giao nhiệm vụ để các em tự học và kiểm tra bằng các bài viết.
Ví dụ: Ở Bài 1 SGK GDCD lớp 12: Pháp luật với đời sống. Để giúp học
sinh nắm vững trọng tâm và khắc sâu kiến thức thông qua các ví dụ trong thực tế
không chỉ giúp các em dễ hiểu, dễ nhớ, nhớ lâu mà còn kiểm tra khả năng giải
quyết vấn đề bằng cách thay đổi dạng câu hỏi như: Có ý kiến cho rằng: “Ở đâu
có pháp luật ở đó không có tự do”, quan điểm của em về ý kiến trên như thế
nào? Thay cho câu hỏi: “Trình bày vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội?”
Với dạng đề này thực tế là không khó nhưng nếu học sinh không đọc SGK
và đặc biệt là các điều luật đã trích dẫn ở phần Tư liệu tham khảo thì chắc chắn
sẽ khó có câu trả lời đúng.
2.3.4. Coi trọng khâu ra đề, làm đáp án, chấm chữ và rèn luyện kỹ
năng làm bài cho học sinh
2.3.4.1. Ra đề và đáp án
7
Để rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh, giáo viên cần hiểu đây là một
công việc không dễ, đòi hỏi nhiều thời gian công sức của cả thầy và trò mới đem
lại kết như mong muốn. Bởi đa số các em sau khi được chọn vào đôị tuyển thì
điểm yếu nhất đó chính là kỹ năng làm bài, một phần là do các em học theo khối
A,B có thế mạnh ở các môn tự nhiên hơn là các môn xã hội. Vì thế giáo viên chỉ
nói hoặc nhắc nhở thôi thì chưa hẳn các em đã hiểu và khắc phục được. Do đó
8
của mỗi câu ứng với số điểm nhất định. Ví dụ câu ít điểm thì các em không cần
viết quá dài mà phải tập trung vào các ý cơ bản của câu hỏi, không được trình
bày lan man.
Trước khi các em làm đề, tôi cho các em trao đổi thông tin về các dạng đề
thi của những năm trước, qua đó giúp các em hiểu cấu trúc đề thi, kỹ năng xác
định yêu cầu của đề và phương pháp nhận dạng đề thi một cách cơ bản cũng như
kỹ năng làm bài sao cho có hiệu quả nhất. Trước khi thi 2 tháng tôi cho các em
luyện đề nhiều hơn (1 tuần/2 đề). Đối với dạng đề trắc nghiệm, bài tập tình
huống, nếu là câu hỏi yêu cầu khẳng định đúng sai thì phải khẳng định trước rồi
mới giải thích vì sao? Đối với câu hỏi giải thích vì sao thì phải giải thích rõ
trọng tâm, không lan man (hỏi gì trả lời ngay vấn đề đó, không cần dẫn dắt dài
dòng) Đối với câu hỏi tự luận tôi yêu cầu các em chú ý cách trình bày sao cho
bài viết phải có bố cục rõ ràng, lôgíc. Từ đó các em hiểu rằng, tuy bài viết của
môn GDCD không phải là một bài văn nhưng kết cấu chỉnh thể của nó cũng
phải theo trình tự như vậy.
Ngoài ra, tôi còn ra đề cho các em tự học ở nhà. Theo tôi nếu các em
nghiên cứu tài liệu hoặc thảo luận để làm bài cũng là hình thức để các em ôn
vững kiến thức Vì vậy, tôi quán triệt tinh thần với các em rằng: trước khi làm bài
các em phải đọc hết đề, nếu thấy phần kiến thức nào mình chưa nắm vững, chưa
rõ, chưa thuộc, thì đem sách, tài liệu ra đọc cho thuộc. Sau đó, gấp sách lại và
làm theo cách hiểu của mình.
Tóm lại, để rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh cần thực hiện tốt 3
bước cơ bản sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh phải xác định được dạng đề bài và yêu cầu của
từng câu hỏi, kể cả các dạng câu hỏi ẩn thì học sinh phải biết phân tích đề để
tránh lạc đề.
- Bước 2: Yêu cầu học sinh lập dàn ý sơ lược cho từng câu hỏi trong đề thi,
đáp án. Khi trả bài tôi dành thời gian nhất định để nhận xét cụ thể ưu, nhược
điểm của từng em. Có những em tôi đã phải chữa và gạch đỏ cả bài. Mục đích
là rèn luyện cho các em cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận trong bài
như thế nào. Và yêu cầu các em về nhà làm lại và khắc phục ngay nhược điểm
đó, hôm sau tôi thu lại kiểm tra để thấy được sự tiến bộ của các em.
Nếu chấm trả, phát đáp án mà không kiểm tra lại thì các em sẽ chủ quan
không học thuộc mà chỉ đọc qua. Cho nên, tôi đã kiểm tra lại bằng cách ra lại
câu hỏi cũ xem các em có làm đúng như đáp án đã phát không? Những bài đầu
tiên các em làm rất kém, điểm thấp, thậm chí còn sai kiến thức cơ bản và cao
nhất chỉ đạt 10/20 điểm. Đến những bài sau, kỹ năng làm bài của các em tiến bộ
rõ rệt… các em viết chắc kiến thức và biết cách trình bày, không còn lan man
thiếu ý như trước.
Trong các buổi ôn luyện hàng tuần, ngoài hình thức kiểm tra viết, tôi còn
tiến hành kiểm tra vấn đáp các em đối với mảng kiến thức cần phải thuộc nhớ,
qua đó đánh giá thực lực của các em, đồng thời có thể giải đáp những thắc mắc
mà các em đưa ra… Tôi đã làm như sau:
Bước 1: Nêu câu hỏi
10
Bước 2: Gọi HS lên bảng xác định yêu cầu câu hỏi và trả lời đáp án
Bước 3: Gọi HS khác nhận xét, bổ sung
Buớc 4 : Giáo viên kết luận và cho điểm
2.3.5. Phân loại học sinh trong quá trình bồi dưỡng
Đây là khâu khá quan trọng trong quá trình bồi dưỡng vì có phân loại được
học sinh thì giáo viên mới có thể có phương pháp phù hợp với khả năng của
từng em và các em mới có khả năng đạt được kết quả như mong muốn. Sau đó
lập bảng theo dõi ghi chép cẩn thận vào sổ (Nhật ký dạy đội tuyển) của mình để
chỉ cho các em thấy được các em đã khắc phục nhược điểm ở những bài sau như
thế nào.
quyết định chän em vào danh sách dự thi. Tôi giao nhiệm vụ cho em từng bước
phải cải thiện chữ viết và cách trình bày bài của mình qua mỗi bài kiểm tra ở lớp
cũng như ở nhà, tôi còn kiểm tra vở ghi trên lớp thường xuyên để nhắc nhở em
sửa lỗi. Và sau hai tháng ôn tập, nhược điểm đó đã đựợc đẩy lùi, điều vui hơn đó
là trong kú thi cấp Tỉnh em đã đạt giải nhất với số điểm rất cao: 18.5 điểm.
Từ thực tế đó tôi nhận thấy, phát hiện chính xác khả năng và phân loại đúng
học sinh càng sớm càng tốt. Phân loại học sinh chủ yếu dựa vào khả năng quan
sát, tiếp cận trong quá trình bồi dưỡng và giảng dạy trên lớp của giáo viên.
Ngoài ra, qua hệ thống trả lời câu hỏi vấn đáp trực tiếp hoặc bài kiểm tra viết.
Đối với những em có khả năng nhớ chậm, khái quát vấn đề còn hạn chế, giáo
viên cần khoanh vùng kiến thức và nhắc trước cho các em có sự chuẩn bị để các
em có thể tự tin trong quá trình học. Đối với học sinh có khả năng tư duy tốt, tôi
sẽ đưa ra yêu cầu cao hơn. Để đánh giá, theo dõi mức độ tiến bộ của các em,
sau mỗi lần kiểm tra, tôi căn cứ vào điểm để chia các em theo nhóm, thông
thường là 3 đến 4 nhóm. Chẳng hạn nhóm 1 là những em có số điểm cao nhất, ít
nhược điểm. Nhóm 2, 3, 4 tương tự như vậy xét theo điểm từ cao xuống thấp.
Đồng thời lập bảng thống kê ghi rõ ưu, nhược điểm của từng em qua bài kiểm
tra. Qua việc lập bảng theo dõi như trên, giáo viên sẽ rút ra được một số lỗi phổ
biến thường gặp ở tất cả các em. Ngoài ra, qua đó các em sẽ biết được mình
đang ở vị trí nào để nỗ lực cố gắng nhiều hơn. Tất nhiên, chỗ đứng của các em
sẽ liên tục thay đổi qua các bài kiểm tra. Điều này sẽ tạo được không khí thi đua
lẫn nhau trong đội tuyển, đối với những em được xếp ở tốp đầu phải thường
xuyên cố gắng thì mới giữ được thứ hạng cao mà mình đã có, còn một số em
xếp cuối chắc chắn phải phấn đấu vươn lên.
2.3.6. Tăng cường trao đổi, giao lưu, lắng nghe ý kiến phản hồi từ học sinh
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn tạo nhiều cơ hội cho học sinh được bày
tỏ ý kiến và trao đổi thông tin với giáo viên để từ đó biết được các em đang cần
gì, thiếu gì? Chẳng hạn, sau mỗi buổi học thỉnh thoảng tôi thường trao đổi với
các em rất thân mật gần gũi với các câu hỏi thăm dò như: Theo các em phương
pháp dạy của cô như thế được chưa, các em có hiểu không?...
và trò do chính các em quyết định, vì thế cần
phải có quyết tâm cao để chứng minh rằng: Thi GDCD không dễ và để đạt được
kết quả cao như các môn khác cũng là điều không đơn giản. Ngoài ra để động
viên các em, tôi còn treo giải thưởng cho em nào đạt hoặc vượt chỉ tiêu cô yêu
cầu. Tất nhiên, không phải em nào cũng được kết quả như mong muốn, nhưng ít
nhất các em đã biết được mục tiêu của mình là gì để bước vào kỳ thi với tâm lý
tự tin và quyết tâm cao nhất.
2.3.8. Tranh thủ sự đồng thuận của các lực lượng giáo dục trong và
ngòai nhà trường
Trong thực tế có người cho rằng, bồi dưỡng học sinh giỏi là trách nhiệm
của đồng chí giáo viên được nhà trường phân công. Điều đó chỉ đúng một phần
nhất định. Vì để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả cao phải có sự hỗ
trợ đắc lực của các đồng chí giáo viên trong tổ chuyên môn, sự chỉ đạo sát sao
13
của Ban giám hiệu, sự quan tâm đồng tình, động viên khích lệ của phụ huynh
học sinh và các giáo viên trong trường tạo điều kiện giúp đỡ.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường THPT Đông Sơn I trong
những năm gần đây liên tục đạt kết quả cao, trước hết là có đường lối chỉ đạo
đúng đắn của BGH nhà trường, sự quan tâm, tạo điều kiện thực sự cho giáo viên
dạy đội tuyển. Trong những buổi dạy đội tuyển BGH luôn kiểm tra sát sao, động
viên thày và trò. Trong năm học 2015-2016 nhà trường đã tạo lập được quỹ hỗ
trợ cho giáo viên dạy đội tuyển. Khác với trước đây, đội tuyển do một cá nhân
phụ trách, nhưng hiện nay giao trách nhiệm cho tổ trưởng chuyên môn và các
giáo viên khác cùng cộng đồng trách nhiệm, phối hợp dạy hỗ trợ lẫn nhau. Để có
sự đồng thuận và nhất trí giữa nhà trường và gia đình, sau khi học sinh làm
tham gia đội tuyển chính thức, nhà trường tổ chức họp phụ huynh các đội tuyển
để trao đổi, từ đó sự quan tâm của phụ huynh được tăng lên. Đến ngày chuẩn bị
2010- 2011
2012-2013
2015-2016
Tổng
8/10
4/5
5/5
17/20
Số HS đạt giải
Nhất
1
1
Nhì
Ba
Khuyến
khích
1
2
3
1
3
hiện tôi đã áp dụng 8 giải pháp trên nhưng chắc chắn vẫn còn một số giải pháp
khác chưa áp dụng, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng
nghiệp để công tác bồi dưỡng HSG bộ môn ngày càng đạt kết quả cao hơn.
3. 2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với Bộ GD&ĐT
- Nên đưa môn GDCD vào chương trình thi tốt nghiệp THPT để đảm bảo
yêu cầu: “Học gì thi ấy”.
3.2.2. Đối với Sở GD&ĐT
- Cần có tài liệu hướng dẫn ôn thi học sinh giỏi môn GDCD để tạo điều
kiện cho giáo viên ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi.
- Nên tổ chức các đợt hội thảo chuyên đề báo cáo kinh nghiệm về công tác
bồi dưỡng HSG để GV có điều kiện học hỏi lẫn nhau.
3.2.3. Đối với các trường THPT
- Quan tâm, có chế độ ưu đãi thực sự xứng đáng đối với giáo viên bồi
dưỡng đội tuyển học sinh giỏi.
- Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để đầu tư nhiều hơn về điều kiện vật
chất, kinh phí cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong các nhà trường.
- Không ngừng yêu cầu giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng
lực chuyên môn, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy để phát huy tốt năng
lực học của trò và năng lực sư phạm của thầy.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Đông Sơn, ngày 15/5/2016
Tôi cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Nguyễn Thị Thuận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
1. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài..................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu............................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu:.........................................................................1
1.4. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................1
2. NỘI DUNG.......................................................................................................2
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm............................................2
2.2. Thực trạng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môi Giáo dục
công dân trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm........................................2
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết..............................................3
2.3.1 Thành lập đội tuyển...............................................................................................3
2.3.2. Xây dựng kế hoạch, sử dụng phương pháp bồi dưỡng đội tuyển một cách khoa
học, đúng hướng và có hiệu quả.................................................................................................6
2.3.3. Rèn luyện kỹ năng tự học, tự đọc tài liệu, khai thác kiến thức cho học sinh.......7
2.3.4. Coi trọng khâu ra đề, làm đáp án, chấm chữ và rèn luyện kỹ năng làm bài cho
học sinh.......................................................................................................................................7
2.3.5. Phân loại học sinh trong quá trình bồi dưỡng.....................................................11
2.3.6. Tăng cường trao đổi, giao lưu, lắng nghe ý kiến phản hồi từ học sinh..............12
2.3.7. Yêu cầu cao và giao nhiệm vụ cho học sinh......................................................13
2.3.8. Tranh thủ sự đồng thuận của các lực lượng giáo dục trong và ngòai nhà trường
...................................................................................................................................................13
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm................................................14
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................................16
3.1. Kết luận...............................................................................................16
3. 2. Kiến nghị............................................................................................16
3.2.1. Đối với Bộ GD&ĐT...........................................................................................16
3.2.2. Đối với Sở GD&ĐT...........................................................................................16
3.2.3. Đối với các trường THPT...................................................................................16